PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước Đảng ta luôn luôn coi trọng
yếu tố văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội là sự kết tinh những giá trị tốt
đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên.
Văn hoá vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và là mục tiêu của
chúng ta. Trong quá trình chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền
kinh tế thị trường có sự định hướng của nhà nước. Văn hoá ngày càng đóng
góp vai trò điều tiết tinh thần, góp phần đắc lực vào việc khai thác những
nhân tố tích cực hạn chế nhân tố tiêu cực của mối quan hệ hàng hoá - tiền tệ
trong xã hội, văn hoá giữ vai trò góp phần hình thành một con đường phát
triển phù hợp với đặc điểm của dân tộc và xu hướng phát triển của thế giới.
Gần đây các học giả quốc tế nói nhiều, nghiên cứu nhiều về các yếu tố thành
công của các nước có nền công nghiệp mới (Wics) trong phát triển trong khu
vực Đông Á - Đông Nam Á (là những con rồng – con hổ trong phát triển kinh
tế). Sự thành công và năng động đó được xác nhận là sự bắt nguồn từ các yếu
tố văn hoá truyền thống, trong đó tính cộng đồng, tính ý thức dân tộc thể hiện
rất cao trong quan hệ kinh doanh: sự ham học hỏi, sáng tạo, tính nghiêm túc,
kỷ luật cao trong công việc đã được nhấn mạnh và được coi là những nhân tố
thúc đẩy quá trình tăng kinh tế bền vững, cân đối của các nước này. Và đặc
biệt trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam với rất nhiều
các quan hệ kinh tế đan xen nhau bên cạnh mặt tích cực, đã xuất hiện nhiều
mặt tiêu cực làm nảy sinh các hành vi kinh doanh thiếu đạo đức – phi văn
hoá, chayjt heo lợi nhuận ảnh hưởng đến văn hoá kinh doanh, đến các giá trị
kinh doanh nền tảng của nền kinh tế thị trường – làm cho các giá trị đó bị đảo
lộn, đe doạ sự bất ổn cho hoạt động kinh tế, chính vì tính cấp thiết của sự
xuống cấp thang giá trị đó. Ngoài mục đích đưa ra những nhận thức chung về
văn hoá kinh doanh. Còn lý do thứ hai là em muốn nhấn mạnh hơn xây dựng
1
văn hoá kinh doanh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đó là lý do vì sao
em lựa chọn đề tài:
Tuy nhiên, văn hoá kinh doanh là những phạm trù rộng lớn có nhiều mối
và phát triển văn hoá là lao động của con người, phương thức hiện lao động
và kết quả của lao động và kết quả lao động.
Còn theo giáo trình quản lý xã hội khái niệm văn hoá: là một thiết chế xã
hội cơ bản, là một phức thể, tổng thể các đặc trưng – diện mạo về tinh thần, vật
chất, tri thức, tình cảm...khắc hoạ nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm
làng, vùng miền quốc gia, xã hội....văn hoá có thể là hữu thể, có thể là vô hình.
3
Như vậy, dù theo định nghĩa, mọi định nghĩa văn hoá đều chứa một nét
chung là “con người” đều thừa nhận và khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa
văn hoá với con người. Văn hoá và con người là hai khái niệm không tách rời
nhau. Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hoá. Trong suốt lịch sử hình thành
và phát triển của mình, con người luôn sáng tạo không ngừng để làm nên giá
trị văn hoá. Một trong số những giá trị văn hoá được con người sáng tạo ra ấy
chính là bản thân con người – con người có văn hoá. Con người sáng tạo ra
văn hoá, đồng thời chính con người cũng là sản phẩm của văn hoá.
Trong sơ đồ 1 chỉ rõ: văn hoá là toàn bộ của cải vật chất, tinh thần do
con người sáng tạo ra trong lịch sử để vươn tới cái đúng, cái đẹp, cái tốt, cái
hợp lý và sự phát triển bền vững an toàn cho cộng đồng, xã hội và nhân loại.
Sơ đồ 1: Cấu trúc văn hoá
4
Văn hoá (cộng đồng, gia
đình, xóm, làng, vùng,
miền, quốc gia, nhân loại
Văn hoá hữu thể
(vật chất)
Văn hoá vô
hình(tinh thần)
Di
tích
lịch
Lối
sốn
g
Tôn giáo
tín
ngưỡng
Giá
o
dục
...
Sự phát triển bền vững, an
toàn.
+ Cái đúng + cái đẹp
+ Cái tốt + cái hợp lý
- Văn hoá vật chất: là toàn bộ những giá trị sáng tạo của con người được
thể hiện trong các của cải vật chất do xã hội tạo ra kể từ các tư liệu sản xuất
cho đến các tư liệu tiêu dùng của xã hội. Trong các giai đoạn khác nhau của
xã hội thì các sản phẩm do xã hội tạo ra cũng khác nhau, phản ánh các giai
đoạn phát triển khác nhau của văn hoá.
- Văn hoá tinh thần: là toàn bộ những giá trị của đời sống tinh thần, bao
gồm khoa học ở mức độ áp dụng của thành tựu khoa học vào sản xuất và sinh
hoạt, trình độ học vấn, tình trạng, giáo dục y tế, nghệ thuật, chuẩn mực đạo
đức trong hành vi của các thành viên trong xã hội, trình độ phát triển nhu cầu
con người...văn hoá còn bao gồm những phong tục tập quán, những phương
thức giao tiếp ngôn ngữ.
Ranh giới giữa văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần chỉ có tính chất
tương đối.
- Văn hoá mang tính giai cấp, nó phục vụ cho giai cấp nhất định. Tính
giai cấp đó biểu hiện ở chỗ văn hoá do ai sáng tạo ra, phản ánh và phục vụ
cho lợi ích của giai cấp nào, những cơ sở vật chất của văn hoá (các phương
Văn hoá trong kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hoá vào hoạt
động kinh doanh của chủ thể, là cái văn hoá mà các chủ thể kinh doanh tạo ra
trong quá trình kinh doanh, hình thành nên những kiểu kinh doanh ổn định và
đặc thù của họ.
Việc sử dụng các nhân tố văn hoá vào hoạt động kinh doanh sẽ đem lạij
cho kinh doanh và chủ thể kinh doanh một sử mạng cao cả. Đó là sứ mệnh
phát triển con người, đem lại sự giàu có, hạnh phúc cho mọi người, sự phồn
vinh và vững mạnh của đất nước, sự vẻ vang của dân tộc. Nhận thức được sứ
mệnh ấy con người sẽ hay say lao động, không ngại khó khăn gian khổ, thậm
chí hy sinh cả lợi ích riêng của mình đóng góp vào lợi ích chung vì xã hội. Do
đó, văn hoá trong kinh doanh là bộ phận cấu thành của nền văn hoá dân tộc,
phản ánh trình độ của con người trong lĩnh vực kinh doanh. Bản chất của văn
hoá trong kinh doanh đó là làm cho cái lợi gắn chặt chẽ với cái đúng cái tốt,
6
cái đẹp. Cái lợi đó tuân theo cái đúng, cái tốt, cái đẹp. Ngược lại cái đúng, cái
tốt, cái đẹp là cơ sở bền vững cho hoạt động sinh ra cái lợi. Văn hoá kinh
doanh cuả các nhà kinh doanh, của doanh nghiệp được nhận biết qua hai
phương diện chính.
Một là: các nhân tố văn hoá (hệ giá trị, triết lý sống, tâm lý) được vận
dụng vào quá trình kinh doanh để tạo ra các sản phẩm hàng hoá về dịch vụ
phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng có văn hoá. Đó chính là kiểu
kinh doanh có văn hoá, kiểu kinh doanh phù hợp với nét đẹp của văn hoá dân
tộc.
Hai là: cái giá trị, sản phẩm văn hoá như hệ giá trị, triết lý, tập tục riêng,
nghệ thuật kinhdoanh...mà chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình hoạt
động và làm nghề kinh doanh của họ, có tác dụng cổ vũ biểu dương đối với
kiểu kinh doanh có văn hoá mà họ đang theo đuổi. Đó chính là lối sống có
văn hoá của các chủ thể kinh doanh.
Đề cao cái lợi của hoạt động kinh doanh gắn liền với cái đúng, cái tốt,
cái đẹp, nhằm thoả mãn có chất lượng nhu cầu và thị hiếu của đời sống xã
một nền tảng văn hoá, đồng thời văn hoá không chỉ phản ánh kinh tế mà còn
là nhân tố tác động đến phát triển kinh tế. Với mối quan hệ đó, sự phát triển
của mỗi quốc gia, dân tộc chỉ có thể năng động hiệu quả, có tốc độ cao chừng
nào quốc gia đó đạt được sự phát triển kết hợp hài hoà giữa kinh tế với văn
hoá.
- Văn hoá mang tính đặc thù của từng quốc gia, từng khu vực được coi là
những di sản quý báu bán tích lũy được qua nhiều thế hệ, mang đậm bản sắc
dân tộc. Nhưng đồng thời, với quá trình phát triển, kế thừa và giữa gìn bản sắc
riêng, nó còn tiếp thu những tinh hoa văn hoá của quốc gia, dân tộc khác, làm
cho văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc vừa có tính hiện đại phù hợp với sự phát
triển kinh tế trong điều kiện cách khoa học – kỹ thuật, làm cho vai trò của văn
hoá trong hoạt động kinh tế càng được nâng cao và thiết thực khơi dậy mọi
8
tiềm năng sáng tạo của con người, đem lại sự phát triển cao với tốc độ cao và
hài hoà trong hoạt động sản xuất – kinh doanh.
9
III. VAI TRÒ CỦA VĂN HOÁ TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT – KINH
DOANH.
Theo luật doanh nghiệp, Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1992, kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng
dịch vụ trên thị trường nhàm mục đích sinh lợi (Điều 3, Chương I, Luật doanh
nghiệp).
Văn hoá, với tư cách là những giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo ra, đương nhiên nó trở thành di sản, thành tiền đề cho bất kỳ quá
trình phát triển và tiếp theo. Những giá trị vật chất đã sáng tạo ra đương nhiên
là cơ sở không thể thiếu được của sự phát triển ở các giai đoạn kế tiếp. Những
giá trị văn hoá tinh thần phục vụ cho một nhu cầu không thể thiếu của con
người, nó đảm bảo chất lượng của yếu tố con người – yếu tố cơ bản trong
hoạt động sản xuất kinh doanh từ đó nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu
biểu hiện, hoặc xung đột về suy nghĩ và hành động. Mỗi người trong quá trình
sản xuất kinh doanh, nếu có trình độ am hiểu sâu sắc về sinh hoạt xã hội sẽ
tạo ra được các ấn tượng, các mối quan hệ tốt đẹp với người khác, tạo được
bầu không khí thoả mái tin tưởng lẫn nhau trong tập thể lao động, đảm bảo
quan hệ kinh doanh dễ dàng.
3. Các di sản văn hoá của một nền văn minh cổ xưa có vai trò tạo ra
động lực tinh thần trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Phân tích so sánh các quá trình phát triển và tồn tại của một nền văn
minh giúp cho con người hiện đại nhìn lại từ quá khứ, biết được khả năng của
chính dân tộc mình, từ đó xem xét hiện tượng và hướng tới tương lai.
4. Các yếu tố văn hoá trong kinh doanh tạo sự phát triển hài hoà,
lành mạnh của mỗi quốc gia, tạo ra sức sống của sản phẩm hàng hoá và
dịch vụ trên thị trường, tạo ra sức mạnh cộng đồng cho phát triển, tạo
điều kiện cho tái sản xuất lao động, góp phần nâng cao năng suất lao
động và hiệu quả kinh doanh...
Mọi nền sản xuất, suy cho cùng đều nhằm thoả mãn ngày càng cao các
lợi ích vật chất và tinh thần của con người. Đó vừa là mục tiêu, vừa là động
11
cơ thúc đẩy hành động của con người. Nếu quá trình kinh doanh chỉ vì lợi
nhuận đơn thuần như vậy thì về mặt kinh tế, quốc gia đó sẽ phát triển lệch
lạch những ngành và lĩnh vực ít lợi nhuận sẽ không phát triển được và do vậy
không thể đáp ứng được mọi nhu cầu của con người. Về mặt xã hội, con
người sẽ mất nhân cách đạo đức xã hội xuống cấp, tội ác gia tăng.
Nói đến kinh doanh, là nói đến việc sử dụng tri thức và kiến thức. Sử
dụng tri thức đó đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa cá nhân, các cộng
đồng người để khai thác hết kho tàng tri thức đó phục vụ cho sản xuất kinh
doanh, trí tuệ của mỗi người sẽ bổ sung cho nhau tạo ra trí tuệ tập thể ở một
trình độ cao và hoàn thiện hơn. Sự kết hợp đó là nét đẹp văn hoá trong kinh
doanh và chính nó tạo ra sức mạnh của tập thể, của cộng đồng.
Phục vụ đáp ứng những nhu cầu cụ thể của con người về sản phẩm hàng