Các nhà khoa học khí quyển và môn khoa học khí quyển
Davis Sentman là một người theo đuổi các cơn mưa dông. Là nhà khoa học khí
quyển từ đại học Alaska tại Fairbanks, ông là một thành viên trong đội ngũ các
nhà khoa học sử dụng tuổi xuân của mình nghiên cứu - và mạo hiểm tiếp cận - các
cơn mưa dông.
Setman nói rằng cơn dông càng lớn càng tốt, vì những tia sáng có màu bí ẩn gọi là
ma trơi và tia xanh thường xuất hiện trong các cơn dông khổng lồ.
Setman và các đồng nghiệp của mình hiểu rõ những ánh sáng trong cơn mưa dông
mới được phát hiện này. Không may là không dễ gì nghiên cứu các ma trơi và tia
xanh. Chúng hiếm khi xuất hiện và xuất hiện trên vùng khí quyển cao hơn nhiều
so với những tia chớp bình thường.
Những ngành nghiên cứu khiến dựng tóc gáy, như ngành của Sentman, đều là
những ngành hơi hiếm trong môn khoa học khí quyển hiện đại. Thực vậy, phần
lớn những nghiên cứu khí quyền đều thực hiện trong nhà - trong các phòng thí
nghiệm, trung tâm máy tính, và văn phòng - mặc dù vẫn cần có quan sát bên
ngoài, đặc biệt là để dự đoán thời tiết.
Một số các nhà khoa học khí quyển, như Sentman, đều thực sự cần phải xông vào
hiện trường. Nhiều nhà khoa học khí quyền khác đưa các thiết bị đo đạc của họ lên
trên cao bằng những khí cầu điều khiển từ xa. Một vài nhà nghiên cứu may mắn đã
thực sự đi xa hơn ra ngoài khí quyển, thực hiện những nghiên cứu của mình trên
khí cầu không gian.
Môn khoa học khí quyển là gì?
Môn khoa học khí quyển là một môn nghiên cứu khí quyển - một bầu khí bao bọc
Trái đất. Môn khoa học này đề cập đến những đặc tính vật lý của bầu khí quyển,
đặc tính hóa học của nó, và các quá trình động lực của nó. Các nhà khoa học khí
quyển thường được gọi là các nhà khí tượng học.
Theo nghĩa hẹp hơn thì họ là những người nghiên cứu các hiện tượng thuộc về khí
quyển, được biết như thời tiết. Những nhà khí tượng học được biết đến nhiều nhất
là những người dự đoán khí tượng xuất hiện trên đài phát sóng và truyền hình địa
phương. Họ dự đoán ngày mai sẽ mưa hay quang đãng.
khi có thể dự đoán thời tiết của ngày mai với bất cứ độ chính xác nào, họ cũng cần
phải biết loại thời tiết nào xảy ra trước đó.
Tất cả đều đã thay đổi khi máy điện báo được phát minh vào năm 1837. Cho đến
năm 1848, những người quản lý máy điện báo Hoa Kỳ đã bắt đầu gửi bản báo cáo
thời tiết sáng hàng ngày cho Viện Nghiên Cứu Smithsonia tại Washinton, D.C.
Bản báo cáo đơn giản chỉ có hai từ, như quang đãng, có mây, hay có mưa. Đầu
tiên, các bản báo cáo được tập trung đơn giản thành một biểu đồ thời tiết, không
có nỗ lực dự đoán nào.
Những dự đoán thời tiết đều đặn đầu tiên có thể là do người Anh Robert Fitzroy
thực hiện. Ông là người đã phát triển dịch vụ cảnh báo thời tiết đầu tiên của nước
Anh vào năm 1859. Vào những ngày đầu, dịch vụ cảnh báo hướng những báo cáo
của mình đến ngành công nghiệp vận chuyển đường thủy.
Sau đó vào năm 1861, Fitzroy bắt đầu gửi các báo cáo hàng ngày của ông đến báo
chí. Ông gọi chúng là “dự báo”, và giải thích kỹ càng cho các độc giả rằng những
tiên đoán được thực hiện dựa trên cơ sở quan sát khoa học, chứ không phải là hiểu
biết của con người hay niên giám của một người nông dân. Những nỗ lực đầu tiên