Chương 1
Câu 1: Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với sự ra đời của Đảng CSVN
3/2/1930?
M: Chủ Tịch Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế
giới, vị lãnh tụ kính yêu của cả dân tộc Việt Nam. Người đã gắn bó cả cuộc đời mình cho
sự nghiệp cách mạng nước nhà, cả cuộc đời vì nước vì dân. Có thể nói ít có ai có tấm
lòng yêu nước thương dân vô bờ bến như Người. Đối với sự nghiệp cách mạng nước nhà,
Người có công lao vô cùng to lớn và đã đi vào lịch sử dân tộc với những trang sử hào
hùng, chói lọi nhất.
Ngày 5/6/1911 tại Bến cảng Nhà Rồng chàng thanh niên Nguyễn Aí Quốc lấy tên
là Nguyễn Tất Thành đã bắt đầu cuộc hành trình của mình.
Khác với những thanh niên cùng trang lứa đều chọn Nhật Bản làm nơi dừng chân
thì Nguyễn Aí Quốc lại hướng tầm nhìn của mình về các nước phương Tây, trong đó có
Pháp. Sỡ dĩ Người chọn phương Tây làm nơi đến vì Người muốn tìm hiểu xem nước
Pháp và các nước khác làm thế nào để trở về giúp đỡ đồng bào mình, hơn nữa Người
cũng muốn biết nước Pháp là một tên đế quốc như thế nào mà lại sang xâm lược nước ta
và theo người muốn đánh thắng giặc Pháp xâm lược thì cần phải tìm hiểu rõ về chúng, “
biết địch biết ta trăm trận trăm thắng”
T: Trong những năm đầu hoạt động cách mạng cho đến 1930. Nguyễn Aí Quốc đã
có vai trò rất lớn đối với sự thành lập của Đảng CSVN. Vai trò đó được thể hiện ở các
mặt sau đây:
- Khi rời Tổ Quốc. Người đã đi đến rất nhiều nước trên thế giới ở cả Châu Âu,
Châu Mỹ, Châu Phi nhưng ở đâu Người cũng hòa mình với cuộc sống của những người
dân lao động cho nên Người rất thấu hiểu nỗi khổ của họ.
Năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp, chọn Pari làm điểm dừng chân hoạt động.
Tại đây, hoạt động đầu tiên của Người là đấu tranh đòi cho binh lính và thợ thuyền Việt
Nam được sớm hồi hương trở về với gia đình.
Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã Hội Pháp, một đảng tiến bộ chủ trương
chống lại các chính sách áp bức bóc lột của thực dân Pháp ở các nước thuộc địa. Tháng 6
năm 1919, tại Hội nghị Vecsxai ở Pháp, Nguyễn Aí Quốc gửi tới Hội nghị Bản yêu sách
của nhân dân Việt Nam để tố cáo chính sách của thực dân Pháp và đòi chính phủ Pháp
định mọi vấn đề của phong trào cách mạng Đông Dương. Người quyết tâm thống nhất
các lực lượng cộng sản ở Việt Nam để thành lập một Đảng cộng sản duy nhất.
Thứ năm, Nguyễn Ái Quốc là người soạn thảo Bản Chính cương vắn tắt và Sách
lược vắn tắt của Đảng khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam “ là đội tiên phong của vô
sản giai cấp”. Đảng chủ trương tiến hành “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách
mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Cùng với đó Điều lệ vắn tắt cũng được thông qua.
Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do lãnh tụ Nguyễn Aí Quốc khởi thảo và
thông qua tại Hội nghị đã vạch ra phương hướng phát triển cơ bản của cách mạng Việt
Nam, từ cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách mạng XHCN. Đường lối đó là kết
quả của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản,
giữa tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Những văn kiện
đó được xem là cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặt nền móng vững
chắc cho con đường cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
K: Như vậy, có thể nói rằng công lao của Nguyễn Aí Quốc đối với cách mạng
Việt Nam là rất lớn, nhất là giai đoạn trước năm 1930. Nguyễn Aí Quốc là người đã tìm
ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc – con đường cách mạng vô sản; tích cực
truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào nước ta nhằm chuẩn bị mọi mặt về tư tưởng chính
trị cho việc thành lập chính đảng vô sản ở Việt Nam, đặc biệt chính Người đã chủ trì Hội
nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam để thành lập nên Đảng Cộng sản Việt
Nam đồng thời xác định đúng đắn đường lối cách mạng, thể hiện trong Chính cương vắn
tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng do Người khởi
thảo. Đó dược xem là cương lĩnh cách mạng đúng đắn của Đảng có tác dụng chỉ đạo
xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này
đến thắng lợi khác.
Nội dung của cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng:
• Phương hướng chiến lược: làm CM tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi
tới XH Cộng Sản.
– Cách mạng TS dân quyền là cách gọi của cuộc CM dân tộc dân chủ nhân dân.
– Hai nhiệm vụ chính là: Đánh đế quốc (nhiệm vụ dân tộc) và đánh phong kiến
(nhiệm vụ dân chủ).
diễn ra đầu thế kỷ XX.
– Tập hợp được sức mạnh toàn dân tộc.
– Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
¬ Mở ra con đường và phương hướng phát triển mới phù hợp với đất nước VN,
phù hợp với sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ XH.
Chương 2
Câu 2: Phân tích ưu, nhược điểm của Luận Cương tháng 10/1930 so với
Cương lĩnh chính trị đầu tiên
Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời là một tất yếu của lịch sử, là một bước ngoặt vĩ
đại của cách mạng Việt Nam. Để xác lập đường lối, chiến lược, sách lược cơ bản của
cách mạng Việt Nam và tôn chỉ mục đích, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng
cộng sản Việt Nam, cương lĩnh chính trị đã được vạch ra. Tại hội nghị thành lập Đảng từ
ngày 3-7/2/1930 ở Hương Cảng – Trung Quốc, các đại biểu đã nhất trí thông qua Chính
cương vắn tắt, Sách lược văn tắt và Chương trình tóm tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo.
Các văn kiện đó hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta - Cương lĩnh Hồ
Chí Minh. Sau đó, tháng 10.1930 cũng tại Hương Cảng - Trung Quốc Ban chấp hành
Trung ương họp Hội nghị lần thứ nhất đã thông qua Luận cương chính trị do đồng chí
Trần Phú soạn thảo.
Về ưu điểm, Luận Cương tháng 10/1930 có phương hướng cách mạng, phương
pháp cách mạng, lãnh đạo cách mạng và quan hệ quốc tế được khẳng định lại và làm sáng
tỏ hơn so với Cương lĩnh chính trị đầu tiên.
- Phương hướng cách mạng: Ở Cương lĩnh chính trị là Tiến hành “tư sản dân
quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Còn Luận cương tháng
10: Cách mạng Đông Dương lúc đầu là cách mạng tư sản dân quyền, sau đó tiến thẳng
lên xã hội chủ nghĩa, bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa .
- Phương pháp cách mạng: “Bạo lực chứ không cải lương” là phương pháp cách
mạng của Cương lĩnh chính trị đầu tiên. Nó được làm rõ hơn ở Luận Cương tháng 10: Võ
trang bạo động để giành chính quyền là một nghệ thuật, “phải tuân theo khuôn phép nhà
binh”.
đạo cách mạng Việt Nam”.
Nguyên nhân của những mặt khác nhau chủ yếu là do Luận cương chính trị chưa
tìm ra và nắm vững những đặc điểm của xã hội thuộc địa, nửa phong kiến VN. Ngoài ra
do nhận thức một cách giáo điều máy móc về vấn đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng
ở thuộc địa, chịu ảnh hưởng trực tiếp khuynh hướng tả của Quốc tế Cộng sản và một số
Đảng Cộng Sản trong thời điểm đó.
Tóm lại, Luận cương đã thể hiện là một văn kiện tiếp thu được những quan điểm
chủ yếu của Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt, xác định được
nhiệm vụ nòng cốt của cách mạng. Tuy nhiên, Luận cương cũng có những mặt hạn chế
nhất định: Sử dụng một cách dập khuôn máy móc chủ nghĩa Mác-Lênin vào cách mạng
Việt Nam, còn quá nhấn mạnh đấu tranh giai cấp. Còn Cương lĩnh chính trị tuy còn sơ
lược vắn tắt nhưng nó đã vạch ra phương hương cơ bản của cách mạng nước ta, phát triển
từ cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh thể
hiện sự vận dụng đúng đắn sáng tạo, nhạy bén chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ
thể của Việt Nam kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản,
giữa tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản và thực tiễn cách mạng Việt Nam, nó phù hợp với
xu thế phát triển của thời đại mới, đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử.
Hai cương lĩnh trên cùng với sự thống nhất về tổ chức có ý nghĩa hết sức to lớn
cùng với sự ra đời của Đảng ta, là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có tính chất quyết định cho
những bước phát triển nhảy vọt trong tiến trình lịch sử của dân tộc ta. Chúng là nền tảng
cho những văn kiện nhằm xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận, tư tưởng.
Chương 3
Câu 3: Hoàn cảnh lịch sử của nước ta sau Cách mạng tháng Tám 1945. Đảng
ta đã có đường lối như thế nào?
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là cuộc cách mạng giải phóng dân
tộc đầu tiên trên thế giới do giai cấp công nhân lãnh đạo giành được thắng lợi, góp phần
cùng Đồng minh dân chủ quốc tế đánh bại chủ nghĩa phát-xít, kết thúc cuộc chiến tranh
thế giới lần thứ hai, đem lại hòa bình cho toàn thể nhân loại. Cách mạng Tháng Tám còn
góp phần tích cực vào phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa, mở đầu cho kỷ nguyên
độc lập, tự do của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.
Mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược”.
- Về phương hướng, nhiệm vụ: “Củng cố chính quyền chống thực dân Pháp xâm
lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân”. Đảng chủ trương kiên trì nguyên
tắc thêm bạn bớt thù, thực hiện khẩu hiệu “Hoa – Việt thân thiện” với Tưởng Giới Thạch,
“Độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế” với Pháp.
Đường lối của Đảng trong giai đoạn này rấ gay go, quyết liệt trên tất cả các lĩnh
vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, ngoại giao và đã giành được những kết quả to
lớn.
- Về chính trị - xã hội: Xây dựng nền móng cho một chế độ xã hội mới.
- Về kinh tế, văn hóa: Phát động phong trào tăng gia sản xuất, cứu đói, xóa bỏ các
thứ thuế vô lý của chế độ cũ, xây dựng ngân quỹ quốc gia. 1946 Giấy bạc cụ Hồ được
phát hành, xóa bỏ nhiều tệ nạn xã hội và tập tục lạc hậu.
- Về bảo vệ chính quyền cách mạng: Kịp thời lãnh đạo nhân dân Nam Bộ đứng lên
kháng chiến và phát động phong trào Nam tiến chi viện Nam Bộ, năn không cho quân
Pháp đánh ra Trung Bộ. Ở miền Bắc lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù hòa với
Tưởng va tay sai giữ vững chính quyền, tập trung lực lượng chống Pháp ở Miền Nam.
Sau đó hòa với Pháp đuổi Tưởng về nước.
Ngoài ra Đảng còn phát động nhiều chương trình cứu đói. Biện pháp trước mắt là
tuần lễ vàng, ngày đồng tâm, hũ gạo cứu đói… Biến pháp lâu dài là chia ruộng đất cho
người dân, tăng gia sản xuất, tấc đất tấc vàng Để giúp người dân xóa nạn mù chữ Đảng
cũng đề ra “Bình dân học vụ”.
Ý nghĩa: Với những chiến lược đúng đắn Đảng ta đã làm thất bại âm mưu của các
nước Đế quốc, bảo vệ nền độc lập của đất nước, giữ vững chính quyền cách mạng; xây
dựng nền móng đầu tiên và cơ bản cho một chế độ mới, chuẩn bị những điều kiện cần
thiết, trực tiếp cho cuộc kháng chiến toàn quốc sau đó.
Câu 4: Hoàn cảnh lịch sử của nước ta trong kháng chiến chống Mỹ (1954 –
1964). Đường lối kháng chiến giai đoạn mới
Bối cảnh nước ta sau tháng 7/1954
- Thuận lợi:
+ Ba dòng thác cách mạng ngày càng lớn mạnh.
- Mối quan hệ của cách mạng hai miền: quan hệ chặt chẽ, Miền Bắc là hậu phương
lớn, miền Nam là tiền tuyến lớn.
- Con đường thống nhất đất nước: kiên trì con đường hòa bình, sẵn sàng vũ trang
đối phó mọi tình thế.
- Triển vọng của cm VN: Thắng lợi cuối cùng nhất định thuộc về nhân dân ta,
Nam Bắc nhất định sum họp một nhà.
Ý nghĩa đường lối: Tài liệu trang 104.
Câu 5: Hoàn cảnh lịch sử của nước ta trong kháng chiến chống Mỹ (1965 –
1975). Đường lối kháng chiến chống Mỹ.
Từ đầu 1965 để cứu vãn nguy cơ sụp đổ của chế độ Sài Gòn và sự phá sản của
chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Mỹ đưa quân ào ạt vào miền Nam đồng thời dùng
không quân, hải quân tiến hành chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Đảng ta đã quyết định
phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ trên phạm vi toàn quốc.
- Thuận lợi:
+ Cách mạng thế giới đang ở thế tiến công.
+ Miền bắc đạt được những thành tựu từ kế hoạch 5 năm, là hậu phương vững
chắc cho miền Nam.
+ Miền Nam vượt qua những khó khăn và có bước phát triển mới.
- Khó khăn:
+ Sự bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc ngày càng gay gắt không có lợi cho
cách mạng VN.
+ Mỹ ồ ạt đưa quân làm tăng cường sự tương quan lực lượng.
Trước hành động gây “chiến tranh cục bộ” ở Miền Nam và chiến tranh phá hoại ở
Miền Bắc, Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (3/1965) và lần thứ 12 (tháng 12/1965) đã đề
ra đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên cả nước:
- Phương châm chỉ đạo chiến lược: Đẩy mạnh chiến tranh nhân dân chống chiến
tranh cục bộ của Mỹ ở miền Nam, phát động chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá
hoại ở Miền Bắc, thực hiện kháng chiến lâu dài dựa vào sức mình là chính. Tranh thủ
thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền
Nam.
nghiệp hóa cũng góp phần rất lớn vào sự phát triển của đất nước.
Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) chỉ ra những sai lầm trong nhận thức và chủ
trương công nghiệp hóa trong thời kì trước đây. Chúng ta đã sai lầm trong việc xác định
mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, cái tạo XHCN và quản lý kinh
tế… Trong việc bố trí cơ cấu kinh tế thiên về công nghiệp nặng, đầu tư nhiều nhưng hiệu
quả thấp. Chưa coi nông nghiệp mà mặt trận hàng đầu, công nghiệp nặng không phục vụ
kịp thời nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.
Hội nghị Trung ương lần thứ VII (tháng 1/1994) đã có bước đột phá mới trong
nhận thức về khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là
quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện” từ một nước có nền kinh tế lạc hậu trở thành
một nước công nghiệp. Sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ
biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại
dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao
động xã hội cao.
Đại hội VIII của Đảng (6/1996) khẳng định nơpcs ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh
tế - xã hội, cho phép nước ta chuyển sang thời kì mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. Đống thời nêu lên 6 quan điểm CNH.
Đại hội IX (4/2001), Đại hội X (4/2006) và Đại hội XI (1/2011) của Đảng bổ sung
và nhấn mạnh một số điểm mới về mục tiêu, con đường CNH rút ngắn ở nước ta. Công
nghiệp hóa , hiện đại hóa gắn liền với kinh tế tri thức và phát triển bền vững.
+ CNH ở nước ta có thể cần rút ngắn t/gian so với các nước đi trước. Muốn vậy
chúng ta phải có bước đi tuần tự vừa có bước tiến nhảy vọt.
+ Phát triển nhanh, hiệu quả các sp đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
+ Đẩy nhanh CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Mục tiêu CNH – HĐH:
Mục tiêu cơ bản là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất
– kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kt hợp lý, quan hệ sx tiến bộ, phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh
vững chắc, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Quan điểm CNH – HĐH:
từ nhận thức kinh tế thị trường chỉ như một công cụ, một cơ chế quản lý đến nhận thức
coi kinh tế thị trường như một chỉnh thể, là cơ sở kinh tế của sự phát triển theo định
hướng XHCN.
Ưu điểm của kinh tế thị trường là tạo điều kiện cho ai cũng có thể phát triển, phát
huy sức mạnh sáng tạp của mình, thị trường có tính năng động cao.
Khuyết điểm: Tính cạnh tranh cao, phân hóa giàu nghèo, cạnh tranh không lành
mạnh và nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng khi có khủng hoảng kinh tế xảy ra.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN không phải là một nền kinh tế tự nhiên, tự
cấp, tự túc, cũng không phải là một nền kinh tế tự do theo các nước TBCN, cũng như
chưa hoàn toàn là nền kinh tế thị trường XHCN. Đó là một hình thức tổ chức kinh tế vừa
tuân theo quy luận của kinh tế thị trường, vừa phải dựa trên cơ sở dẫn dắ chi phối bởi
những nguyên tắc và bản chất của XHCN.
Đây là nền kinh tế thị trường có tổ chức, có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự
quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, được nhân dân đồng tình và là chủ
thể xây dựng; không phải là sự gán ghép khiên cưỡng, chủ quan giữa kinh tế thị trường
và chủ nghĩa xã hội, mà là sự nắm bắt và tự giác vận dụng sáng tạo xu thế vận động
khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay, tiếp thu có chọn lọc thành tựu
của nền văn minh nhân loại, sử dụng và phát huy cao độ vai trò tích cực của kinh tế thị
trường, đồng thời hạn chế tối đa những khuyết tật của tính tự phát trong kinh tế thị
trường, nhằm thực hiện có kết quả mục tiêu từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, để
Việt Nam có thể hội nhập thế giới, rút ngắn quá trình CNH, HĐH, sớm trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đây cũng là thể hiện sự kiên định mục tiêu độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, là kết quả của sự vận dụng sáng
tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của
Đảng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quan hệ sản xuất không
ngừng được đổi mới và hoàn thiện, phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, nhằm giải phóng triệt để và thúc đẩy phát triển mạnh lực lượng sản xuất,
cải thiện nhanh đời sống của nhân dân, tạo ra sự đồng thuận ngày càng cao trong xã hội,
tạo động lực thu hút mạnh mọi nguồn lực trong và ngoài nước đầu tư cho phát triển, và
nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội;
củng cố, duy trì và phát triển chế độ chính trị phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương xây dựng hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị dân chủ nhân dân (giai đoạn 1945 – 1954)
Cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra
đời đánh dấu sự hình thành ở nước ta một hệ thống chính trị cách mạng với các đặc trưng
sau đây:
- Có nhiệm vụ thực hiện đường lối cách mạng “Đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược,
giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc, xoá bỏ những di tích phong kiến và nửa
phong kiến làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở
cho chủ nghĩa xã hội”. Khẩu hiệu “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết” là cơ sở tư tưởng
cho hệ thống chính trị giai đoạn này.
Dựa trên nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc hết sức rộng rãi: không phân biệt
giống nòi, giai cáp, tôn giáo, ý thức hệ, chủ thuyết; không chủ trương đấu tranh giai cấp.
Đặt lợi ích của dân tộc là cao nhất.
- Có một chính quyền tự xác định là công bộc của dân, coi dân là chủ và dân làm
chủ, cán bộ sống và làm việc giản dị, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
- Vai trò lãnh đạo của Đảng (từ tháng 11 năm 1945 đến tháng 2 năm 1951) được
ẩn trong vai trò của Quốc hội và Chính phủ, trong vai trò của cá nhân Hồ Chí Minh và
các đảng viên trong Chính phủ.
- Có một Mặt trận (Liên Việt) và nhiều tổ chức quần chúng rộng rãi, làm việc tự
nguyện, không hưởng lương và không nhận kinh phí hoạt động từ nguồn ngân sách Nhà
nước, do đó không có điều kiện công chức hóa, quan liêu hoá.
- Cơ sở kinh tế chủ yếu của hệ thống chính trị dân chủ nhân dân là nền sản xuất tư
nhân hàng hoá nhỏ, phân tán, tự cấp, tự túc; bị kinh tế thực dân và chiến tranh kìm hãm,
chưa có viện trợ. – Đã xuất hiện (ở một mức độ nhất định) sự giám sát của xã hội dân sự
đối với Nhà nước và Đảng; sự phản biện giữa hai đảng khác (Đảng Dân chủ và Đảng xã
hội) đối với Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhờ đó đã giảm thiểu rõ rệt các tệ nạn thường
thấy phát sinh trong bộ máy công quyền.
Hệ thống chuyên chính vô sản (giai đoạn 1955 – 1975 và 1975 – 198
đạo của hệ thống chính trị, là đảng duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội. Trong lịch sử
lập hiến của Việt Nam, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và hệ thống
chính trị luôn được thể hiện trong các bản Hiến pháp.
Điều 4 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) tiếp tục khẳng định: Đảng
cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung
thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ
nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
– Nội dung sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và xã hội đã được đề ra cụ thể
từ Đại hội Đảng lần VI và được tiếp tục khẳng định tại Đại hội Đảng 7, 8, 9, 10 gồm:
+ Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách lớn định hướng cho sự phát triển
của toàn xã hội trong từng thời kỳ phát triển trên tất cả các lĩnh vực.
+ Đảng vạch ra những phương hướng và nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho việc
xây dựng và hoàn thiện Nhà nước, củng cố và phát triển hệ thống chính trị, thiết lập hệ
thống dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
+ Đảng đề ra những quan điểm và chính sách về công tác cán bộ, phát hiện, lựa
chọn, bồi dưỡng những Đảng viên ưu tú và những người ngoài Đảng có phẩm chất và
năng lực giới thiệu với các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội thông qua cơ
chế bầu cử, tuyển chọn để bố trí vào làm việc trong các cơ quan nhà nước và tổ chức
chính trị xã hội.
+ Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình thông qua các Đảng viên và tổ chức Đảng
bằng cách giáo dục Đảng viên nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu, qua đó tập hợp
giáo dục và động viên quần chúng tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, ủng hộ và
tích cực thực hiện đường lối chính sách của Đảng, tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh
pháp luật của nhà nước.
+ Đảng thực hiện công tác kiểm tra việc chấp hành và tổ chức thực hiện đường lối,
chính sách, nghị quyết của Đảng đối với các Đảng viên, tổ chức Đảng, các cơ quan nhà
nước và tổ chức xã hội, phát hiện và uốn nắn kịp thời những sai lầm, lệch lạc. Đồng thời
Đảng tiến hành tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm để không ngừng bổ sung và hoàn
thiện các đường lối, chính sách trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Thực tiễn cách mạng cũng là minh chứng chính xác cho chế độ một Đảng ở nước
ta. Trong lúc đất nước còn chập chững, còn trong chiến tranh loạn lạc, VN đã từng có rất
nhiều Đảng như Đảng Dân Chủ, Đảng Xã Hội. Nhưng là chỉ có Đảng Cộng Sản mới đủ
sức dẫn dắt Việt Nam thoát khỏi ách nô lệ, thoát khỏi số phận bị áp bức bóc lột thành một
quốc gia có nền độc lập, tự chủ.
Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng và nhân dân
Việt Nam là sự lựa chọn của lịch sử.
- Chúng ta không thể lấy lý thuyết và thực tiễn chính trị của các nước châu Âu
(Anh, Pháp, Ý, Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy…) hay Mỹ để áp dụng cho Việt Nam, bởi
vì các nước đó có hoàn cảnh lịch sử-xã hội khác xa với Việt Nam. Xét về đặc điểm xã
hội, đa số các nước châu Âu đều không phải là các nước đa dân tộc, đa văn hoá, đa tôn
giáo, vì vậy các mâu thuẫn xã hội ít phức tạp; xét về mặt lịch sử, hệ thống chính trị đa
nguyên ở các nước đó đã xuất hiện cách đây hàng trăm năm và đã trải qua những thời kỳ
sóng gió để đạt được trình độ như ngày nay.
- Các nước có hoàn cảnh tương tự như Việt Nam (dân số đông, đa dân tộc, đa tôn
giáo, cơ cấu xã hội phức tạp, các mâu thuẫn do lịch sử để lại còn căng thẳng) lựa chọn
con đường đa nguyên về chính trị chỉ làm cho tình hình chính trị xã hội thêm phức tạp và
vì vậy không có điều kiện để tập trung sức lực và trí tuệ phát triển kinh tế và thực hiện
các cải cách dân sinh khác.
Thực tế sân khấu chính trị của các nước như Philippin, Indonesia, Thái Lan,
Pakistan, Myanmar… (và cả ở các nước khác ngoài châu Á, như Chi Lê, Venezuela,
Peru, Bolivia v.v…) mấy chục năm vừa qua và đến nay khả năng khủng khoảng như vậy
vẫn tiềm ẩn ở các nước trên (vụ đảo chính từng xảy ra ở Philippin là một ví dụ). Và cái
chu trình dân chủ > (hỗn loạn) > độc tài (quân sự) > dân chủ >… cứ lặp đi lặp lại… và để
đạt đến một trình độ dân chủ kiểu như hiện nay, các nước đó đã mất vài chục năm. Như
vậy, nếu Việt Nam lựa chọn con đường đa nguyên ở thời điểm hiện nay thì lấy gì để đảm
bảo Việt Nam không lặp lại con đường “dân chủ” mà các nước đó đã đi qua và phải mất
mấy chục năm nữa mới có được một chế độ dân chủ kiểu như Thái Lan và để có nó Việt
Nam phải trả giá bằng sự bất ổn về mặt xã hội và chậm phát triển về mặt kinh tế - xã hội
do không ổn định về mặt chính trị như thế nào?
Một thực tế đáng buồn đang tồn tại hiện nay là nền văn hóa Việt Nam vô cùng
hỗn tạp. Bắt đầu không mấy vui vẻ nhưng cần thiết phải nhìn thẳng vào vấn đề để soi xét.
Bước vào hội nhập, Việt Nam có nhiều cơ hội giao lưu, học hỏi từ các nền văn
minh trên thế giới để từ đó tiếp thu, tích lũy được những gì là tiên tiến, hiện đại để áp
dụng vào trong nước và đưa đất nước phát triển nhưng bên cạnh đó cũng gặp phải không
ít khó khăn, thách thức.
Hiện nay trào lưu văn hóa từ các nước du nhập vào nước ta khá phổ biến và ít
nhều ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục Việt Nam. Mới đây văn hóa Hàn Quốc tràn
ngập vào trong nước biểu hiện khá rõ nét: Đầu tiên phải nói đến là ẩm thực Hàn Quốc,
Nhật Bản hàng loạt những nhà hàng, quán ăn mang đậm màu sắc ẩm thực xứ sở Kim chi
mọc lên “như nấm” trên các con phố của các thành phố lớn, đặc biệt là Hà Hội và thành
phố Hồ Chí Minh, hay kể cả Cần Thơ
Không chỉ về lĩnh vực ẩm thực mà cả về thời trang, âm nhạc hay cả về cách ứng
xử người Việt cũng bị hòa tan rất nhiều. Vậy làm thế nào để Việt Nam có thể hòa nhập
mà không hòa tan?
- Muốn không bị hòa nhập đầu tiên chúng ta phải giữ được bản sắc văn hóa dân
tộc của chính mình. Khách du lịch tìm đến thăm Việt Nam không phải chỉ muốn ngắm
nhìn danh lam thắng cảnh mà cũng có ý muốn nếm sơn hào hải vị hay ít ra một vài món
ăn đặc biệt như “nem” (tức là nem rán ở miền Bắc hay chả giò ở miền Nam) hoặc “phở”.
Tà áo dài Việt Nam, tà áo truyền thống của dân tộc chính là một nét văn hóa cần
gĩn giữ, hãnh diện, thời thượng nhất mà người dân Việt Nam có được.
Từ xưa, chúng ta vốn có lòng hiếu khách đặc biệt, trong xã hội có đủ tôn ti trật tự.
Tình thương người, nhứt là đối với người lân cận láng giềng, luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ
“lá lành đùm là rách” chứ không phải “sống chết mặc bây”. Trong những trường hợp đặc
biệt như quan hôn, tang tế thì cả làng xóm đều sẵn sàng giúp đỡ nhau.
Người Việt có một nụ cười chào khách rất dễ thương. Nhiều du khách đã nhận
thấy và chụp nhiều ảnh nụ cười trên môi những người già, trẻ, bé, lớn. Chúng ta nên giữ
đừng cho nụ cười tắt trên môi chúng ta.
Đi dự hội thảo, không đến quá trễ, không rời nơi họp quá sớm. Ở nơi công cộng
nên có cách cư xử đúng mực, tôn trọng người khác.
không lo mình sẽ bị hòa tan trong ấy.
Chương 8
Câu 11: Trong giai đoạn đổi mới, đường lối về văn hóa, đối ngoại được bổ
sung như thế nào qua các kì đại hội. (Đại hội IX so với VII, VIII; Đại hội XI so với
X)
Văn hóa (p197)
Cương lĩnh năm 1991 được Đại hội VII thông qua lần đầu tiên đưa ra quan niệm
về nền văn hóa Việt Nam có đặc trưng “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” thay cho quan
niệm nền văn hóa Việt Nam có nội dung XHCN, có tính chất dân tộc, có tính Đảng và
tính nhân dân mới được nêu ra trước đây.
Đại hội VII, VIII, IX, X, XI xác định văn hóa “vừa là mục tiêu, vừa là động lực
của phát triển”.
Hội nghị Trương ương 5 khóa VIII (tháng 7/1998) chỉ ra 5 quan điểm cơ bản chỉ
đạo quá trình phát triển văn hóa trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hội
nghị Trung ương 9 Khóa IX (tháng 1/2004) xác định thêm phát triển văn hóa đồng bộ với
phát triển kinh tế. Hội nghị Trung ương 10 khóa IX (7/2004) đảm bảo sự gắn kết giữa
nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm; xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với
nhiệm vụ không ngừng nâng cao văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội.
Đối ngoại: (p232)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991) chủ trương “hợp tác bình
đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước” với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với
tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng (tháng 6/1996) khẳng định tiếp tục mở rộng quan hệ
quốc tế, hợp tác nhiều mặt với các nước.
So với Đại hội VII, chủ trương đối ngoại của Đại hội VIII có các điểm mới: một
là, chủ trương mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền và các đảng khác; hai là, quán
triệt yêu cầu mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phủ;
ba là, thử nghiệm để tiến tới đầu tư ra nước ngoài.
Cảm nhận đầy đủ “thế” và “lực” của đất nước sau 15 năm đổi mới, Đại hội IX đã
phát triển phương châm của Đại hội VIII là: “Việt Nam muốn làm bạn với các nước trong