1
PHẦN MỞ ðẦU
1. ðẶT VẤN ðỀ
ðô thị hoá là một quá trình tập trung dân cư ñô thị và là quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp giảm, sản xuất phi nông nghiệp tăng, bộ mặt
ñô thị ngày càng hiện ñại, không gian ñô thị mở rộng.
Ở miền Nam, trước năm 1975 quá trình ñô thị hoá diễn ra ồ ạt nhất là Sài Gòn
(nay là thành phố Hồ Chí Minh) nhưng không theo một kế hoạch cụ thể nên ñã ñể lại hậu
quả khá nặng nề sau ngày hòa bình lập lại.
Sau năm 1975, nhiệm vụ trọng tâm của các tỉnh miền Nam là khắc phục hậu quả
chiến tranh, ñồng thời khôi phục và phát triển kinh tế, ổn ñịnh kinh tế xã hội và ñời sống
của nhân dân. Vào những năm ñầu sau năm 1975, tốc ñộ ñô thị hoá ở thành phố Hồ Chí
Minh về cơ bản là chậm.
Từ năm 1986, bắt ñầu thời kỳ ñổi mới của ñất nước và ñưa ñất nước ta phát triển
kinh tế theo ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển nhanh lực lượng sản xuất, khuyến
khích ñầu tư phát triển các thành phần kinh tế. Thành phố Hồ Chí Minh với ưu thế là một
thành phố trẻ có tiềm năng lớn về khoa học kỹ thuật, về quan hệ giao thương quốc tế và
có khả năng phát triển kinh tế theo hướng ña ngành, ña thành phần nên Thành phố ñã
nhanh chóng trở thành trung tâm công nghiệp – thương mại – du lịch - dịch vụ và quan
hệ quốc tế. ðây cũng là thành phố dẫn ñầu cả nước về tốc ñộ ñô thị hoá cả về mặt không
gian và chiều sâu, trong ñó các quận ven và ngoại thành cũng không ngoài tiến trình ñó.
Ven ñô thành phố Hồ Chí Minh là một vùng rộng lớn bao gồm các quận ven nội
và các huyện ngoại thành thành phố như: Bình Thạnh, Tân Bình, Tân Phú, Gò Vấp, Hóc
Môn, Quận 12, Thủ ðức, Quận 2, Quận 9, Nhà Bè, Quận 7, Bình Chánh và Bình Tân.
Vùng này chiếm 79% diện tích và 17% dân số (1996) tăng 63,9% (2007) dân số thành
phố. Trong chiến tranh cũng như lúc hoà bình lặp lại, vùng ven ñô có một vị trí hết sức
quan trọng ñối với sự phát triển của thành phố. Vùng ven ñô là vùng cung cấp lao ñộng,
lương thực thực phẩm cho thành phố và ñây còn là “vành ñai xanh” ñể chắn lọc gió bụi,
xử lý chất thải cho nội ô. Quá trình ñô thị hoá ở thành phố Hồ Chí Minh, vùng này là nơi
3
- ðề xuất các giải pháp quản lý khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước của
Vùng nghiên cứu một cách bền vững.
5. ðỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* ðối tượng nghiên cứu:
- Nguồn nước dưới ñất của Vùng nghiên cứu.
- Quá trình ñô thị hóa của Vùng nghiên cứu: tập trung nghiên cứu và ñánh giá tác
ñộng của sự gia tăng dân số, phát triển công nghiệp, cơ cấu sử dụng ñất, tình hình khai
thác nguồn nước ngầm ñến nguồn nước ngầm (tầng pleistocen và pliocen trên).
* Phạm vi nghiên cứu:
- ðánh giá sự thay ñổi về khối lượng (mực nước) và chất lượng nước của 02 tầng
chứa nước Pleistocen (qp
1-3
) và Pliocen trên (n
2
2
).
- Quá trình ñô thị hóa Vùng nghiên cứu: Sự gia sự gia tăng dân số; sự phát triển
công nghiệp; cơ cấu sử dụng ñất; tình hình khai thác nguồn nước dưới ñất.
- Vùng nghiên cứu bao gồm toàn bộ diện tích huyện Thủ ðức cũ.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các phương pháp nghiên cứu ñược thực hiện trong ñề tài, bao gồm:
- Phương pháp thống kê: thống kê hiện trạng sử dụng nước dưới ñất theo thực tế,
thống kê phiếu ñiều tra khảo sát, …
- Thu thập và ñánh giá tài liệu hiện có: tài liệu về hiện trạng khai thác nước dưới
ñất, tài liệu về dân số, quy hoạch sử dụng ñất, phát triển công nghiệp, … tại Khu vực qua
các năm trong khoảng thời gian từ năm 1990 ñến năm 2011.
- Phương pháp tổng hợp, ñánh giá và so sánh: vì phạm vi của ñề tài là quận Thủ
ðức, quận 2, quận 9 nên tài liệu thu thập ñược rời rạc có thể từng phường hoặc từng quận
5
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1 ðiều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí ñịa lý:
Vùng nghiên cứu bao gồm diện tích phân bố của huyện Thủ ðức cũ (quận Thủ
ðức, quận 2 và quận 9) với diện tích 211,5km
2
, nằm ở cửa ngõ phía ðông Bắc của thành
phố và ñược giới hạn trong tọa ñộ ñịa lý: Từ 10
0
46’51’’ ñến 10
0
51’20’’ vĩ ñộ Bắc và từ
106
0
45’05’’ ñến 106
0
Chế ñộ gió: khu vực này chịu ảnh hưởng của khu vực gió mùa cận xích ñạo với 2
hướng gió chính:
+ Hướng gió Bắc – ðông Bắc từ tháng 10-12.
+ Hướng gió Nam – Tây Nam từ tháng 5-11.
Tốc ñộ gió trung bình 2,5-4,7m/s, tốc ñộ gió tối ña là 24m/s.
Chế ñộ mưa: lượng mưa biến ñộng bình quân năm khoảng 1800-2000 mm/năm.
Chủ yếu tập trung vào mùa mưa chiếm 90% tổng lượng mưa cả năm, trong mùa mưa
lượng mưa tập trung chủ yếu vào tháng 8 ñến tháng 10. ðối với khu vực trũng như khu
dân cư Nam Hòa – Phước Long A, Phú Hữu, Long Trường, Trường Thạnh, mưa lớn kéo
dài thường gây ngập úng. Trong khu vực Quận 9 lượng mưa phân bố tương ñối ñều trong
mùa, song vào tháng 7 Âm lịch hàng năm thường có ñợt hạn hán ngắn ngày kéo dài từ 5-
7 ngày, nhân dân thường gọi là hạn Bà Chằn. (Bảng 1.1).
Bảng 1.1: Một số yếu tố khí hậu
STT Chỉ tiêu ðơn vị Giá trị
1 Nhiệt ñộ trung bình năm
0
C 27
2 Nhiệt ñộ trung bình cao nhất
0
C 40
3 Nhiệt ñộ trung bình thấp nhất
0
C 13 – 16
4 Số giờ chiếu sáng trong ngày H 6 – 6,5
5 Lượng mưa trung bình năm mm 1.800 – 2000
6 Lượng bức xạ Kcal/cm
2
12
7 ðộ ẩm không khí trung bình năm % 79,5
- Suối Xuân Trường: Có chiều dài 2.184 m, rộng 6-10 m.
- Suối Nhum: Có chiều dài 12.581 m, rộng 7-64 m.
- Rạch Ông ðầu: Có chiều dài 3.856 m, rộng 17,5 m.
- Rạch ðĩa: Có chiều dài 5120 m, rộng 25-30 m.
- Rạch Vĩnh Bình: Có chiều dài 2040 m, rộng 40-50 m.
Cả hai con sông lớn ðồng Nai và sông Sài Gòn ñều ñi qua ñịa bàn của quận 2 với
chế ñộ thủy văn bán nhật triều. Sông ðồng Nai là sông lớn nhất hệ thống sông ðồng Nai
– Sài Gòn, lòng sông rộng 400 – 600 m, có ñộ sau từ 12 – 15 m, tốc ñộ chảy trung bình
8
500m/s. Sông Sài Gòn có ñộ dốc nhỏ, lòng sông hẹp nhưng ít sâu, ít khu chứa do vậy
thủy triều vào sâu và rất mạnh.
Bảng 1.2: Hiện trạng hệ thống thủy văn chính
STT Tên gọi Chiều dài (m) Chiều rộng (m)
1 Sông Sài Gòn 14.800 250
2 Sông ðồng Nai 28.000 480
3 Sông Tắc 13.000 150
4 Rạch Ông Nhiêu 12.500 80
5 Rạch Bàu Cua – Ông Cày 4.200 80
6 Suối Nhum 12.581 7 – 64
(Nguồn: UBND quận 2, quận 9 quận Thủ ðức)
Ngoài các sông rạch chính, trong Vùng nghiên cứu còn có hệ thống kênh rạch nhỏ
và thủy lơi phục vụ công tác tưới tiêu trong nông nghiệp.
1.1.4 ðịa hình
Vùng nghiên cứu có các loại ñịa hình như sau:
- ðịa hình Quận 2: là vùng có ñịa hình thấp và phức tạp của Thành phố Hồ Chí
Minh, có mạng lưới kênh rạch ña dạng, ñộ nghiêng mặt dất thấp dần theo hướng từ Bắc
xuống Nam; có ñộ cao trung bình so với mực nước biển từ 0,5m ñến 1,1m, riêng gò Bình
Trưng, Cát Lái có ñộ cao từ 2m ñến 5m. Ở những vùng có ñộ sâu dưới 1m thường bị
ngập úng và năng lực tiêu rút nước phụ thuộc vào chế ñộ thủy văn.
Hệ thống phân loại ñất
Việt Nam
Hệ thống phân loại ñất
theo FAO/UNESCO
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ (%)
1
ð
ất ph
ù sa
Thionic Fluvisols
849,30
1,46
2
ð
ất xám
Acrisols
2.774,49
4,77
5
ð
ất ph
èn
thionic Fluvisols
49.529,41
85,13
6
ð
ất Sông, rạch2.319,97
4,00
Tổng cộng 58.172,58
100
(Nguồn: UBND quận 2, quận 9 và quận Thủ ðức)
ðất vàng ñỏ và vàng xám: tập trung khu ñồi Long Bình, Long Thạnh Mỹ, Tăng
Nhơn Phú A, Tân Phú quận 9; Linh Xuân, Bình Chiểu và một phần phường Linh Trung
quận Thủ ðức; Thảo ñiền, Bình Khánh, An Khánh, An Phú, Thủ Thiêm, An Lợi ðông,
Bình An và một phần phường Cát Lái quận 2 với tổng diện tích 49.529,41ha chiếm
85,13% diện tích toàn khu vực nghiên cứu.
ðất này sản xuất lúa nước vẫn có năng suất
tương ñối cao do trong ñiều kiện ñược tướí nước và vào mùa mưa pH sẽ tăng nhanh và
các hàm lượng ñộc tố giảm nhanh.
ðất xói mòn trơ sỏi ñá: có diện tích 83,32ha, chiếm 0,14% diện tích toàn khu vực
nghiên cứu phân bố ở khu vực phía bắc phường Long Bình quận 9. ðất ñược hình thành
là hậu quả của một quá trình xói mòn, rửa trôi rất mãnh liệt trong một thời gian dài. ðất
sói mòn trơ sỏi ñá không có khả năng sản xuất, có thể sử dụng cho việc khai thác làm vật
11
liệu xây dựng. ðồng thời có thể trồng và bảo vệ rừng nhằm khôi phục hệ sinh thái tự
nhiên hoặc ñưa vào sử dụng cho các mục ñích phi nông nghiệp.
1.2.2 Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt dồi dào do hệ thống sông, rạch cung cấp. Các sông, kênh rạch
chính là: sông Sài Gòn, sông ðồng Nai, Sông Tắc. Tài nguyên nước mặt thuận lợi cho
phát triển sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và du lịch sinh thái.
Tuy nhiên,
nguồn nước mặt hiện nay ñang có nguy cơ bị ô nhiễm bởi các chất thải công nghiệp. ðiều
này ảnh hưởng ñến sản xuất, nhất là nuôi trồng thủy sản và sức khỏe của nhân dân.
Theo kết quả ñiều tra thăm dò và thực tế nguồn nước ngầm ở vùng gò phong phú
và chất lượng tốt, mực nước ngầm vào mùa khô từ 5 – 9m và mùa mưa từ 2 – 4m. Ở
vùng thấp mực nước ngầm nông từ 0,5 – 0,8m thường bị nhiễm phèn, tầng nước ở ñộ sâu
từ 15 – 25m trở lên mới có chất lượng khá.
Nước dưới ñất tại Vùng nghiên cứu có 5 ñơn vị chứa nước sau:
- Tầng 1 (Holocen): Phân bố các vùng có ñộ cao ñịa hình thấp, dọc theo các thung
lũng sông phía ðông, Tây và rải rác ở phần trung tâm Vùng nghiên cứu và ñộ sâu thường
1.3.1 Kinh tế
Tổng sản phẩm nội ñịa (GDP) của Vùng nghiên cứu liên tục tăng từ năm 2001 ñến
năm 2012. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và doanh thu dịch vụ năm
2012 ñạt 47.165,064 tỷ ñồng và tốc ñộ tăng trưởng kinh tế bình quân của VNC ñạt
37,54%.
Cơ cấu kinh tế của Vùng ñang chuyển dần từ “Công nghiệp – Nông nghiệp –
Thương mại – Dịch vụ” sang “Công nghiệp – Thương mại – Dịch vụ - Nông nghiệp” và
ñang ñịnh hình phát triển theo hướng “Thương mại – Dịch vụ - Công nghiệp – Nông
nghiệp”, trong ñó:
Thương mại tập trung ñẩy mạnh các ngành kinh doanh vật liệu xây dựng, trang trí
nội thất. Các ngành nghề chủ yếu của Vùng là nông sản thực phẩm, kinh doanh xăng dầu-
gas, tơ sợi, kim khí ñiện máy, sắt thép, vật liệu xây dựng, xe gắn máy.
Dịch vụ: Tập trung xây dựng và kiện toàn hệ thống các loại hình dịch vụ phục vụ
nhu cầu của nhân dân, hướng tới các loại dịch vụ cao cấp và hiện ñại, phục vụ tích cực
13
cho sản xuất cũng như nhu cầu giao lưu quốc tế như các loại dịch vụ tài chính, tín dụng
ngân hàng, bưu chính viễn thông, xây dựng các kho hàng, bến bãi, siêu thị, trung tâm
thương mại
Công nghiệp: ðẩy mạnh phát triển các ngành dệt may, da giầy, sản xuất sản phẩm
từ kim loại, công nghiệp sản xuất sản phẩm từ kim loại, công nghiệp sản xuất thực phẩm,
ñồ uống. Ưu tiên phát triển các ngành thế mạnh, các ngành kỹ thuật cao, sản xuất cho
mục ñích xuất khẩu, không gây ô nhiễm môi trường.
Nông nghiệp: Tiếp tục chuyển ñổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, phát huy kinh tế hộ
gia ñình, xây dựng mô hình VAC hợp lý là ñầu tư vào cây kiểng. Tập trung ñầu tư trang
bị cơ sở kỹ thuật cho sản xuất cây con có chất lượng tốt hiệu quả kinh tế cao ñảm bảo
môi trường sinh thái bền vững.
Bảng 1.4: Giá trị các ngành kinh tế
(ðơn vị tính: Tỷ ñồng)
Năm
117,111
109,22
Tổng GTSX 2.977,355
4.175,081
5.767,413
10.002,285
40.958,39
(Nguồn: UBND quận 2, quận 9 và quận Thủ ðức)
1.3.2 Xã hội
1.3.2.1 Dân số
Tính ñến năm 2011, toàn Vùng nghiên cứu có 880.112 người với 220.028 hộ dân,
trung bình 4 người/hộ. Phân theo giới tính: Nam có 435.837 người chiếm 49,52%, nữ có
440.275 chiếm 50,48%. Sự phân bố dân cư trong Vùng nghiên cứu không ñồng ñều, mật
ñộ dân số ở khu vực quận 9 là 2.360 người/1km
2
; khu vực quận 2 là 2.744 người/km
2
;
khu vực quận Thủ ðức là 9.936 người/1km
2
. Tốc ñộ gia tăng dân số tự nhiên 9,67%, tốc
ñộ gia tăng dân số cơ học 19,86%. Theo dự báo, trong thời gian tới dân số cơ học sẽ tiếp
tục tăng do chương trình giãn dân của Thành phố và dân cư từ các tỉnh ñổ về.
1.4 Thực trạng môi trường
1.4.1 Môi trường không khí
(1)
Báo cáo Kinh tế xã hội quận 2, quận 9 và quận Thủ ðức
15
Theo số liệu thống kê ño ñạc năm 2011 của Chi cục bảo vệ môi trường thành phố
Hồ Chí Minh tại các trạm quan trắc bán tự ñộng, nhìn chung nồng ñộ các chất ô nhiễm
giao thông có xu hướng giảm so với năm trước, cụ thể như sau: Nồng ñộ CO quan trắc
năm 2011 giảm tại 03 trạm: trạm ðTH-ðBP giảm 1,01 lần; trạm AS giảm 1,09 lần; trạm
HTP-NVL giảm 1,02 lần. Tăng tại 3 trạm: trạm HX tăng 1,04 lần; trạm PL tăng 1,05 lần;
trạm GV tăng 1,01 lần;
Nồng ñộ NO
2
quan trắc năm 2011 giảm tại 04 trạm quan trắc:
trạm HX giảm 1,14 lần; trạm PL giảm 1,05 lần; trạm GV giảm 1,17 lần, trạm HTP-NVL
giảm 1,17 lần. Trạm ðTH-ðBP tăng 1,1 lần và trạm AS không thay ñổi; hàm lượng Chì
quan trắc năm 2011 giảm tại 05 trạm: trạm HX giảm 1,21 lần; trạm ðTH-ðBP giảm 1,09
lần; trạm PL giảm 1,17 lần; trạm GV giảm 1,50 lần; trạm HTP-NVL giảm 1,31 lần. Duy
nhất trạm AS không thay ñổi; Tiếng ồn quan trắc năm 2011 dao ñộng trong khoảng 77 –
81dB, 100% số liệu quan trắc không ñạt QCVN. Trong 06 trạm quan trắc, trạm ngã tư AS
mức ồn quan trắc ñược luôn cao hơn tiêu chuẩn cho phép và các trạm khác (QCVN
26:2011/BTNMT: mức ồn 70 dB).
Bảng 1.5: Các quy chuẩn áp dụng ñối với chất lượng không khí xung quanh
CO
QCVN 05:2009/BTNMT
QUY CHUẨN KỸ THUẬT QUỐC GIA
Ghi chú: QCVN 05 chính thức ñược áp dụng từ ngày 01/01/2010 theo Thông tư số
16/2009/TT-BTNMT ngày 07/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
16
Bảng 1.6: Nồng ñộ các chất ô nhiễm ở 6 trạm quan trắc KKBTð năm 2011
HX
ðTH-
ðTH
PL AS GV
HTP-
NVL
CO
(mg/m
3
)
Trung bình
năm 2011
10,73 13,73 10,32 13,69 14,66 9,75
Max
18,67 23,67 56,87 34,10 30,25 14,70
Min
5,95 9,30 6,93 7,33 8,87 4,70
% vượt chuẩn
0% 0% 1% 1% 1% 0%
Bụi
năm 2011
0,15 0,23 0,15 0,23 0,18 0,16
Max
0,27 0,32 0,24 0,37 0,33 0,31
Min
0,07 0,09 0,06 0,13 0,09 0,07
Tiếng ồn
Trung bình năm
2011
78,55 79,29 77,03 81,12 77,58 77,52
Max
85,83 83,00 81,33 85,83 82,08 81,83
Min
71,50 64,17 37,00 76,50 73,75 70,67
17
% vượt chuẩn
100% 100% 99% 100% 100% 99%
(Nguồn: Chi cục Bảo vệ Môi trường, năm 2011)
Qua kết quả quan trắc ô nhiễm không khí do giao thông tại các trạm quan trắc chất
lượng không khí bán tự ñộng trên ñịa bàn Tp.HCM năm 2011 cho thấy:
- Ô nhiễm bụi là vấn ñề ñáng quan ngại nhất trong chương trình quan trắc ô nhiễm
không khí do giao thông: dao ñộng từ 0,44 – 0,69 mg/m
3
, vượt QCCP từ 1,46 – 2,30 lần;
94% giá trị quan trắc không ñạt QCVN. So với năm 2009 và năm 2010, nồng ñộ bụi quan
trắc tại các trạm ñang có xu hướng giảm.
- Với 100% số liệu quan trắc không ñạt quy chuẩn cho phép, dao ñộng 77 – 81 dB.
Tiếng ồn cũng là một trong những tác nhân gây ô nhiễm trên các tuyến ñường trong khu
(mg/l)
DẦU
(mg/l)
Coliform
(MPN/100ml)
Rạch Tra (RT) 6,15 2,22 6,25 4,74 0,029 4.034
Bình Phước (BP) 6,44 2,64 6,43 4,15 0,036 9.680
Sài Gòn (SG) 6,60 2,42 8,15 4,60 0,039 13.715
18
Phú An (PA) 6,74 4,16 4,76 2,36 0,037 16.923
Phú Mỹ (PM) 6,84 4,39 4,75 2,81 0,030 10.055
Cát Lái (CL) 7,02 4,87 3,67 1,91 0,037 2.982
Nhà Bè (NB) 7,08 4,68 2,71 1,72 0,034 20.220
Vàm Sát (VS) 7,31 6,75 2,92 1,79 0,034 21.797
TT Hiệp (TTH) 7,62 6,97 2,33 1,46 0,033 18
ðồng Tranh (ðT)
7,64 6,61 2,29 1,36 0,034 105
Ngã Bảy (N7) 6,94 4,57 4,69 2,56 0,059 2.197
Cái Mép (CM) 5,38 2,53 7,47 4,62 0,033 1.514
Vàm Cỏ (VC) 6,79 2,79 9,39 6,53 0,034 6.468
Thầy Cai (TC) 5,17 3,70 5,10 2,78 0,031 1.990
Bình ðiền (Bð) 6,15 2,22 6,25 4,74 0,029 4.034
An Hạ (AH) 6,02 5,75 11,27 4,13 0,026 965
QCVN
08:2008/BTNMT
loại B1
5,5 - 9 ≥ 4 < 30 < 15 0,1 7.500
.
Ô nhiễm ñất do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật: Các quan trắc trong ñề án phân tích
môi trường ñất cho thấy các vùng trồng rau là một trong những trọng ñiểm sử dụng thuốc
bảo vệ thực vật nhiều. Trước ñây việc bón rác thải ñô thị không qua xử lý là tác nhân
chính gây nguy cơ ô nhiễm các kim loại nặng và vi sinh vật gây bệnh trong ñất. Từ năm
2000, việc bón rác thải cho rau tại Khu vực ñã bị chính quyền nghiêm cấm. Tuy vậy, theo
kết quả phân tích năm 2009 vẫn phát hiện hàm lượng khá cao của một số kim loại nặng
ðất bị ô nhiễm chì (76,7 – 89,6 mg/kg) và Cu (72,1 – 104,1 mg/kg); Hàm lượng 2
nguyên tố Pb, Cu trong mẫu ñất quan trắc ñều vượt quy chuẩn cho phép ñối với ñất sản
xuất nông nghiệp (QCVN 03: 2008/BTNMT Cu ≤ 50 mg/kg, Pb ≤ 70 mg/kg, Zn ≤ 200
mg/kg). Hàm lượng Zn (trong năm 2009 khoảng 144,0 – 173,0 mg/kg), Cd và Cr trong
khu vực quan trắc chưa vượt quy chuẩn cho phép. Một số vi sinh (vi khuẩn, xạ khuẩn,
Coliform) trên ñất bón nhiều rác thải cao hơn trên ñất ñược bón ít. Không phát hiện
E.coli trong mẫu ñất tại Khu vực nghiên cứu.
20
Ô nhiễm ñất do chất thải ñô thị: Theo Sở Tài nguyên và Môi trường (2010), lượng
rác thải ñô thị tăng trung bình 8% - 10%/năm. Chất thải rắn ñô thị ñược thu gom ñạt
100% nhưng thực tế vẫn còn một lượng rác xả trực tiếp xuống kênh rạch. Chất thải rắn
công nghiệp và chất thải rắn nguy hại chưa ñược thu gom triệt ñể và chưa ñược xử lý
thích hợp. Chất lượng vệ sinh môi trường trên ñường phố và nơi công cộng chưa ñáp ứng
ñược yêu cầu của Khu vực văn minh, sạch ñẹp.
Trong thời gian qua, công tác bảo vệ và cải tạo môi trường tại Khu vực cũng có
những bước tiến ñáng kể, thực trạng môi trường ñược cải thiện. Tuy nhiên, do quá trình
ñô thị hóa nhanh nên hạ tầng kỹ thuật giao thông ñô thị chưa theo kịp với tốc ñộ tăng dân
số, tình trạng ngập úng cục bộ xuất hiện khi mưa lớn kết hợp với triều cường, tình trạng
vỡ bờ khi nước lũ dâng cao gây ngập các khu vực ñất nông nghiệp thường diễn ra ở các
vùng trũng của khu vực, hệ thống thoát nước thiếu ñồng bộ, việc ñầu tư xây dựng các
trục ñường chính còn chậm. Tình hình chăn nuôi quy mô hộ gia ñình trong các khu dân
cư hiện vẫn còn tồn tại ñã gây ô nhiễm môi trường. Hiện tại, các hộ chăn nuôi gia ñình
22
CHƯƠNG 2
ðẶC ðIỂM MÔI TRƯỜNG NƯỚC DƯỚI ðẤT CỦA HUYỆN THỦ ðỨC CŨ
(QUẬN 2, QUẬN 9 VÀ QUẬN THỦ ðỨC)
2.1. Các tầng chứa nước
Theo các nhà nghiên cứu thì tại Khu vực có 5 ñơn vị chứa nước chính, ñặc ñiểm
ñịa chất thủy văn của các tầng chứa nước như sau:
2.1.1. Tầng chứa nước Holocen (qh)
Tầng chứa nước Holocen (qh) bao gồm các trầm tích ña nguồn gốc (sông, sông
biển và sông biển ñầm lầy). Chúng thường phân bố trên vùng có ñịa hình thấp, từ nhỏ
hơn 2m tới 5m, một số nơi ñộ cao từ 7-8m nhưng chiều dày nhỏ. Chiều dày của tầng
chứa nước (qh) biến ñổi rất lớn. Thành phần ñất ñá chủ yếu là bùn sét, bột sét, bột lẫn cát
mịn và các thấu kính cát hạt mịn lẫn mùn thực vật có màu xám tro, xám nâu. Mực nước
tĩnh thay ñổi từ 0,5 ñến 2,12m hoặc nhỏ hơn, thậm chí có nơi ngang bằng mặt ñất. Lưu
chứa nước ở từng lỗ khoan cũng ñược tính toán, nó biến ñổi từ 3,5m ñến 63m.
Lưu lượng tại các giếng khoan khai thác nước thay ñổi từ 0,35 ñến 8,5l/s, mực
nước hạ thấp từ 2,35 ñến 12,81m, tỷ lưu lượng “q” từ 0,0027 ñến 3,617l/sm. Hệ số dẫn
nước từ 15,85 m
2
/ngày ñến 647,5 m
2
/ngày, phổ biến từ 200 m
2
/ngày ñến 400 m
2
/ngày. Hệ
số phóng thích nước từ 1,53x10
-3
ñến 8,46x10
-3
.
Tầng chứa nước ñược cung cấp từ nước mưa, nước tưới và nước các dòng mặt.
Mối quan hệ thủy lực của tầng chứa nước này với các tầng nằm kề có xảy ra ở mức ñộ
khác tùy thuộc vào thành phần thạch học và chiều dày lớp cách nước ở trên và dưới tầng
chứa nước Pleistocen.
Nước tầng qp
1-3
có thể phục vụ cho sinh hoạt và ăn uống. Nước của tầng này ở một
số khu vực có dấu hiệu bị nhiễm bẩn như khu vực bãi rác ðông Thạnh.
Tóm lại, tầng chứa nước Pleistocen là tầng chứa nước có ý nghĩa, mực nước tĩnh
nằm nông và dao ñộng theo mùa. Tầng chứa nước này có quan hệ thủy lực với tầng chứa
nước Holocen nằm trên và tầng chứa nước Pliocen nằm dưới vì giữa chúng ñược ngăn
cách bằng các lớp thấm nước yếu có thành phần sét bột, bột, bột cát, cát bột xen kẹp cát
mịn. Nguồn cung cấp cho tầng này chủ yếu là từ nước mưa, nước tưới, nước mặt và dòng
/ngày ñến 1358 m
2
/ngày.
Tầng chứa nước ñược cung cấp từ nước mưa ở các vùng xa như Bình Dương,
ðồng Nai (những vùng lộ). Mối quan hệ thủy lực của tầng chứa nước này với các tầng
chứa nước nằm kề thể hiện ở mức ñộ khác nhau tùy thuộc vào thành phần thạch học và
chiều dày lớp cách nước ở trên và dưới của tầng chứa nước Pliocen trên.
Tóm lại, tầng chứa nước Pliocen trên là tầng chứa nước có ý nghĩa, mực nước tĩnh
nằm nông, dao ñộng theo mùa. Tầng chứa nước này có quan hệ thủy lực với tầng chứa
nước Pleistocen nằm trên và tầng chứa nước Pliocen dưới nằm dưới vì giữa chúng ñược
ngăn cách bằng các lớp thấm nước yếu có thành phần sét bột, bột, bột cát, cát bột xem
kẹp cát mịn và nhiều nơi xuất hiện các cửa sổ thuỷ lực. Nguồn bổ cập có thể là sự thấm
xuyên từ các tầng nằm kề khi xuất hiện gradien cắt qua các lớp thấm nước yếu và dòng
chảy từ bên sườn vào vùng nghiên cứu. Hướng dòng ngầm từ phía bắc, ñông bắc chảy
xuống phía nam, tây nam vùng nghiên cứu và cũng thoát ra ở khu vực này. Tầng chứa
25
nước này có diện phân bố rộng, chiều dày lớp chứa nước lớn, khả năng chứa nước từ giàu
ñến trung bình. Những ñặc ñiểm trên cho thấy tầng chứa nước này có khả năng ñáp ứng
yêu cầu khai thác với qui mô vừa và lớn và là ñối tượng chính ñể ñầu tư nghiên cứu thăm
dò khai thác nước dưới ñất.
2.1.4. ðới chứa nước khe nứt trong trầm tích Mezozoi (Mz)
ðới chứa nước khe nứt trong trầm tích Mezozoi (Mz) phân bố trên toàn vùng
nghiên cứu. Các ñá trầm tích Mezozoi bị tầng chứa nước Pliocen dưới phủ trực tiếp lên.
ðộ sâu xuất hiện các ñá trầm tích Mezozoi thay ñổi từ 67m ñến 330m. Thành phần
ñất ñá chủ yếu là cát kết, bột kết, tuff, xen kẹp sét kết, bột kết, mức ñộ nứt nẻ kém. Theo
tài liệu nghiên cứu Khu vực, chiều dày của ñới Mezozoi khoảng 2000m.
Tóm lại kết quả nghiên cứu cho thấy trong vùng chứa nước tồn tại 5 tầng chứa
nước chính (qh, q
1-3