Bài báo cáo: Khoa Học Trái Đất GVHD: Ths. Bùi Thị Luận
LỜI NÓI ĐẦU
Khoáng sản là một loại vật chất không thể thiếu trong cuộc sống của con
người. Đó là kết quả của một quá trình hoạt động phức tạp diễn ra bên
trong lòng đất. Quá trình đó diễn ra liên tục, thường xuyên và ta chỉ có thể
nghiên cứu, nhận ra chúng thông qua sóng điện từ mà chúng phát ra trong
quá trình hoạt động.
Hiện nay với khoa học kỹ thuật tiến bộ, con người đã khám phá ra rất
nhiều các loại khoáng sản, đáp ứng nhu cầu của con người. Họ đã phân
loại, lựa chọn và đánh giá công dụng của từng loại khoáng sản.
Các nguồn khoáng sản ảnh hưởng đến đời sống, đến sức khỏe và cả
môi trường xung quanh con người. Nếu biết cách sử dụng, khoáng sản trở
thành vật chất hết sức quý hiếm. Đặc biệt, Khoáng sản ảnh hưởng rõ rệt
đến sản xuất của con người, là nguồn nguyên vật liệu cho quá trình sản
xuất đó.
Thế nhưng, hiện nay con người đang khai thác không hợp lý nguồn tài
nguyên này, sử dụng không hiệu quả, đưa đến một yêu cầu rất cấp bách
đó là việc quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả nhất, đồng thời tìm ra
các loại vật chất thay thế khác, cải tạo và bảo vệ nguồn tài nguyên Khoáng
sản là góp phần bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta.
Nhận thấy vấn đề này, nhóm chúng em đã tìm hiểu, tìm ra các khái
niệm, phân loại khoáng sản, và việc ảnh hưởng của Khoáng sản lên sản
xuất của con người.
Xin cám ơn Th.s Bùi Thị Luận, cô đã giới thiệu tài liệu, hướng dẫn tận
tình. Mong Thầy Cô và các bạn tham khảo và cho nhận xét, để bài báo cáo
hoàn chỉnh hơn nữa.
1
Bài báo cáo: Khoa Học Trái Đất GVHD: Ths. Bùi Thị Luận
I.Định nghĩa:
Khoáng là khoa học mà các phân tích khoáng sản. Ở đây chúng ta phải
xác định những gì là khoáng sản. khoáng sản là một vật liệu rắn hoặc lỏng
đơn giản nhất là một yếu tố, nhưng hầu hết các khoáng chất là các phân tử
hoặc các ion và do đó họ đã có một công thức hóa học. Các công thức
hóa học được mô tả trong chương về khoáng sản. Ở đây chúng tôi sẽ
xem xét các khoáng sản lớp 9, trong đó các khoáng vật được sắp xếp.
2
Bài báo cáo: Khoa Học Trái Đất GVHD: Ths. Bùi Thị Luận
1. Các yếu tố (kim cương, vàng, bạc)
2. Sulfua, selenides, tellurides, asenua, antimonides và bismutides
(pyrit)
3. Halogenua (fluorit, đá muối)
4. Oxit và hydroxit (corundum, thạch anh)
5. Nitrat, cacbonat và borat (canxit, malachite)
6. Sulfat, crômat, molybdates và tungstenates (thạch cao tuyết hoa)
7. Phosphat, asenat và vanadates (turkis)
8. Silicat (fenspat, topaz)
9. Các kết nối hữu cơ (hổ phách)
Hầu hết các tinh thể khoáng chất hình thức. Tinh thể là một lệnh đối xứng
của các nguyên tử, phân tử hoặc các ion. Nó được gọi là tinh thể lưới. An
để tùy ý được gọi là amorph. Hiện có 7 hệ tinh thể khác nhau đối với
khoáng sản (hinh lập phương, monoclinical, triclinical, lục giác, tam giác,̀
bốn phương, rhombical). Ví dụ như Rock muối kết tinh trong hệ thống hinh̀
lập phương. Bởi vì đá muối (NaCl) cũng phổ biến muối (NaCl), chúng ta
có thể nhìn thấy hình khối nhỏ trên muối thường. Nó là dễ dàng hơn để
nhìn thấy trong phần lớn hơn. Vì vậy, khoáng sản kết tinh trong hệ thống
hinh lập phương đã có hình thức một khối lập phương và. Quartz̀
corundum (ruby, saphia) kết tinh trong hệ thống tam giác. Khi vật liệu
không đến thường xuyên trong quá trình hình thành các tinh thể khoáng
sản một sau đó sẽ không được hoàn hảo. Các yếu tố khác cũng ảnh
hưởng của một hình thức sai lầm của tinh thể. Một phòng quá nhỏ hoặc
các tài liệu khác có thể thay đổi hình thức tinh thể, quá. Gần như không
topaz
9
corundum
10 viên kim
cương
Nhiều khoáng sản có thể được splited nghĩ rằng một tác động với một cái
búa. khoáng sản có thể được splited tốt trong một hướng, nhưng không ở
trong ví dụ khác. Ngoài ra còn có khoáng sản mà không có một fissileness
nhất định. Họ chia ngẫu nhiên. Ở đây chúng tôi có thể xem trong giờ giải
lao. Màu sắc là tài sản dễ dàng nhất. Có những khoáng chất không màu,
giống như đá tinh thể và viên kim cương. quartzs khác như ametit là đã có
một màu sắc, vì phụ gia. Họ là những màu nguyên khoáng sản. Nhóm
thứ ba là khoáng sản mà có được một màu sắc riêng, vì chất hóa học và
tính chất vật lý. Để xem Thời tiết là một khoáng chất màu hoặc đã có một
màu sắc riêng của chúng tôi có thể vượt qua nó trên một bề mặt và nhìn
vào sự mài mòn. Nó là màu dòng. Các bóng của một khoáng sản là một
tài sản. Anh có kim cương, Glos thủy tinh, chất béo và kim loại bóng Anh.
minh bạch là rất quan trọng, quá. khoáng sản Clear đã có một sự minh
bạch cao, nhưng minh bạch được gây ra bởi các hóa chất và tính chất vật
lý của khoáng sản.
Khoáng sản là thành tạo khoáng vật của lớp vỏ Trái Đất, mà thành phần
hóa học và các tính chất vật lý của chúng cho phép sử dụng chúng có hiệu
quả và lợi ích trong lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất của nền kinh tế
quốc dân.
Khoáng sản là một vật liệu rắn hoặc lỏng với các chất hóa học nhất định và
tính chất vật lý mà là ở trái đất.
Theo mục đích và công dụng người ta chia ra thành các dạng khoáng sản
sau:
• Khoáng sản nhiên liệu hay nhiên liệu hóa thạch bao gồm dầu mỏ, hơi
đốt, đá phiến dầu, than bùn, than v.v.
5. Thảm thực vật.
Trong quá trình thăm dò khoáng sản, người ta thường sử dụng các
phương pháp như đào giếng, mương, hào, rãnh, các đường xẻ hay tiến
hành khoan các lỗ khoan v.v. để bắt gặp thân quặng.
5
Bài báo cáo: Khoa Học Trái Đất GVHD: Ths. Bùi Thị Luận
Diện tích phổ biến
Theo diện tích phổ biến của khoáng sản, người ta chia ra như sau:
• Tỉnh khoáng sản là một phần lớn lớp vỏ Trái Đất, tương quan với
nền địa chất, các đới uốn nếp hay đáy đại dương, với các mỏ khoáng
sản phân bố trong phạm vi của nó và vốn có của nó. Chẳng hạn,
người ta chia ra các tỉnh Kavkaz, tỉnh Ural (Nga) v.v. Đôi khi người ta
cũng phân biệt tỉnh kim loại, tỉnh than, tỉnh dầu khí v.v.
• Vùng (đới, bể/bồn) khoáng sản chiếm một phần của tỉnh và được đặc
trưng bằng một tập hợp các mỏ khoáng sản xác định về thành phần
và nguồn gốc, được xếp vào một và chỉ một nhóm thành phần kiến
tạo bậc nhất (nếp lồi ghép, nếp lõm v.v). Các đới khoáng sản có thể
là thuần nhất mà cũng có thể là không thuần nhất theo thành phần
khoáng sản, kích thước của nó dao động trong các giới hạn rộng.
Các bể khoáng sản tạo thành các vùng có sự phổ biến liên tục hay
gần như liên tục của các khoáng sản dạng vỉa.
• Khu khoáng sản tạo thành một phần của vùng và thường được đặc
trưng bằng sự tập trung cục bộ của các mỏ, và liên quan tới điều
này, khu khoáng sản không hiếm khi được gọi là đầu mối khoáng
sản.
• Bãi quặng là một nhóm các mỏ đồng nhất về nguồn gốc và thống
nhất về cấu trúc địa chất. Bãi khoáng sản cấu thành từ các mỏ, còn
các mỏ cấu thành từ các thân quặng.
• Thân quặng hay vỉa quặng là sự tích tụ cục bộ của nguyên liệu
khoáng vật thiên nhiên, có thành phần cấu trúc-thạch học xác định
cấp, trợ giá v.v. (trữ lượng kinh tế/thương mại có giới hạn).
• Trữ lượng không cân đối (kinh tế tiềm năng/phi kinh tế). Chúng chia
ra thành:
o Các trữ lượng, đảm bảo các yêu cầu được đề ra đối với các trữ
lượng cân đối, nhưng việc sử dụng chúng tại thời điểm đánh
giá là không thể, theo các điều kiện và tình trạng của kỹ thuật
khai mỏ, các yêu cầu của luật pháp, các yêu cầu sinh thái-môi
trường và/hoặc các điều kiện khác;
o Các trữ lượng, mà việc khai thác hay thu hồi chúng tại thời
điểm đánh giá là không hợp lý về mặt kinh tế do hàm lượng
thành phần khoáng sản thấp,
bề dày thân quặng mỏng hay
sự phức tạp chuyên môn đặc
7
Bài báo cáo: Khoa Học Trái Đất GVHD: Ths. Bùi Thị Luận
biệt trong các điều kiện khai thác và/hoặc chế biến nó, nhưng
việc sử dụng nó trong tương lai gần có thể trở thành hiệu quả
về mặt kinh tế-thương mại do sự gia tăng giá cả của khoáng
sản trên thị trường hay do các tiến bộ khoa học-kỹ thuật đảm
bảo cho việc giảm giá thành sản xuất của khoáng sản đó.
Các trữ lượng không cân đối được kiểm định và tính toán trong trường
hợp, nếu các tính toán kinh tế-kỹ thuật đưa ra khả năng hoặc là bảo tồn nó
trong lòng đất để khai thác sau này; hoặc chỉ ra sự hợp lý của việc vừa
khai thác hiện tại vừa lưu giữ và bảo tồn để sử dụng trong tương lai.
Mẫu quặng Rubi Lục Yên, Yên Bái
Trong tính toán các trữ lượng không cân đối người ta chia chúng ra thành
các tiểu thể loại, phụ thuộc vào nguyên nhân làm chúng trở thành không
cân đối (kinh tế, kỹ thuật, kỹ thuật khai mỏ, sinh thái, môi trường v.v.).
Đánh giá tính chất cân đối của các trữ lượng khoáng sản được thực hiện
trên cơ sở các luận chứng kinh tế-kỹ thuật chuyên môn, được thẩm định
Tiêu thụ năng
lượng trên thế giới tăng mỗi năm khoảng 2,3%.
Các nhiên liệu hóa thạch là tài nguyên không tái tạo bởi vì trái đất mất
hàng triệu năm để tạo ra chúng và lượng tiêu thụ đang diễn ra nhanh hơn
tốc độ được tạo thành. Sản lượng và tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch làm tăng
các mối quan tâm về môi trường. Thế giới đang hướng tới sử dụng các
nguồn năng lượng tái tạo là một trong những cách giúp giải quyết vấn đề
tăng nhu cầu năng lượng.
Việc đốt nhiên liệu hóa thạch tạo ra khoảng 21,3 tỉ tấn carbon dioxide hàng
năm, nhưng người ta ước tính rằng các quá trình tự nhiên có thể hấp thu
phân nửa lượng khí thải trên, vì vậy hàm lượng cacbon dioxit sẽ tăng
10,65 tỉ tấn mỗi năm trong khí quyển (một tấn cacbon tương đương 44/12
hay 3,7 tấn cacbon đioxit). Cacbon đioxit là một trong những khí nhà kính
làm tăng lực phóng xạ và góp phần vào sự nóng lên toàn cầu, làm cho
nhiệt độ trung bình bề mặt của Trái Đất tăng.
Nguồn gốc:
Nhiên liệu hóa thạch được hình thành từ quá trình phân hủy kỵ khí của xác
các sinh vật, bao gồm thực vật phù du và động vật phù du lắng đọng xuống
9
Bài báo cáo: Khoa Học Trái Đất GVHD: Ths. Bùi Thị Luận
đáy biển (hồ) với số lượng lớn trong các điều kiện thiếu ôxy, cách đây
hàng triệu năm. Trải qua thời gian địa chất, các hợp chất hữu cơ này trộn
với bùn, và bị chôn vùi bên dưới các lớp trầm tích nặng. Trong điều kiện
nhiệt độ và áp suất cao làm cho các vật chất hữu cơ bị biến đổi hóa học,
đầu tiên là tạo ra kerogen ở dạng sáp. Chúng được tìm thấy trong các đá
phiến sét dầu và sau đó khi bị nung ở nhiệt cao hơn sẽ tạo ra hydrocacbon
lỏng và khí bởi quá trình phát sinh ngược.
Ngược lại, thực vật đất liền có xu hướng tạo thành than. Một vài mỏ than
được xác định là có niên đại vào kỷ Phấn trắng.
Các ví dụ so sánh tương đối: