BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM
KHOA KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
QUY TRÌNH KIỂM TOÁN DOANH THU BÁN HÀNG
VÀ NỢ PHẢI THU KHÁCH HÀNG TẠI CÔNG TY
TNHH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN PHƯƠNG NAM Ngành : KẾ TOÁN
Chuyên ngành: KẾ TOÁN-KIỂM TOÁN
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Lan Hương
Sinh viên thực hiện : Huỳnh Thị Như Ngọc
MSSV: 1054030381 Lớp:10DKKT02 TP.Hồ Chí Minh, năm 2014 i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của tôi, thực hiện dưới sự hướng dẫn của
Thạc sỹ Nguyễn Lan Hương. Mọi chứng từ cập nhật, kết quả và số liệu trong báo cáo đều
được phép của Công ty TNHH Kế toán và Kiểm toán Phương Nam, không có sự sao
chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo hay có sự gian trá. Tôi hoàn toàn chịu trách
nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này.
TP. Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2014
Người thực hiện Huỳnh Thị Như Ngọc
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lan H
ương
iii
LỜI CẢM ƠN
Rời khỏi giảng đường Đại học với hành trang tri thức trên vai, đó là kết quả của
cả quá trình học tập và phấn đấu của mỗi sinh viên. Và trong quá trình đó luôn có sự dạy
dỗ, hướng dẫn tận tình của các thầy cô, cũng như sự giúp đỡ chia sẻ của bạn bè. Em xin
TP.Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2014
Giảng viên hướng dẫn
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lan H
ương
v
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC DOANH THU BÁN
HÀNG VÀ NỢ PHẢI THU KHÁCH HÀNG 3
Chương 2: QUY TRÌNH KIỂM TOÁN DOANH THU BÁN HÀNG VÀ NỢ PHẢI
THU KHÁCH HÀNG TẠI CÔNG TY TNHH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN
PHƯƠNG NAM 25
2.1 Giới thiệu công ty TNHH Kế Toán và Kiểm Toán Phương Nam 25
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Phương Nam 25
2.1.2 Bộ máy tổ chức 27
2.1.3 Giới thiệu phòng kiểm toán BCTC 28
2.1.4 Khái quát về quy trình kiểm toán BCTC của công ty Phương Nam 29
2.1.4.1 Chuẩn bị kiểm toán 29
2.1.4.2 Thực hiện kiểm toán 30
2.1.4.3 Phát hành Báo cáo kiểm toán và lưu trữ hồ sơ. 30
2.2 Quy trình kiểm toán doanh thu và nợ phải thu KH tại công ty Phương Nam 31
2.2.1 Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán (công tác chuẩn bị) 31
2.2.1.1 Phân công nhiệm vụ 31
2.2.1.2 Tìm hiểu KH 32
2.2.1.3 Lập kế hoạch kiểm toán tổng thể 32
2.2.1.4 Thiết kế chương trình kiểm toán 40
2.2.2 Thực hiện kiểm toán. 44
2.2.2.1 Thử nghiệm chi tiết đối với khoản mục doanh thu bán hàng 45
2.2.2.2 Thử nghiệm chi tiết đối với khoản mục nợ phải thu khách hàng 54
2.2.3 Hoàn thành kiểm toán và phát hành báo cáo kiểm toán. 55
2.2.3.1 Soát xét giấy tờ làm việc của KTV 55
2.2.3.2 Soát xét các sự kiện xảy ra sau ngày lập báo cáo tài chính 59
2.2.3.3 Lập báo cáo kiểm toán. 55
2.2.3.4 Họp và đánh giá sau kiểm toán 55
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM
TOÁN KHOẢN MỤC DOANH THU BÁN HÀNG VÀ NỢ PHẢI THU KHÁCH
HÀNG DO CÔNG TY TNHH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN PHƯƠNG NAM
THỰC HIỆN 60
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
CĐPS Cân đối phát sinh
CĐKT Cân đối kế toán
KH Khách hàng
GTGT Giá trị gia tăng
XDCB Xây dựng cơ bản
KSNB Kiểm soát nội bộ
KTV Kiểm toán viên
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lan H
ương
ix
DANH SÁCH BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Mục tiêu kiểm toán đối với khoản mục doanh thu bán hàng và nợ phải thu
khách hàng 6
Bảng 1.2 Sai phạm thường gặp trong chu trình bán hàng 16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lan H
ương
1
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài: Nền kinh tế Việt Nam đang từng bước hòa mình vào nền
kinh tế thế giới, điều này đòi hỏi sự cạnh tranh cao độ giữa các ngành nghề cũng
như giữa những công ty trong cùng một lĩnh vực kinh doanh. Bởi vậy, việc thu
hút vốn từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước để phát triển sản xuất kinh doanh
luôn là chính sách hàng đầu mà các doanh nghiệp lựa chọn. Các nhà đầu tư cần
có những tài liệu đáng tin cậy để quyết định đầu tư đúng đắn, ngoài ra các cơ
quan nhà nước cũng cần những thông tin trung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh
tế, khách hàng, nhà cung cấp cần hiểu rõ thực chất kinh doanh và tình hình tài
chính của doanh nghiệp. Chính vì vậy, kiểm toán nói chung và Kiểm toán báo
cáo tài chính nói riêng đã ra đời và đang phát triển như một xu thế tất yếu.
Quá trình kiểm toán báo cáo tài chính phải trải qua các công việc cần thiết
với các khoản mục trên Báo cáo tài chính nhằm chứng minh sự trung thực và hợp
lý của số liệu. Trong đó khoản mục doanh thu, nợ phải thu khách hàng là hai
khoản mục trọng yếu trên bảng CĐKT và BCKQHĐKD. Người sử dụng Báo cáo
tài chính có khuynh hướng dựa vào mối liên hệ giữa tài sản và công nợ để đánh
giá khả năng thanh toán của một doanh nghiệp, khả năng tạo ra lợi nhuận của
vấn các anh chị kiểm toán viên trong công ty.
Quan sát thực tế và thu thập số liệu từ hồ sơ làm việc của kiểm toán viên đối với
những khách hàng khác nhau.
Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu công tác kiểm toán doanh thu bán hàng và nợ phải thu
khách hàng trong năm 2013 của Công ty TNHH Kế toán và Kiểm toán Phương
Nam tại Công ty ABC.
Kết cấu đề tài: Nội dung của khóa luận gồm 3 phần được phân bổ làm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và nợ phải
thu khách hàng.
Chương 2: Quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng và nợ phải thu khách hàng
tại công ty TNHH Kế toán và Kiểm toán Phương Nam.
Chương 3: Nhận xét, kiến nghị hoàn thiện quy trình kiểm toán doanh thu bán
hàng và nợ phải thu khách hàng tại Công ty TNHH Kế toán và Kiểm toán
Phương Nam.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lan H
ương
3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC DOANH THU BÁN
HÀNG VÀ NỢ PHẢI THU KHÁCH HÀNG
1.1 Đặc điểm khoản mục doanh thu bán hàng và nợ phải thu khách hàng
1.1.1 Đặc điểm khoản mục doanh thu bán hàng
Theo VAS 14 “Doanh thu và thu nhập khác” định nghĩa: Doanh thu là
tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh
từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần
làm tăng vốn chủ sở hữu. Như vậy, doanh thu bao gồm tổng giá trị của các lợi ích
kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba
không phải là nguồn lợi kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh
doanh nghiệp. Và sở dĩ, khoản mục này cũng là đối tượng của nhiều rủi ro dẫn
đến sai lệch trọng yếu vì những lý do sau:
Doanh thu có quan hệ mật thiết với lợi nhuận. Những sai lệch trong doanh thu
thường dẫn đến lợi nhuận không trung thực và không hợp lý.
Trong nhiều trường hợp, việc xác định thời điểm thích hợp và số tiền để ghi nhận
doanh thu đòi hỏi sự xét đoán, thí dụ đối với doanh thu của hợp đồng xây dựng
hoặc cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều niên độ.
Doanh thu trong nhiều đơn vị là cơ sở đánh giá kết quả hoặc thành tích nên có
khả năng bị thổi phồng cao hơn thực tế.
Tại Việt Nam, doanh thu có quan hệ chặt chẽ với thuế GTGT đầu ra nên cũng có
khả năng doanh thu bị khai thấp hơn so với thực tế nhằm trốn thuế phải nộp cho
ngân sách nhà nước.
1.1.2 Đặc điểm khoản mục nợ phải thu khách hàng
“Nợ phải thu khách hàng” được định nghĩa như một tài sản, là một trong
những nguồn lực kinh tế quan trọng của một doanh nghiệp, do doanh nghiệp đó
nắm giữ. Nó là kết quả của những sự việc đã phát sinh trong quá khứ (nghiệp vụ
bán hàng trả chậm), và mang lại lợi ích trong tương lai (thông qua nghiệp vụ thu
tiền bán hàng trả chậm). Trên bảng CĐKT, khoản mục nợ phải thu khách hàng
nằm bên phần tài sản gồm hai loại nợ phải thu khách hàng ngắn hạn trình bày ở
bên phần A mục các khoản phải thu ngắn hạn và nợ phải thu dài hạn trình bày ở
phần B mục các khoản phải thu dài hạn. Khoản mục nợ phải thu khách hàng
được ghi theo số phải thu gộp và khoản mục dự phòng phải thu khó đòi được ghi
số âm. Nên hiệu số nợ phải thu khách hàng và dự phòng phải thu khó đòi phản
ánh số nợ phải thu thuần.
Hầu hết các khoản tiền thu được của các doanh nghiệp đều có liên quan đến
các khoản nợ phải thu khách hàng, do đó, gian lận rất dễ phát sinh từ các khoản
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lan H
ương
5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lan H
ương
6
1.2 Mục tiêu kiểm toán đối với khoản mục doanh thu bán hàng và nợ phải thu
khách hàng
Bảng 1.1: Mục tiêu kiểm toán đối với khoản mục doanh thu bán hàng và nợ phải
thu khách hàng
Mụ
c tiêu
kiểm toán
Doanh thu bán hàng Nợ phải thu khách hàng
Hiện hữ
u/
Phát sinh
Các nghiệp vụ ghi nhận
doanh thu bán hàng được
ghi nhận thì phát sinh
trong thực tế và thuộc về
đơn vị.
Các khoản nợ phải thu khách hàng đã ghi chép
đều có thực tại thời điểm lập báo cáo.
Đầy đủ Mọi nghiệp vụ phát sinh
doanh thu bán hàng đều
được ghi nhận.
Tất cả các khoản nợ phải thu khách hàng có thực
đều được ghi nhận đầy đủ.
Quyền
đúng đắn các khoản nợ phải thu khách hàng,
cũng như công bố đầy đủ những vấn đề có liên
quan như các khoản cầm cố, thế chấp
(Nguồn: Phòng Kiểm toán Phương Nam)
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lan H
ương
7
Một trong những mục tiêu trên thì mục tiêu Hiện hữu được xem là mục tiêu
quan trọng và được KTV tập trung xem xét và đánh giá hàng đầu khi kiểm toán
đến khoản mục doanh thu.
Doanh thu bán hàng và nợ phải thu khách hàng là hai khoản mục liên quan
mật thiết với nhau, nên mục tiêu kiểm toán của 2 khoản mục này đương nhiên sẽ
tương tự nhau. Do đó, nếu như mục tiêu “hiện hữu” được xem là quan trọng khi
kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng thì mục tiêu “phát sinh” chính là
mục tiêu cần thiết và phải được quan tâm hàng đầu khi kiểm toán khoản mục
doanh thu bán hàng.
1.3 Yêu cầu việc lập và trình bày khoản mục doanh thu bán hàng trên BCTC
1.3.1 Xác định doanh thu
Thứ nhất, doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc
sẽ thu được.
Thứ hai, doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa
doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá
trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản
chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, giá trị hàng bán bị trả lại. Đối với các
khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì doanh thu được xác
định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được trong tương
lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành.
Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa
sẽ thu được trong tương lai.
Thứ nhất, doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với
quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua. Doanh nghiệp phải xác
định thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu
hàng hóa cho người mua trong từng trường hợp cụ thể. Trong hầu hết các trường
hợp, thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro trùng với thời điểm chuyển giao lợi
ích gắn liền với quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền kiểm soát hàng hóa cho
người mua.
Thứ hai, doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở
hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa. Trường hợp doanh nghiệp vẫn còn
chịu phần lớn rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa thì giao dịch không
được coi là hoạt động bán hàng và doanh thu không được ghi nhận. Doanh
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lan H
ương
9
nghiệp còn phải chịu rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa dưới nhiều hình
thức khác nhau:
Doanh nghiệp còn phải chịu trách nhiệm để đảm bảo cho tài sản được hoạt
động bình thường mà việc này không nằm trong các điều khoản bảo hành
thông thường.
Khi việc thanh toán tiền bán hàng còn chưa chắc chắn vì phụ thuộc vào người
mua hàng hóa đó.
Khi hàng hóa được giao còn chờ lắp đặt và việc lắp đặt đó là một phần quan
trọng của hợp đồng mà doanh nghiệp chưa hoàn thành.
Khi người mua có quyền huỷ bỏ việc mua hàng vì một lý do nào đó được nêu
trong hợp đồng mua bán và doanh nghiệp chưa chắc chắn về khả năng hàng
bán có bị trả lại hay không.
Thứ ba, doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. Nếu doanh nghiệp chỉ còn
phải chịu một phần nhỏ rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa thì việc bán
hàng được xác định và doanh thu được ghi nhận. Ví dụ doanh nghiệp còn nắm
giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy. Trường hợp giao dịch về cung
cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết
quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng CĐKT của kỳ đó. Kết quả
của giao dịch cung cấp dịch vụ được xác định khi thỏa mãn tất cả bốn (4) điều
kiện sau:
Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó.
Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng CĐKT.
Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch
cung cấp dịch vụ đó
1.3.3.3 Điều kiện ghi nhận doanh thu hoạt động tài chính
Doanh thu phát sinh từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia của
doanh nghiệp được ghi nhận khi thỏa mãn đồng thời hai (2) điều kiện sau:
Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch đó.
Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
Doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia được ghi
nhận trên cơ sở:
Tiền lãi được ghi nhận trên cơ sở thời gian và lãi suất thực tế từng kỳ.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lan H
ương
11
Tiền bản quyền được ghi nhận trên cơ sở dồn tích phù hợp với hợp đồng.
Cổ tức và lợi nhuận được chia được ghi nhận khi cổ đông được quyền nhận cổ
tức hoặc các bên tham gia góp vốn được quyền nhận lợi nhuận từ việc góp vốn.
Lãi suất thực tế là tỷ lệ lãi dùng để quy đổi các khoản tiền nhận được trong
tương lai trong suốt thời gian cho bên khác sử dụng tài sản về giá trị ghi nhận
ban đầu tại thời điểm chuyển giao tài sản cho bên sử dụng. Doanh thu tiền lãi bao
gồm số phân bổ các khoản chiết khấu, phụ trội, các khoản lãi nhận trước hoặc
các khoản chênh lệch giữa giá trị ghi sổ ban đầu của công cụ nợ, giá trị của nó
Khoản thu về thanh lý TSCĐ, nhượng bán TSCĐ là tổng số tiền đã thu và
sẽ thu được của người mua từ hoạt động thanh lý, nhượng bán TSCĐ. Các chi
phí về thanh lý, nhượng bán TSCĐ được ghi nhận là chi phí để xác định kết quả
kinh doanh trong kỳ. Thu được các khoản nợ phải thu đã xóa sổ tính vào chi phí
của kỳ trước là khoản nợ phải thu khó đòi, xác định là không thu hồi được, đã
được xử lý xóa sổ và tính vào chi phí để xác định kết quả kinh doanh trong các
kỳ trước nay thu hồi được. Khoản nợ phải trả nay mất chủ là khoản nợ phải trả
không xác định được chủ nợ hoặc chủ nợ không còn tồn tại.
1.3.4 Trình bày doanh thu
Trong báo cáo tài chính doanh nghiệp trình bày chính sách kế toán được áp
dụng trong việc ghi nhận doanh thu. Doanh thu được trình bày trên
BCKQHĐKD, bao gồm doanh thu bán hàng, các khoản được khấu trừ khỏi
doanh thu và doanh thu thuần.
1.4 Yêu cầu việc lập và trình bày khoản mục nợ phải thu khách hàng trên Báo
cáo tài chính
1.4.1 Phân loại nợ
Căn cứ vào thời hạn thanh toán nợ được chia làm hai loại : Nợ phải thu
ngắn hạn và nợ phải thu dài hạn.
Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường trong vòng 12
tháng: Nợ phải thu thanh toán trong vòng 12 tháng được xếp vào loại nợ phải thu
ngắn hạn, sau 12 tháng được xếp vào loại nợ phải thu dài hạn. Đối với doanh
nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường dài hơn 12 tháng: Nợ phải thu được
thanh toán trong vòng một chu kỳ kinh doanh bình thường được xếp vào loại nợ
phải thu ngắn hạn, dài hơn một chu kỳ kinh doanh bình thường được xếp vào nợ
phải thu dài hạn.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Lan H
ương
13
1.4.2 Nguyên tắc hạch toán nợ phải thu khách hàng
Chẳng hạn, nếu KTV nghi ngờ về sự không chính xác của khoản mục
doanh thu bán hàng trên BCTC thì đối tượng đầu tiên cần kiểm tra đối chiếu lại
với doanh thu bán hàng từng tháng chính là khoản mục nợ phải thu khách hàng.
Mặt khác, thông tin nợ phải thu đầu kỳ cũng chính là căn cứ để bộ phận xét duyệt
tín dụng của đơn vị xem xét xem có ký hợp đồng với khách hàng hay không. Từ
đó, làm căn cứ để kế toán ghi nhận doanh thu phát sinh trong kỳ đối ứng với
khoản nợ phải thu khách hàng phát sinh thêm trong kỳ. Cuối cùng, căn cứ vào
khoản nợ phải thu khách hàng được ghi nhận, và số tiền bán hàng thu được, kế
toán có thể xác định nợ phải thu cuối kỳ một cách chính xác. Đây cũng là quy
trình mà hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp có thể quản lý hoạt động
hữu hiệu trong chu trình bán hàng thu tiền quen thuộc của mỗi đơn vị.
Về mặt ý nghĩa: Như đã nói ở phần đặc điểm khoản mục doanh thu bán hàng thì
một trong những đặc điểm nổi bật của khoản mục này chính là nó có mối liên
quan mật thiết với khoản mục nợ phải thu khách hàng. Chính vì lẽ đó, khi KTV
có nghi ngờ về sự gian lận trong khoản mục nợ phải thu khách hàng thì đồng
nghĩa là doanh thu bán hàng cũng đã bị khai khống hoặc khai thiếu, từ đó KTV
mới có cái nhìn thấu đáo về tình hình không tuân thủ của đơn vị được kiểm toán.
1.6 Kiểm soát nội bộ đối với doanh thu bán hàng và nợ phải thu khách hàng
Để kiểm soát tốt hai khoản mục doanh thu và nợ phải thu khách hàng thì
đòi hỏi trước tiên là đơn vị phải tự thiết lập cho mình một hệ thống kiểm soát nội
bộ tương đối phức tạp mà cụ thể ở đây chính là hệ thống kiểm soát nội bộ đối với
toàn bộ chu trình bán hàng. Bởi lẽ, nếu không có sự kiểm soát chặt chẽ từ nội bộ
bên trong doanh nghiệp về chu trình bán hàng thì khả năng không thu hồi được
các khoản nợ phải thu khách hàng là rất cao, mặt khác những thông tin về doanh
thu bán hàng và nợ phải thu khách hàng được trình bày một cách thiếu trung thực
trên BCTC, gây thiệt hại không nhỏ đến lợi ích kinh tế và uy tín của doanh
nghiệp. Do đó, để tìm hiểu và đánh giá rủi ro kiểm soát của hai khoản mục doanh
thu bán hàng và nợ phải thu khách hàng, KTV cần phải khảo sát về hệ thống
kiểm soát nội bộ đối với toàn bộ chu trình bán hàng.