Phân lập, tuyển chọn một số xạ khuẩn có khả năng kháng khuẩn và phân giải cellulose - Pdf 29

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
KHOA SINH HỌC
NGUYỄN NHẬT TIÊN
PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN MỘT SỐ CHỦNG XẠ
KHUẨN CÓ KHẢ NĂNG KHÁNG KHUẨN VÀ
PHÂN GIẢI CELLULOSE
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC KHÓA 33
NGÀNH: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Đà Lạt
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
KHOA SINH HỌC
PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN MỘT SỐ CHỦNG XẠ
KHUẨN CÓ KHẢ NĂNG KHÁNG KHUẨN VÀ
PHÂN GIẢI CELLULOSE
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC KHÓA 33
NGÀNH: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Cán bộ hướng dẫn: Th.S Nguyễn Khoa Trưởng
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Nhật Tiên
Đà Lạt
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các kết quả và số liệu
nghiên cứu hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ tài liệu nào. Tôi
xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những kết quả nghiên cứu này.
Đà Lạt
LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn Th.S Nguyễn Khoa Trưởng – người đã trực tiếp
hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài
khóa luận tốt nghiệp đại học này.
Tôi chân thành cám ơn Ban giám hiệu trường Đại học Đà Lạt, các thầy cô Khoa
Sinh học – trường Đại học Đà Lạt đã tận tình dạy dỗ, truyền đạt kiến thức và tạo điều
kiện học tập tốt nhất cho tôi trong suốt 4 năm học vừa qua.

nhiên hoặc đốt, gây ô nhiễm môi trường trầm trọng.
Quá trình phân hủy cellulose gồm một chuỗi các phản ứng phức tạp, xảy ra dưới
tác động của enzyme cellulase. Tuy nhiên, chỉ có enzyme cellulase ở các loài vi sinh
vật mới có khả năng phân hủy hoàn toàn cellulose.
Mặt khác, Việt Nam là một nước nông nghiệp nằm trong vùng nhiệt đới nóng
ẩm. Mưa là điều kiện rất thuận lợi cho vi sinh vật phát triển, đặc biệt là các loài vi sinh
vật gây bệnh cây trồng. Vì vậy, việc sử dụng các loại hóa chất bảo vệ thực vật từ lâu
đã rất phổ biến ở nước ta. Song việc này sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi
trường cũng như sức khỏe con người. Do đó, việc sử dụng các tác nhân sinh học để ức
chế các quần thể vi sinh vật gây hại đã và đang được chú trọng nghiên cứu. Trong đó,
xạ khuẩn là nhóm vi sinh vật có khả năng tổng hợp enzyme cellulase ngoại bào và khả
năng kháng khuẩn cao. Đặc biệt, khi kết hợp với một số chủng vi khuẩn, nấm mốc sẽ
cho hiệu suất phân giải cellulose và các dẫn xuất của cellulose như carboxymethyl
cellulose, hydroxyethyl cellulose khá cao.
Hiện nay, trong số 8000 chất kháng sinh hiện được biết đến trên thế giới thì có
đến trên 80% là có nguồn gốc từ xạ khuẩn [1]. Hầu hết các chất kháng sinh có nguồn
gốc từ xạ khuẩn đều có phổ kháng khuẩn rộng. Một số chất kháng sinh như
streptomycin, neomycin, tetracylin, cloramphenicol, erythromycin… có khả năng
kháng khuẩn mạnh, đặc biệt chúng còn có khả năng kháng nhiều loài vi khuẩn kháng
penicillin. Chính vì vậy, các chất kháng sinh này được sử dụng rất phổ biến và hiệu
quả trong nhiều lĩnh vực như y học, chăn nuôi, thú y, thủy sản…
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Phân
lập, tuyển chọn một số chủng xạ khuẩn có khả năng kháng khuẩn và phân giải
cellulose” nhằm tuyển chọn một số chủng xạ khuẩn có hoạt tính mạnh để xử lý phế
phụ phẩm và phòng chống một số bệnh do vi sinh vật gây hại trong nông nghiệp.
Nội dung nghiên cứu:
1. Phân lập, tuyển chọn một số chủng xạ khuẩn tại Đà Lạt.
2. Khảo sát hoạt tính kháng khuẩn của các chủng xạ khuẩn.
3. Khảo sát khả năng phân giải cellulose của các chủng xạ khuẩn.
4. Khảo sát điều kiện nhiệt độ, pH thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của

- Xạ khuẩn cũng bị phage tấn công (Actinophage).
Xạ khuẩn là một trong những loại vi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong tự
nhiên. Chúng tham gia tích cực vào các quá trình chuyển hóa nhiều hợp chất trong tự
nhiên. Ngoài ra, xạ khuẩn có khả năng sản sinh ra nhiều loại enzyme (cellulase,
protease, amylase, chitinase, invertase…), một số vitamine và acid hữu cơ.
Tuy nhiên, bên cạnh những xạ khuẩn có ích vẫn tồn tại một số xạ khuẩn sinh ra
những chất độc kìm hãm sự sinh trưởng của thực vật, hoặc có thể gây bệnh cho người
và động vật [3].
1.1.2.2. Khuẩn lạc
2
Cũng giống như vi khuẩn, nấm mốc và nấm men, khi nuôi cấy trên môi trường
đặc xạ khuẩn cũng tạo thành khuẩn lạc.
Khuẩn lạc của xạ khuẩn thường chắc, xù xì có dạng da, dạng vôi, dạng nhung
tơ hay dạng màng dẻo.
Kích thước và hình dạng của khuẩn lạc có thể thay đổi tuỳ loài và tuỳ vào điều
kiện nuôi cấy như thành phần môi trường, nhiệt độ, độ ẩm, … Đường kính mỗi khuẩn
lạc khoảng 0,5 - 2 mm, nhưng cũng có khuẩn lạc đạt tới đường kính 1cm hoặc lớn hơn
[5]. Khuẩn lạc xạ khuẩn có 3 lớp: lớp ngoài cùng có dạng sợi bện chặt, lớp trong tương
đối xốp hơn, lớp giữa có cấu trúc tổ ong. Khuẩn ty trong mỗi lớp có hoạt tính sinh hóa
khác nhau. Các sản phẩm của quá trình trao đổi chất như các chất kháng sinh, độc tố,
các loại enzyme, các acid amine, các acid hữu cơ cũng được tích lũy một cách khác
nhau ở mỗi lớp. Khuẩn lạc xạ khuẩn có nhiều màu sắc khác nhau: đỏ, da cam, vàng,
nâu, hồng, xám, trắng, tím tùy thuộc từng loài và điều kiện nuôi cấy [3].
1.1.2.3. Khuẩn ty
Khi nuôi cấy trên môi trường đặc, hệ sợi của xạ khuẩn chia thành khuẩn ty cơ
chất (cắm sâu vào bề mặt thạch) có chức năng hút nước, chất dinh dưỡng và khuẩn ty
khí sinh (phát triển trên bề mặt thạch) đảm nhận chức năng sinh sản.
Một đặc điểm dễ nhận biết của xạ khuẩn đó là xạ khuẩn có hệ khuẩn ty phát
triển giống như hệ khuẩn ty của nấm mốc, phân nhánh và không có vách ngăn. Tuy
nhiên, khuẩn ty của xạ khuẩn mảnh hơn nhiều so với khuẩn ty của nấm mốc.

1.1.4. Cấu tạo của xạ khuẩn
Xạ khuẩn có cấu trúc tế bào tương tự vi khuẩn Gram dương, toàn bộ cơ thể chỉ
là một tế bào gồm các thành phần chính: thành tế bào, màng sinh chất, nguyên sinh
chất, chất nhân và các thể ẩn nhập [3, 4].
Thành tế bào của xạ khuẩn có kết cấu dạng lưới, dày 10 - 20 nm, có tác dụng
duy trì hình dáng của khuẩn ty, bảo vệ tế bào. Thành tế bào gồm 3 lớp:
- Lớp ngoài cùng dày khoảng 60 - 120Å, khi già có thể đạt tới 150 - 200Å.
- Lớp giữa rắn chắc, dày khoảng 50Å.
- Lớp trong dày khoảng 50Å.
Các lớp này chủ yếu cấu tạo từ các lớp glucopeptide bao gồm các gốc N -
acetyl glucozamin liên kết với N - acetyl muramic bởi các liên kết 1,4 - glucoside. Khi
xử lý bằng lyzozym, các liên kết 1,4 - glucoside bị cắt đứt, thành tế bào bị phá huỷ tạo
thành thể sinh chất (protoplast). Cấu trúc sợi cũng bị phá huỷ khi xử lý tế bào với hỗn
hợp este chlorofom và các dung môi hoà tan lipid khác. Điều này chứng tỏ lớp ngoài
cùng có cấu tạo bằng lipid. Thành tế bào xạ khuẩn không chứa cenllulose và chitin
nhưng chứa nhiều enzyme tham gia vào quá trình trao đổi chất và quá trình vận
chuyển vật chất qua màng tế bào [3, 5].
Căn cứ vào thành phần hoá học thành tế bào, xạ khuẩn được chia thành 4 nhóm
chính [1, 4]:
Nhóm I: Thành phần chính của thành tế bào là acid L - 2,6
diaminopimelic (L - ADP) và glycine. Thuộc về nhóm này có các giống Streptomyces,
Streptoverticillium, Chainia, Actinopycnidium, Actinosporangium, Elytrosporangium,
Microellobosporia, Sporichthya, Intrasporangium.
Nhóm II: Thành phần chính của thành tế bào là acid meso - 2,6
-diaminopimelic (m - ADP) và glycine. Thuộc về nhóm này có các giống
Micromonospora, Actinoplanes, Amorphosporangium, Ampullariella, Dactylospor-
angium.
Nhóm III: Thành phần chính của thành tế bào là acid meso - 2,6
-diaminopimelic. Thuộc về nhóm này có các giống Actinomadura, Microbispora,
Thermoactinomyces, Actinobifida, Streptosporangium, Spirillospora, Planomono-

tương đối nhanh chóng và chính xác với nhiều phương pháp mới như phân loại số,
nghiên cứu chủng loại phát sinh Tuy nhiên, việc định danh xạ khuẩn vẫn chủ yếu
dựa vào các đặc điểm về hình thái, tính chất nuôi cấy, đặc điểm sinh lý, sinh hóa, miễn
dịch.
1.2.1. Đặc điểm hình thái và tính chất nuôi cấy
Đặc điểm hình thái và tính chất nuôi cấy là một trong những yếu tố quan trọng
để phân loại xạ khuẩn. Người ta nuôi cấy các chủng xạ khuẩn cần định danh trên môi
trường dinh dưỡng khác nhau trong điều kiện và thời gian nhất định để chúng biểu
hiện các đặc điểm mà ta quan tâm.
Tiến hành quan sát, mô tả và ghi lại những đặc điểm về hình thái và tính chất
nuôi cấy của xạ khuẩn, đặc biệt là cơ quan mang bào tử, hình dạng và bề mặt bào tử.
Các đặc điểm về hình thái và tính chất nuôi cấy được coi là những dữ liễu cơ
bản để phân loại xạ khuẩn. Tuy nhiên, xạ khuẩn không bền vững về mặt di truyền,
chúng thường xuyên xảy ra sự sắp xếp lại trong phân tử DNA. Trong cùng một loài có
thể biểu hiện khác nhau về hình thái hay ngược lại, các loài khác nhau có thể giống
nhau về mặt hình thái [8]. Vì vậy, để phân loại được chính xác, người ta phải dùng
5
thêm các chỉ tiêu bổ sung khác như các đặc điểm sinh lý, sinh hóa, miễn dịch học, sinh
học phân tử.
1.2.2. Đặc điểm hóa phân loại (Chemotaxonomy)
Đặc điểm hóa phân loại được sử dụng rộng rãi và hiệu quả trong 20 năm trở lại
đây. Đây là phương pháp cơ bản và có hiệu quả thông qua việc định tính và định lượng
thành phần hóa học của tế bào vi sinh vật [6]. Hóa phân loại chủ yếu dựa vào các đặc
điểm sau:
- Typ thành tế bào dựa trên cơ sở phân tích acid amine trong thành phần peptide
và đường trong thành tế bào hay các polysaccaride gắn vào thành tế bào.
- Typ peptidoglycan (PG) dựa vào các thông tin về thành phần và cấu trúc của
mạch tetrapeptide của PG cầu nối peptide và các liên kết giữa các mắc xích của PG.
- Acid mycolic là các phần tử có mạch dài phân nhánh thuộc chi
Nocardia, Rhodococcus, Mycobacterium và corynebacter. Đây là đặc điểm phân loại

SM
)
100 X
)(
dSS
SS
SM
NNN
NN
S
AB
++
+
=
−+
−+
Trong đó:
)( AB
SM
S
: Mức độ giống nhau giữa hai cá thể A, B (%).
+
S
N
: Số các tính trạng giống nhau.
d
N
: Số các tính trạng khác nhau.

S

1.3. Cellulose và cellulase
1.3.1. Cellulose
Cellulose là polyme sinh học nhiều nhất và bền vững nhất trong tự nhiên
(Murashima, 2002), là thành phần cấu tạo chủ yếu của thành tế bào thực vật.
1.3.1.1. Cấu trúc
Cellulose là một polysaccharide mạch thẳng, gồm nhiều đơn vị β - D- Glucose
nối với nhau bằng liên kết β - 1, 4 - glucoside. Công thức cấu tạo là (C
6
H
10
O
5
)
n
hay
[C
6
H
7
O
2
(OH)
3
]
n
, trong đó n có thể nằm trong khoảng 5.000 - 14.000. Do đó, trọng
lượng của phân tử cellulose dao động từ 50.000 – 2.500.000 Dalton tùy thuộc nguồn
gốc loài thực vật [9].
8
Cấu trúc của cellulose không đồng nhất và thường có 2 vùng:

vật hay thực vật như những enzyme khác, nó được tổng hợp bởi vi sinh vật. Enzyme
cellulase bao gồm 3 loại:
- Exoglucanase :
Enzyme này còn có tên gọi khác là exo – β - 1, 4 - glucanase, cellulase C1,
cellobiohydrolase, CBH1, cellobiosidase, exo - cellobiohydrolase, avicelase, exo - β -
glucancellobiohydrolase, β - 1, 4 - glucancellobiosidase…
Enzyme này thủy phân liên kết β - 1, 4 - glucoside từ đầu không khử của chuỗi
cellulose tạo thành cellobiose. Emzyme này không thủy phân cellulose dạng kết tinh
và dạng hòa tan mà chỉ làm thay đổi tính chất hóa lý của chúng, nhưng chúng có thể
thủy phân được cellulose đã được cắt ngắn [9].
9
Hình 1.2. Cơ chế hoạt động của exoglucanase
- Endoglucanase
Enzyme này còn có tên gọi khác là endo - β - 1, 4 - glucanase, endocellulase,
CMCase, C
x
, β - 1, 4 - endoglucanhydrolase, celludextrinase, cellulosin AP, alkali
cellulase, cellulase A, pancellase SS…
Enzyme này thủy phân liên kết β - 1, 4 - glucoside một cách ngẫu nhiên bên
trong chuỗi cellulose giải phóng cellodextrin, cellobiose và glucose. Nó tác động mạnh
đến cellulose vô định hình nhưng tác động yếu đến cellulose kết tinh [9].
Hình 1.3. Cơ chế hoạt động của Endoglucanase
- β – glucosidase
Enzyme này còn có tên gọi khác là cellobiase β – D - glucosidase, β - 1, 6
-glucosidase, salicinase…
Enzyme này thủy phân cellobiose và các cello-oligosacchride mạch ngắn thành
glucose [9].
Hình 1.4. Cơ chế hoạt động của β-glucosidase
Như vậy, để thủy phân hoàn toàn cellulose cần sự có mặt của cả 3 loại enzyme trên.
1.3.2.2. Tính chất

Giai đoạn 3: dưới tác động của enzyme β - glucosidase, các cellobiose bị thủy
phân thành các gốc glucose.

Hình 1.5. Cơ chế thủy phân cellulose
11
1.3.3. Sự hình thành cellulase từ xạ khuẩn
Hệ enzyme ở vi sinh vật vô cùng phong phú. Vi sinh vật có thể đồng hóa hầu
hết các chất trong tự nhiên, từ các hợp chất đơn giản như N
2
, CO
2
, CH
4
… đến các hợp
chất hữu cơ phức tạp như tinh bột, lipid, protein, cellulose… Điều này chứng tỏ trong
tế bào vi sinh vật phải chứa những hệ enzyme tương ứng.
Enzyme từ vi sinh vật có hoạt tính lớn hơn rất nhiều so với enzyme từ động vật
và thực vật, vì chúng có tốc độ chuyển hóa thức ăn rất lớn. Vi sinh vật sinh trưởng và
phát triển rất nhanh, hàm lượng enzyme trong cơ thể tương đối lớn. Do đó, với quy mô
sản xuất công nghiệp ta có thể thu được một lượng lớn enzyme sau một thời gian lên
men ngắn.
Khả năng sinh tổng hợp enzyme cellulase của xạ khuẩn đã được con người
nghiên cứu từ rất lâu. Ngay từ năm 1930, Jensen đã phân lập được nhiều loài
Micromonospora có khả năng sinh tổng hợp enzyme cellulase. Năm 1965, Enger và
Sleeper đã chứng minh được enzyme cellulase do Streptomyces antibiolicus sinh tổng
hợp thuộc loại C
x
, và bằng phương pháp điện di, tác giả cũng chứng minh được
enzyme này có 3 thành phần khác nhau.
Trong những năm gần đây, nhóm xạ khuẩn đang được các nhà khoa học trên

Muối nitrat là thành phần thích hợp cho quá trình sinh tổng hợp enzyme
cellulase. Muối nitrat làm kiềm hóa môi trường, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sinh
tổng hợp enzyme cellulase. Người ta thường sử dụng NH
4
NO
3
làm nguồn nitơ cho
nhiều loại môi trường nuôi cấy.
1.3.4.3. Các nguyên tố khoáng
Các nguyên tố khoáng như Mg, P, K, Mn, Zn và các nguyên tố vi lượng là một
yếu tố không thể thiếu cho sự sinh trưởng, phát triển và sinh tổng hợp enzyme
cellulase của vi sinh vật.
1.3.4.4. Nhiệt độ
Nhiệt độ ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, phát triển, sinh tổng hợp cũng
như hoạt tính enzyme của vi sinh vật. Mỗi loài vi sinh vật thích hợp với một ngưỡng
nhiệt độ khác nhau.
Các chủng xạ khuẩn có khả năng chịu nhiệt cao hơn so với các loại nấm sợi.
Enzyme cellulase từ xạ khuẩn cũng có thể hoạt động trong điều kiện nhiệt độ cao hơn
so với enzyme từ các loại nấm sợi.
1.3.4.5. Thời gian nuôi cấy
Các loài vi sinh vật khác nhau có thời gian nuôi cấy khác nhau để thu được
lượng enzyme nhiều nhất.
Xạ khuẩn thường có thời gian phát triển và sinh tổng hợp enzyme cellulase dài
hơn so với các chủng nấm sợi thông thường. Các chủng nấm sợi này chỉ mất 24 – 36
giờ là đã có hoạt lực enzyme khá mạnh, còn xạ khuẩn phải mất ít nhất 72 giờ.
1.3.4.6. pH
Mỗi loại vi sinh vật phát triển trong những điều kiện pH khác nhau.
Sự thay đổi pH phụ thuộc vào sự trao đổi chất của vi sinh vật và khả năng đệm
của cơ chất. pH tối thích cho quá trình sinh tổng hợp enzyme cellulase của nấm mốc là
4 - 6, xạ khuẩn là trong môi trường kiềm yếu.

Dựa vào đặc tính này người ta nghiên cứu từng loại kháng sinh tác động vào
một trong các thành phần của tế bào vi khuẩn, làm cho vi khuẩn không thể phát triển
và không tồn tại được.
Mỗi một nhóm kháng sinh có tác dụng khác nhau lên vi khuẩn.
Có 4 cơ chế chính của kháng sinh tác động vào tế bào vi khuẩn [24, 26]:
- Ức chế quá trình tổng hợp vỏ của vi khuẩn. Các nhóm kháng sinh gồm có
penicillin, bacitracin, vancomycin. Chúng tác động lên quá trình tổng hợp vỏ tế bào
làm cho vi khuẩn dễ dàng bị các đại thực bào tiêu diệt do thay đổi áp suất thẩm thấu.
- Ức chế quá trình trao đổi chất của màng tế bào. Các nhóm kháng sinh gồm có:
colistin, polymyxin, gentamicin, amphoterricin. Chúng ức chế quá trình trao đổi chất
của màng tế bào làm cho các phân tử có khối lượng lớn và các ion bị đẩy ra ngoài, gây
chết tế bào vi khuẩn.
- Ức chế quá trình sinh tổng hợp protein. Do đó, vi khuẩn không thể sinh sản tạo
tế bào mới.
Nhóm aminoglycoside gắn với receptor trên tiểu phân 30S của ribosome làm
cho quá trình dịch mã không chính xác.
Nhóm chloramphenicol gắn với tiểu phân 50S của ribosome ức chế enzyme
peptidyltransferase ngăn cản việc gắn các acid amin mới vào chuỗi polypeptide.
14
Nhóm macrolides và lincoxinamid gắn với tiểu phân 50S của ribosome làm
ngăn cản quá trình dịch mã các acid amin đầu tiên của chuỗi polypeptide.
- Ức chế quá trình tổng hợp acid nucleic.
Nhóm refampin gắn với enzyme RNA polymerase ngăn cản quá trình sao mã
tạo thành mRNA.
Nhóm quinolone ức chế tác dụng của enzyme DNA gyrase làm cho hai mạch
đơn của DNA không thể duỗi xoắn làm ngăn cản quá trình nhân đôi của DNA.
Nhóm sulfamide có cấu trúc giống PABA (p - aminobenzonic acid) có tác dụng
cạnh tranh PABA và ngăn cản quá trình tổng hợp acid nucleotid.
Nhóm trimethoprim tác động vào enzyme xúc tác cho quá trình tạo nhân purin
làm ức chế quá trình tạo acid nucleic.

Neomycin: là chất kháng sinh phổ rộng, có nguồn gốc từ xạ khuẩn
Streptomyces fradiae. Tác dụng lên cả vi khuẩn Gram (+) và vi khuẩn Gram (-). Đặc
biệt là chống được nhiều loài vi khuẩn kháng penicillin và streptomycin [10].
Gentamycin: là chất kháng sinh phổ rộng, có nguồn gốc từ xạ khuẩn
Micromonospora purpurea. Tác dụng lên vi khuẩn Gram (+) như tụ cầu khuẩn, phế
cầu khuẩn đã kháng penicillin và vi khuẩn Gram (-) như màng não cầu, lậu cầu. Chủ
yếu được sử dụng để điều trị các bệnh do nhiễm Pseudomonas [1].
Tetracyclin: là kháng sinh phổ rộng, được tách chiết từ dịch nuôi cấy một số
chủng xạ khuẩn thuộc chi Streptomyces. Tác dụng trên cả vi khuẩn Gram (-) và vi
khuẩn Gram (+). Ngoài sử dụng trong y học, tetracycin còn được sử dụng trong chăn
nuôi, thú y [1, 7].
Cloramphenicol: có nguồn gốc từ xạ khuẩn Streptomyces venezuela. Được
phát hiện năm 1947, có tác dụng trên nhiều loài vi khuẩn Gram (+) và Gram (-). Ngoài
việc được sử dụng trong y học, chất kháng sinh này còn được sử dụng trong chăn nuôi,
thú y và thủy sản [1].
Erythromycin: là chất kháng sinh có phổ rộng đối với vi khuẩn Gram (+), có
nguồn gốc từ xạ khuẩn Streptomyces erythreus. Được sử dụng nhiều nhất trong điều trị
bệnh viêm phổi do Mycoplasma và viêm họng do liên cầu khuẩn [1].
Novobicin: có nguồn gốc từ xạ khuẩn Streptomyces spheroides và
Streptomyces niverus. Có hoạt tính kháng khuẩn mạnh đối với vi khuẩn Gram (+). Đặc
biệt có khả năng kháng các tụ cầu khuẩn đã kháng penicillin và một số chất kháng sinh
khác [1, 20].
Amphoterycin B: có nguồn gốc từ xạ khuẩn Streptomyces nodosus. Được dùng
để điều trị các bệnh ngoài da do nấm Candida abbicans gây ra [20].
Dactinomycin: có nguồn gốc từ xạ khuẩn Streptomyces antibiticus. Có tác
dụng kìm hãm sự phát triển của các khối u ác tính. Được sử dụng để điều trị một số
bệnh ung thư [20].
Daunorubixin: có nguồn gốc từ xạ khuẩn Streptomyces coeruleorubidus. Được
dùng để điều trị bệnh bạch cầu cấp tính, bệnh Hodgkin [20].
1.4.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh tổng hợp chất kháng sinh

men mà còn phụ thuộc vào chất lượng của bào tử và giống sinh dưỡng. Tuổi giống cấy
truyền vào môi trường lên men cho hiệu suất sinh chất kháng sinh cao nhất thường là
24 giờ tuổi. Lượng giống cấy truyền khoàng 2 – 10% [14].
1.4.5.3. Ảnh hưởng của thành phần môi trường lên men
Chất kháng sinh là sản phẩm thứ cấp nên quá trình sinh tổng hợp chất kháng
sinh phụ thuộc chặt chẽ vào thành phần môi trường. Quan trọng nhất là nguồn carbon,
nitơ, tỷ lệ C/N, các chất khoáng [7, 12].
 Nguồn carbon
Các hợp chất carbon có ý nghĩa hàng đầu đối với sự sinh trưởng và hình thành
chất kháng sinh. Đối với nhiều chủng xạ khuẩn, nguồn carbon thích hợp là tinh bột.
Tuy nhiên, tùy từng chủng khác nhau mà khả năng sử dụng các nguồn đường là khác
nhau. Có những chủng sử dụng tốt các loại đường đơn như glucose, mannose,
fructose…, có những chủng sử dụng tốt các loại đường đôi như sucrose, maltose…
Ngoài ra, một số chủng còn có khả năng sử dụng một số loại acid hữu cơ và chất béo
làm nguồn carbon trong lên men chất kháng sinh.
 Nguồn nitơ
Hầu hết các chủng xạ khuẩn sinh chất kháng sinh đều đòi hỏi cả 2 nguồn nitơ
vô cơ và hữu cơ. Nguồn nitơ thích hợp nhất thường là các hợp chất từ thực vật như bột
đậu tương, cao ngô. Cao ngô là nguồn bổ sung cả nitơ và protein, tuy nhiên lượng
phosphate cao trong cao ngô sẽ ức chế quá trình sinh tổng hợp chất kháng sinh [21].
Nguồn nito vô cơ thường được sử dụng là muối amôn. Muối nitrat không thích hợp
cho sinh tổng hơp chất kháng sinh ở nhiều loài xạ khuẩn.
 Nguồn phosphate vô cơ
Phosphate vô cơ đóng vai trò như chất điều chỉnh sinh tổng hợp chất kháng
sinh. Nồng độ phosphate thích hợp cho sinh tổng hợp chất kháng sinh thường không
vượt quá 10mg/ml. Nồng độ phosphate ban đầu cao sẽ làm tăng lượng acid nucleic dẫn
tới kéo dài pha sinh trưởng, rút ngắn pha tổng hợp, làm tăng ATP trong tế bào, dẫn đến
làm giảm hay ngưng hẳn quá trình sinh tổng hợp chất kháng sinh.
 Các yếu tố vi lượng
Đây là thành phần không thể thiếu trong môi trường lên men. Nếu môi trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status