VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
___________________
PHẠM ĐÌNH HUỲNH
CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ DI SẢN THẾ GIỚI
Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN DI SẢN THIÊN NHIÊN
THẾ GIỚI VỊNH HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN THỊ ANHà Nội - Năm 2015
1
MỤC LỤC
CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH CÔNG 1
MÃ SỐ: 60 34 04 02 1
HÀ NỘI - NĂM 2015 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 3
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN 4
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ DI SẢN
THẾ GIỚI Ở VIỆT NAM 14
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ DI SẢN THẾ GIỚI VỊNH
HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH, GIAI ĐOẠN 2010-2014 38
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ DI SẢN
THẾ GIỚI Ở VIỆT NAM 73
KẾT LUẬN 86
sản thế giới
26
3 Bng 2.1
Phân tích chủ thể chính sách quản lý di
sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long
49
4 Bng 2.2
Bảng thống kê số liệu rác thải thu gom
trên Vịnh
60
5 Bng 2.3
Bảng thống kê hoạt động đào tạo của
Ban quản lý vịnh Hạ Long
63
6 Bng 2.4
Thống kê các vụ vi phạm trên vịnh Hạ
Long
64
7 Bng 2.5
Ngân sách hoạt động vịnh Hạ Long
67
8 Bng 2.6
Bảng so sánh thu phí tại các di sản thế
giới ở Việt Nam năm 2014
67
9 Hình 2.7
Bảng thống kê lượng khách du lịch đến
vịnh Hạ Long năm 2010-2014
69
4
+ Di sản tư liệu thế giới Mộc bản triều Nguyễn (2009), Bia tiến sỹ Văn
Miếu (2010), Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm
(2012), Châu bản triều Nguyễn (2014).
+ Mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển:
Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập
mặn Cần Giờ
(2000),
Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà
(2004),
Khu dự trữ sinh quyển
châu thổ sông Hồng
(2004),
Khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang
(2006),
Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An
(2007).
Khu dự trữ sinh quyển
Mũi Cà Mau
(2009),
Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm
(2009),
Khu dự trữ sinh
quyển Đồng Nai
(2011).
+ Công viên địa chất: Cao nguyên đá Đồng Văn (2010).
Việc UNESCO công nhận các Di sản tiêu biểu của Việt Nam đã góp
phần xây dựng và quảng bá hình ảnh quốc gia, truyền bá các giá trị văn hóa
tinh thần của Việt Nam ra thế giới và bạn bè quốc tế thông qua du lịch, giao
lưu và hợp tác. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI, Đảng ta đã khẳng
định “Phát huy các di sản được UNESCO công nhận, góp phần quảng bá hình
và bảo tồn các di sản. Không hy sinh di sản để phát triển kinh tế và cũng
không vì việc bảo tồn di sản mà ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước, đây là một bài toán khó đối với các nhà quản lý các di sản.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý các di sản thế giới
tại Việt Nam, để bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa và di sản thiên
nhiên của đất nước ngang tầm quốc tế, Nhà nước ta đã phê chuẩn một số
Công ước quốc tế quan trọng của tổ chức UNESCO, đồng thời tích cực xây
dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý về bảo tồn và phát huy di sản thế
giới. Ở các địa phương có di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới đã ban hành
nhiều văn bản quy định, bảo vệ các di sản cụ thể khác để phù hợp với đặc thù
của di sản và địa phương.
Tuy nhiên, có thể thấy cơ chế chính sách quản lý các khu di sản còn
nhiều hạn chế bất cập, cụ thể:
- Các văn bản pháp luật liên quan đến công tác quản lý, bảo tồn và phát
huy di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở nước ta còn thiếu, chưa đồng bộ.
7
- Công tác quản lý di sản đang có sự chồng chéo, một di sản thuộc sự
quản lý của nhiều cơ quan, Bộ, ngành khác nhau. Bộ máy các cơ quan quản lý
di sản thế giới ở nước ta rất khác nhau, việc phân công, phân cấp, giao trách
nhiệm cụ thể cho các cơ quan quản lý di sản thế giới ở một số địa phương còn
nhiều bất cập chưa tương xứng với tầm vóc quản lý di sản thế giới. Thẩm
quyền của các cơ quan quản lý di sản còn hạn chế, hiệu quả, hiệu lực quản lý
nhà nước đối với di sản thấp.
- Nguồn tài chính cho quản lý di sản còn hạn chế, quy định quản lý và
sử dụng nguồn thu, chi tại mỗi địa phương sở hữu di sản còn rất khác nhau,
chưa tập trung nguồn lực cho các mục tiêu ưu tiên.
- Năng lực của đội ngũ các bộ làm công tác quản lý, bảo tồn di sản thế
giới còn nhiều hạn chế, công tác nghiên cứu khoa học phục vụ cho hoạt động
quản lý di sản còn yếu.
- Chưa thực sự huy động được sức mạnh tổng hợp của cộng đồng vào
lý các di sản thế giới, sự tham gia của chính phủ Việt Nam với các Công ước
quốc tế và ban hành một số chính sách liên quan đến công tác quản lý di sản.
- Từ phương diện phát huy giá trị di sản, NCS Nguyễn Thị Thống Nhất
đã có luận án “Khai thác hợp lý các di sản văn hóa thế giới nhằm phát triển du
lịch Miền Trung Việt Nam” (2014). Đề tài nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý
luận có liên quan đến hoạt động du lịch tại các di sản văn hóa thế giới và khai
thác hợp lý các di sản văn hóa thế giới nhằm thúc đẩy phát triển du lịch. Đánh
giá tính hợp lý trong khai thác các di sản văn hóa thế giới tại Miền Trung, từ
đó đề xuất các giải pháp nhằm khai thác hợp lý các di sản văn hóa thế giới
nhằm thúc đẩy phát triển du lịch Miền Trung Việt Nam.
- Một số bài báo viết về tình trạng chưa đồng bộ, còn chồng chéo trong
quản lý di sản như: “Quản lý di sản: vẫn kiểu “có nhà nhưng không thể tự
quyết” của tác giả An Ngọc đăng trên báo Việt Nam, ngày 23/05/2014;
“Khủng hoảng mô hình quản lý di sản” của tác giả Trịnh Nguyễn đăng trên
báo Thanh Niên ngày 24/05/2014; “Chồng chéo trong quản lý di sản thế giới”
9
của tác giả Quỳnh Trang đăng trên báo Vnexpress ngày 24/05/2014; “Di sản
thế giới bị khuyến nghị bảo tồn: không quá ngạc nhiên” của tác giả Hà
Phương đăng trên báo VOV ngày 30/10/2014; “Quản lý di sản còn thiếu đồng
bộ” của tác giả Hạnh Nguyễn đăng trên báo Nhân đạo và Đời sống ngày
04/6/2014; “Bất cập quản lý di sản thế giới” của tác giả Vũ Luận đăng trên
báo Nhân dân ngày 03/03/2015; “Quản lý di sản bằng gì?” Của tác giả Hương
Lê đăng trên báo Đại đoàn kết ngày 03/06/2015.
Trong các nghiên cứu, bài viết khoa học trên chưa có nghiên cứu nào
về chính sách quản lý di sản thế giới ở Việt Nam. Bởi vậy học viên xem đây
như là cố gắng khoa học đầu tiên nghiên cứu về “Chính sách quản lý di sản
thế giới ở Việt Nam từ thực tiễn Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long,
tỉnh Quảng Ninh”.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể
chính sách. Qua thực tiễn chính sách công giúp hình thành lý luận về chính
sách chuyên ngành.
5.2. Câu hỏi nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận về quản lý di sản thế giới ở Việt Nam hiện nay
là gì?
- Thực trạng thực hiện chính sách quản lý di sản thế giới ở vịnh Hạ
Long? Những kết quả đạt được đã đáp ứng đươc mục tiêu chính sách đã đề ra
hay chưa?
- Giải pháp nào đổi mới, hoàn thiện chính sách quản lý di sản thế giới ở
Việt Nam?
5.3. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống.
- Phương pháp tổng hợp, thu thập số liệu.
11
+ Số liệu thứ cấp: các số liệu về hoạt động quản lý vịnh Hạ Long.
+ Các văn bản: nghị quyết của Đảng, chính sách của nhà nước quy định
về quản lý di sản thế giới tại Việt Nam.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, tổng kết thực tiễn, khái
quát hóa.
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các nhà quản lý.
- Phương pháp định tính kết hợp định lượng.
6. Ý nghĩa của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Đề tài vận dụng, bổ sung lý thuyết khoa học chính sách công để làm
rõ vấn đề khoa học và thực tiến của chính sách quản lý các di sản thế giới tại
Việt Nam.
- Đề tài cung cấp các nghiên cứu, tư liệu, khảo sát thực tế tại vịnh Hạ
Long qua đó góp phần làm phong phú thêm hệ thống lý luận của khoa học
chính sách công.
cân đối hài hòa, bền vững trong phát triển.
Thuật ngữ chính sách hiện nay có rất nhiều cách hiểu, nhiều định nghĩa
khác nhau.
Quan niệm về Chính sách công của quốc tế:
Theo James Anderson “Chính sách công là một quá trình hành động
có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các
vấn đề mà họ quan tâm”. (James Anderson 2003).
Theo B. Guy Peter “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của
Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi người
dân” (B. Guy Peter 1990). Như vậy theo quan điểm này thì B. Guy Peter đã
chỉ ra rằng chủ thể ban hành và thực thi chính sách công là Nhà nước, đồng
thời nhấn mạnh tác động của chính sách công đến đời sống của người dân với
tư cách là cộng đồng. Còn William Jenkim lại cho rằng “Chính sách công là
một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay
một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải
pháp để đạt được mục tiêu đó”. (William Jenkin 1978).
Theo quan điểm của các học giả trong nước:
Thuật ngữ Chính sách được hiểu là: “Chủ trương và các biện pháp của
một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị xã hội”. Theo Vũ
Cao Đàm “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một
14
chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo ra sự ưu đãi một
hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định
hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong
chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”. Quản lý học đại cương, Bài
giảng, Đại học đại cương Đại học Quốc gia Hà Nội
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Phú Hải - Học viện Khoa học xã hội đã
đưa ra định nghĩa về chính sách công như sau: “Chính sách công là một tập
hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các
mục tiêu cụ thể với các giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề
Chính sách công tập trung giải quyết vấn đề xã hội đang đặt ra trong
đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định, không chỉ đề ra
mục tiêu và các giải pháp nhằm giải quyết một hoặc một số vấn đề có mối
quan hệ biện chứng đang đặt ra trong đời sống xã hội, mà còn giải quyết mối
quan hệ giữa các bên tham gia chính sách.
1.1.2. Chính sách công trong lĩnh vực quản lý di sản thế giới ở Việt
Nam
1.1.2.1. Các văn bản quốc tế liên quan đến chính sách quản lý di sản
thế giới ở Việt Nam
Để bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa và di sản thiên nhiên
thế giới của đất nước ngang tầm quốc tế, Nhà nước đã phê chuẩn một số Công
ước quốc tế quan trọng của tổ chức UNESCO, cụ thể là: năm 1987 phê chuẩn
Công ước bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới 1972; năm 2005 phê
chuẩn Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể 2003 và Công ước về các
biện pháp ngăn cấm nhập khẩu, xuất khẩu và chuyển giao quyền sở hữu trái
phép tài sản văn hóa 1970; năm 2007 phê chuẩn Công ước bảo vệ và phát
triển sự đa dạng của biểu đạt văn hóa năm 2005.
1.1.2.2. Các văn bản quốc gia liên quan đến chính sách quản lý di
sản thế giới ở Việt Nam
Lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng lý
luận và kim chỉ nam cho hành động, Đảng ta luôn khẳng định vị trí và tầm
quan trọng của văn hóa trong cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng xã
16
hội chủ nghĩa và nhất là trong thời kỳ đổi mới. Đảng đã xây dựng và ban hành
nhiều văn kiện có tính chất định hướng cho việc xây dựng và phát triển nền
văn hóa đất nước trong đó có công tác quản lý, bảo tồn và phát huy các di sản
thế giới. Kết luận Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa
IX) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương năm (khóa VIII) những năm
sắp tới cũng nêu chủ trương “Kết hợp hài hòa việc bảo vệ, phát huy các di sản
văn hóa với các hoạt động phát triển kinh tế du lịch”. Nghị quyết Hội nghị lần
Chính phủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch,
dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa; Thông tư số
18/2012/TT-BVHTTDL, ngày 28/12/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch quy định chi tiết về một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích;
Thông tư số 17/2013/TT-BVHTTDL, ngày 30/12/2013 của Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch hướng dẫn xác định chi phí lập quy hoạch, dự án, báo cáo
kinh tế - kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích.
1.1.2.3. Các văn bản địa phương liên quan đến chính sách quản lý
di sản thế giới ở Việt Nam
Ở các địa phương có di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới đã ban hành
nhiều văn bản quy định, bảo vệ các di sản như: Quy chế quản lý đối với từng
khu di sản (Hạ Long, Phong Nha - Kẻ Bàng, Hội An, Thành Nhà Hồ); Kế
hoạch quản lý tổng hợp (Hạ Long, Phong Nha - Kẻ Bàng, Hoàng thành Thăng
Long, Thành Nhà Hồ); Các di sản thế giới đều có Quy hoạch tổng thể bảo tồn,
phát huy và các địa phương cũng ban hành hàng loạt các văn bản quy định cụ
thể khác để phù hợp với đặc thù của di sản và địa phương.
1.1.3. Các yếu tổ ảnh hưởng đến việc xây dựng, thực hiện chính
sách công trong lĩnh vực quản lý di sản thế giới ở Việt Nam
1.1.3.1. Vấn đề của chính sách quản lý di sản thế giới ở Việt Nam
Phát hiện vấn đề chính sách là giai đoạn đầu tiên trong quy trình xây
dựng chính sách công, những vấn đề đó thường là những mâu thuẫn, khó
khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Theo PGS, TS Đỗ Phú Hải, Học
viện Khoa học xã hội “việc xác định vấn đề chính sách được bắt đầu bằng
18
cảm nhận vấn đề so với cấu trúc vấn đề, đó là cảm nhận về các trở ngại,
vướng mắc trong xã hội cần được giải quyết bằng chính sách hoặc các bất hợp
lý gây mâu thuẫn, mất cân bằng, mất ổn định về kinh tế xã hội, cản trở tăng
trưởng kinh tế hoặc những nhu cầu trong tương lai cần đạt được bằng chính
sách” [8,tr.39]. Vấn đề chính sách mang cả tính hiện thực và tương lai, các
hiện tượng đang tồn tại thực tế sẽ làm nẩy sinh các vấn đề trong tương lai.
vóc quản lý di sản thế giới dẫn đến các trở ngại trong quá trình vận hành và
xử lý công việc. Ở địa phương mỗi cơ quan quản lý di sản trực thuộc các cấp
khác nhau: trực thuộc UBND tỉnh (Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế, Ban
quản lý vịnh Hạ Long, Ban quản lý vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng,
Trung tâm bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội, Ban quản lý danh thắng
Trang An); trực thuộc UBND huyện (Trung tâm bảo tồn di sản văn hóa Hội
An, Ban quản lý di tích và du lịch Mỹ Sơn) và trực thuộc Sở Văn hóa Thể
thao và Du lịch (Trung tâm bảo tồn di sản Thành Nhà Hồ).
Thẩm quyền của các cơ quan quản lý di sản còn hạn chế, hiệu quả hiệu
lực quản lý nhà nước đối với di sản thấp. Các cơ quan này là các đơn vị sự
nghiệp do đó khi xử lý các vi phạm xâm hại đến giá trị di sản thường không
đủ thẩm quyền, chỉ phát hiện, ngăn chặn và mời các đơn vị quản lý nhà nước
khác đến xử lý.
Bên cạnh sự chồng chéo và phân cấp phức tạp thì năng lực của đội ngũ
các bộ làm công tác quản lý, bảo tồn di sản thế giới cũng là thách thức lớn đối
với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Khi được công nhận là di sản
thế giới, các tiêu chí, bảo tồn và phát huy giá trị không chỉ bó hẹp trong phạm
vi quốc gia mà còn mở ra tầm thế giới vì khi đưa ra các biện pháp bảo tồn
trình độ kiến thức của cán bộ quản lý phải ở trình độ cao, trình độ quốc tế.
Tuy nhiên, các biện pháp, giải pháp bảo tồn của các di sản hầu hết chỉ mang
tính chữa cháy, thiếu tầm chiến lược, đi sau sự phát triển kinh tế - xã hội.
Kinh phí, ngân sách là vấn đề khó khăn dễ nhận thấy, đây là nguồn lực
để bảo tồn các di sản. Để bảo tồn và phát huy được các di sản thế giới thì yếu
tố quan trọng là tính nguyên vẹn của di sản. Công việc này đòi hỏi một nguồn
kinh phí không nhỏ, khó khăn này càng được tăng lên khi nước ta đang trong
20
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế - xã hội do nguồn
ngân sách quốc gia hay các địa phương có di sản thường được ưu tiên cho
nâng cấp cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống nhân dân.
Các vấn đề đời sống xã hội cũng tác động mạnh mẽ đến các di sản thế
đang tác động không nhỏ đến quản lý các di sản đó là tác động từ môi trường
tự nhiên. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu như hiện nay, tác động từ môi
trường đối với các di sản ngày càng trở lên rõ rệt, qua trình mưa, bão, nước
biển dâng, hạn hán, cháy rừng thay đổi cả về số lượng, cường độ, diễn biến và
thời gian xuất hiện. Những tác động này đến các vùng biến đảo, vùng bảo vệ
các loài quý hiếm, các khu vực gần hành lang di trú của các loài, vùng ven
biển và các vùng đất ngập nước của các di sản thiên nhiên. Còn đối với các di
sản văn hóa thì các tác động này làm lụt lội, đổ sập, các di tích bị xuống cấp,
các vật liệu bị biến dạng làm ảnh hưởng đến tính nguyên vẹn của di sản.
Hệ thống kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách quản lý di sản và thực
hiện Công ước quốc tế còn hạn chế. Hành vi xâm hại các giá trị di sản thế giới
vẫn đang diễn ra ở các mức độ khác nhau do các vấn đề về sinh kế người dân
sống trong di sản, do nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, thậm chí cả lợi ích
nhóm… Tuy nhiên, hàng năm chỉ có báo cáo của cơ quan quản lý di sản mà
thôi, còn các cơ quan giám sát, quản lý khác của địa phương thì hầu như
không nhắc đến. Đồng thời tại các Hội nghị của Ủy ban di sản thế giới, các di
sản phải báo cáo giải trình các khuyến nghị của UNESCO, tuy nhiên vì nhiều
lý do khác nhau các yếu tố minh bạch trong báo cáo này cũng bị hạn chế.
Nhiều vụ xâm hại các giá trị di sản, vi phạm Luật di sản tại các di sản thế giới
chỉ được biết đến bởi các cơ quan truyền thông.
1.1.3.2. Chủ thế chính sách quản lý di sản thế giới ở Việt Nam
Chủ thể ban hành chính sách quản lý di sản thế giới gồm các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền như: Quốc hội, Chính phủ, Bộ Văn hóa thể thao và
du lịch, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài nguyên - môi trường, Bộ Nông nghiệp và phát
triển nông thôn, Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải. Chính quyền địa
22
phương các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các sở, ban ngành và một
số huyện có di sản thế giới.
Bảng 1.1. Phân tích chủ thế chính sách
quản lý di sản thế giới ở Việt Nam
Quan
tâm, hỗ
trợ
Bộ Văn
hóa thế
thao và du
lịch
Là cơ quan của chính phủ
thực hiện chức năng quản lý
nhà nước về DSTG, ban hành
các văn bản theo thẩm quyền
Quản lý
cấp Trung
ương
Ảnh
hưởng
Các bộ Quản lý nhà nước về DSTG
trong ngành, lĩnh vực theo sự
phân công của Chính phủ.
Quản lý
theo lĩnh
vực,ngành
Ảnh
hưởng
Hội đồng
di sản quốc
gia
Đề xuất ý kiến, tham mưu
cho Thủ tướng chính phủ
quyết định phương hướng,
trưc tiếp
quản lý
Ảnh
hưởng
Các huyện Quản lý nhà nước về DSTG Quản lý Ảnh
23
có DSTD trên địa bàn địa phương cấp địa
phương
hưởng
1.1.3.3. Môi trường thể chế chính sách quản lý di sản thế giới ở Việt
Nam
Hệ thống thể chế giúp cho mọi hoạt động diễn ra có trật tự theo một hệ
thống nhất định. Vì vậy chính sách quản lý DSTG cũng phải có một thể thống
nhất từ trung ương đến địa phương, hệ thống thể chế chính sách quản lý
DSTG cũng phải tuân thủ thể chế chung về ban hành văn bản pháp luật. Quá
trình xây dựng, thẩm định, phê duyệt, ban hành phải tuân theo quy định. Thể
chế chính sách quản lý DSTG có nhiều loại khác nhau và được nhiều cơ quan
quản lý nhà nước ban hành theo thẩm quyền:
Thể chế do Trung ương gồm các văn bản Luật do Quốc hội ban hành,
các văn bản dưới Luật do Chính phủ và các Bộ, ngành ban hành.
Thể chế do chính quyền địa phương bao gồm các văn bản quy phạm do
HĐND, UBND và các cơ quan ở cấp địa phương ban hành.
Bảng 1.2. Môi trường thể chế chính sách quản lý DSTG
Hệ thống thể chế Chủ thể ban hành Thẩm quyền ban hành
Cấp Trung ương
Quốc hội - Hiến pháp
- Luật
Chính phủ - Nghị định
- Nghị quyết
Thủ tướng Chính phủ - Nghị quyết
sản thế giới:
- Văn hoá chính trị là những giá trị mang tính tương đồng, ổn định phản
ánh nhận thức và các hoạt động của các tổ chức và cá nhân trong hệ thống
chính trị. Hành vi ứng xử của đội ngũ công chức, viên chức trong hệ thống
các cơ quan nhà nước có ảnh hưởng quan trọng đến chu trình chính sách quản
lý các di sản thế giới.
- Hiến pháp là luật gốc quy định quyền, nghĩa vụ của công dân, cơ cấu,
nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước trong đó có các cơ
quan lập pháp do đó mọi chính sách phải dựa trên Hiến pháp và chính sách
quản lý các di sản thế giới cũng không có ngoại lệ.
- Thể chế chính trị tác động vào quá trình xây dựng, hoạch định chính
sách quản lý các di sản thế giới. Thể chế chính trị thúc đẩy các tổ chức chính
trị, doanh nghiệp và người dân tham gia thảo luận chính sách thì chất lượng
chính sách cao hơn.
* Các yếu tố bên trong
Bên cạnh hệ thống chính trị thì chính sách quản lý các di sản thế giới ở
nước ta còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tổ bên trong khác như: công luận,
truyền thông, các giá trị xã hội và kinh tế.
25