ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT CỦA TP.HCM ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ - Pdf 21

i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN MÔI TRƢỜNG & TÀI NGUYÊN


TIỂU LUẬN MÔN HỌC
QUẢN LÝ MÔI TRƢỜNG NÂNG CAO

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NƢỚC DƢỚI ĐẤT CỦA
TP.HCM & ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ

GVHD : T.S NGUYỄN VĂN PHUỚC
HVTH : NGUYỄN THỊ TRÀ MY
TRƢƠNG CẨM NHUNG
NGUYỄN NGỌC MINH THẢO
TRẦN HUYỀN TRANG
NGUYỄN THÀNH TRUNG
3.1.2. Chất lƣợng nƣớc 31
3.2. Kiến nghị 32
iii
DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Thạch học và đặc điểm địa chất thủy văn 3
Bảng 1.2: Các trạm quan trắc nƣớc dƣới đất tại TP.HCM 11
Bảng 2.1: Kết quả quan trắc mực nƣớc dƣới đất tầng Pleistocen trong năm 2011 15
Bảng 2.2: Kết quả quan trắc mực nƣớc dƣới đất tầng Pliocen trên trong năm 2011 17
Bảng 2.3: Kết quả quan trắc mực nƣớc dƣới đất tầng Pliocen dƣới trong năm 2011 18
Bảng 2.4: Kết quả quan trắc chất lƣợng nƣớc dƣới đất tầng Pleistocen năm 2011 20
Bảng 2.5: Kết quả quan trắc kim loại nặng tại các giếng quan trắc nƣớc dƣới đất tầng
Pleistocen trên năm 2011 24
Bảng 2.6: Kết quả quan trắc chất lƣợng nƣớc dƣới đất tầng Pliocen trên năm 2011 25
Bảng 2.7: Kết quả quan trắc kim loại nặng tại các giếng quan trắc nƣớc dƣới đất tầng
Pliocen trên năm 2011 26
Bảng 2.8: Kết quả quan trắc chất lƣợng nƣớc dƣới đất tầng Pliocen dƣới năm 2011 28
Bảng 2.9: Kết quả quan trắc kim loại nặng tại các giếng quan trắc nƣớc dƣới đất tầng
Pleistocen dƣới trên năm 2011 28 1
Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NƢỚC DƢỚI ĐẤT CỦA
TP.HCM & ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
hiện nay thì liệu trong tƣơng lai không xa, trữ lƣợng nƣớc dƣới đất có còn đáp ứng đƣợc
nhu cầu của ngƣời dân hay không? Làm cách nào để chúng ta có thể duy trì và gia tăng
đƣợc trữ lƣợng nƣớc dƣới đất để đáp ứng nhu cầu đó? Đó là lý do thực hiện đề tài
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NƢỚC DƢỚI ĐẤT CỦA TP.HCM & ĐỀ XUẤT
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ”./
3
CHƢƠNG 1
HIỆN TRẠNG NƢỚC DƢỚI ĐẤT CỦA TP HỒ CHÍ MINH
1.1. Hiện trạng địa chất của Tp HCM
Tp Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng
bằng sông Cửu Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang
Đông. Vùng cao nằm ở phía Bắc - Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến
25 mét. Xen kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 mét nhƣ đồi Long Bình ở quận 9.
Ngƣợc lại, vùng trũng nằm ở phía Nam - Tây Nam và Ðông Nam thành phố, có độ cao
trung bình trên dƣới 1 mét, nơi thấp nhất 0,5 mét.
Địa chất Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm chủ yếu là hai tƣớng trầm tích
Pleistocen và Holocen lộ ra trên bề mặt. Trầm tích Pleistocen chiếm hầu hết phần Bắc,
Tây Bắc và Đông Bắc thành phố. Dƣới tác động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động
của con ngƣời, trầm tích phù sa cổ hình thành nhóm đất đặc trƣng riêng: đất xám. Với
hơn 45 nghìn hecta, tức khoảng 23,4% diện tích thành phố, đất xám ở Thành phố Hồ
Chí Minh có ba loại: đất xám cao, đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và hiếm hơn là đất

5-15

Thấm nƣớc yếu
đến cách nƣớc
Cát và sỏi: cát hạt
thô đến sỏi trung
10-35
550
Tầng chứa nƣớc
khai thác mạnh cho
dân dụng và công
nghiệp.
Pleistocen dƣới
(Q1)
Sét bột đến bột:
màu xám vàng
chứa carbonat
10-15

Cách nƣớc
Cát/sỏi : cát mịn –
trung chứa sỏi.
50-80
500-900
Tầng chứa nƣớc,
khai thác công
nghiệp.
4
Thành tạo
Mô tả thạch học

)
Sét/ sét bột : màu
vàng loang lỗ chứa
cacbonat
7-15

Cách nƣớc
Cát/sỏi : cát mịn-
trung chứa sỏi.
20-100

Tầng chứa nƣớc
khai thác công
nghiệp hạn chế.
Đá gốc (J
3
-J
2
)
Cát kết, bột kết, sét
kết. Rất nghèo nƣớc.
 Thành tạo Pleistocen giữa trên (Q
n-m
)
Thành tạo Pleistocen giữa trên (Q
n-m
) gặp ở phần lớn diện tích vùng nghiên cứu,

sỏi, dày khoảng từ 50m tăng lên đến 80m ở trung tâm Thành phố. Tầng chứa nƣớc là có
áp hoặc bán áp bở lớp cách nƣớc, tuy nhiên có thể thấm xuyên từ tầng Q
II-III
trong vùng
nghiên cứu. Nguồn bổ cập từ lƣợng mƣa thấm trực tiếp, thấm ngang từ sông Sài Gòn và
Đồng Nai ở vùng lộ phía đông Thành phố, và thấm xuyên từ các tầng chứa nƣớc bên
trên.
Chất lƣợng nƣớc phân bố tƣơng tự nhƣ tầng chứa nƣớc Q
II-III
, ngoại trừ đƣờng
đẳng 1000mg/L nằm xa hơn về phía bắc, bao trùm cả huyện Nhà Bè và nửa phía nam
huyện Bình Chánh và phần diện tích xung quanh điểm hợp lƣu giữa sông Sài Gòn và
Đồng Nai. Về phía nam của đƣờng đẳng này độ khoáng hóa tăng từ 1đến 25g/l. Ở phía
bắc đƣờng đẳng nƣớc nhạt, tổng khoáng hóa vào khoảng 100-600mg/l và nhạt dần về
phía cùng cấp, đến 70-300mg/l. Lƣợng sắt hòa tan cao, khoảng 1-5mg/l, nhƣng có thể
đạt đến 12mg/l.
Nƣớc ngầm của tầng nƣớc chứa nƣớc Q1 đƣợc sử dụng rộng rãi cho nhu cầu sinh
hoạt và tiểu thủ công nghiệp, trữ lƣợng an toàn của tầng Pleistocen giữa – trên và
Pleistocen dƣới ở vùng Thành phố vào khoảng từ 62.000 đến 90.000 m
3
/ngày.
 Thành tạo Pliocen trên (N
2
2
)
Thành tạo Pliocen trên (N
2
2
) lộ ra ở phía đông của lƣu vực, còn lại trên toàn bộ
vùng nghiên cứu chúng nằm dƣới các Thành tạo pleistocen. Chiều sâu đến mái tăng từ

Thành tạo Pliocen dƣới (N
2
1
) phủ bất chỉnh hợp lên đá gốc. Đây là tầng chứa
nƣớc sâu nhất có nguồn gốc trầm tích trong vùng nghiên cứu, chủ yếu có mặt ở phía tây
sông sài Gòn. Chiều sâu mái trung bình của thành tạo này vào khoảng 110-130m ở phía
bắc thành phố, tăng đến 190 – 210m ở phía Tây Nam Bình Chánh. Thành tạo có cấu tạo
gồm phần trên là lớp thấm nƣớc yếu sét, sét bột có chiều dày 7-15 cm. Bên dƣới là lớp
chứa nƣớc gồm cát mịn đến thô chứa sạn sỏi, có chiều dày tăng về phía tây nam, từ 20m
ở vùng rìa lƣu vực đến khoảng 100m ở Bình Chánh. Đây là tầng chứa nƣớc có áp đến
bán áp.
Theo số liệu quan trắc của Liên đoàn địa chất thủy văn 8, tầng chứa nƣớc không
có quan hệ thủy lực với các tầng nằm trên ở vùng Thành phố. Miền cấp của tầng ở vùng
lộ phía đông bắc, nơi có sự liên hệ với các tầng khác. Nguồn bổ cập có thể thông qua
thấm xuyên từ các tầng trên, do vậy từ sông Sài Gòn và Đồng Nai.
Nƣớc nhạt ở giữa tầng phía bắc Thành phố, từ Bình Chánh đến Củ Chi và ở phía
tây sông Sài Gòn với tổng khoáng hóa ở khoảng 100-800mg/l, độ pH 6-8 và hàm lƣợng
sắt 0,8-3mg/l ở nửa phía nam thành phố (Cần Giờ) và phía đông sông Sài Gòn (Nhà Bè,
Thủ Đức, Quận 2, Quận 9) nƣớc bị mặn với tổng khoáng hóa 3-5g/l và hàm lƣợng sắt
cao.
Tầng chứa nƣớc đƣợc khai thác hạn chế so quá sâu và bên trên đã có các tầng
nƣớc nhạt. Một vài cơ sở công nghiệp nhƣ Nhà máy Bia Sài Gòn khai thác tầng này
bằng các giếng sâu với lƣu lƣợng cao. Trữ lƣợng an toàn của tầng Pliocen dƣới ở vùng
Thành phố vào khoảng 217.000m
3
/ngày.

7
 Đá gốc
Đá gốc là các đá trầm tích có tuổi Mezozoi (J

chức khai thác quy mô nhỏ là 256.131 giếng; tổng lƣu lƣợng khai thác nƣớc trên toàn
TP khoảng 606.992 m
3
/ngày. Với khối lƣợng khai thác này, gần tiệm cận với trữ lƣợng
khai thác an toàn và có nguy cơ thiếu an toàn, có thể dẫn đến giảm sút về chất lƣợng và
tăng thêm do tác động của BĐKH đến nguồn nƣớc này.
Theo đánh giá, đại đa số các giếng khai thác nƣớc trong các hộ gia đình phục vụ
cho sinh hoạt (trừ Bình Chánh, Nhà Bè, quận 7) đều đƣợc khai thác từ tầng hai với lƣu
lƣợng khai thác là khoảng 260.000 m
3
/ngày, do ở tầng hai lƣu lƣợng khai thác chƣa quá
trữ lƣợng khai thác an toàn, các giếng nƣớc khai thác lại rải khá đều do đó mực nƣớc
của tầng chứa này ít giảm. Số còn lại khai thác khoảng 340.000 m
3
/ngày khai thác từ
tầng ba và tầng bốn phục vụ cho sản xuất và các mục đích khác. Mặc dù lƣu lƣợng khai
thác còn nằm trong khả năng cho phép, tuy nhiên do sự khai thác nƣớc một cách tập
trung với lƣu lƣợng lớn ở phía Tây Nam của TP, đã làm cho mực nƣớc tầng ba và bốn
có xu hƣớng giảm so với cân bằng nƣớc.
8

Hình 1.1: Nước giếng bơm đang được nhiều người dân tại TP.HCM khai thác sử
dụng. (Ảnh minh họa từ Internet)
Theo TS.Nguyễn Văn Ngà, Trƣởng phòng Quản lý tài nguyên nƣớc và khoáng
sản (Sở TN&MT TP.HCM), tình hình khai thác nƣớc dƣới đất đang tập trung nhiều ở
quận 12, Gò Vấp, Thủ Đức, Tân Phú, Bình Tân, Bình Chánh, Củ Chi. Các quận, huyện
trên hiện chƣa có hệ thống cấp nƣớc chung hoặc có nhƣng chƣa phủ khắp. Công tác
quản lý tài nguyên nƣớc nói chung và nƣớc ngầm chƣa đáp ứng yêu cầu quản lý. Chẳng
hạn khả năng khai thác của nƣớc ngầm còn nhiều vấn đề chƣa thực hiện đƣợc; sự xâm
nhập mặn theo chiều ngang và thẳng đứng; tác động môi trƣờng do khai thác nƣớc ngầm

3
-
, NH
4
+
, TOC,
PO
4
3-
, SO
4
2-
, Fe, Al, Zn, Cu, Pb, Cd, Ni, As, Cr, CN-, Coliform, Fecal coliform. (Tiêu
chuẩn so sánh: QCVN 09: 2008/BTNMT)
1.3.3. Cấu tạo giếng giám sát nước ngầm
Giếng khoan đƣợc cấu tạo bởi lỗ khoan có đƣờng kính từ 250 mm hoặc 150 mm,
đƣợc chống bằng ống lắng, ống lọc. Ống chống nhựa uPVC Bình Minh đƣờng kính 168
mm hoặc 114 mm. Ống lọc là ống nhựa uPVC Bình Minh khoan lỗ và quấn bằng lƣới
nylon. Chiều sâu các giếng tăng dần từ 15 – 45 m. Các giếng đƣợc kết cấu bằng ống
chống đến khoảng 0,4m trên mặt đất.
Sau khi lắp đặt ống chống, ống lọc, khoảng trống hình vành khăn giữa lỗ khoan
và cột ống đƣợc đổ sỏi bọc chung quanh ống lọc đến 5m trên ống lọc, tiếp lên là cát
khoảng 0,5m. trên lớp cát là sét bentonít khoảng 2m. phần nhô lên khỏi mặt đất đƣợc
bảo vệ bằng ống thép inox có khoá. Toàn bộ các giếng trong trạm đều nằm trong nhà
bảo vệ bằng gạch có kích thƣớc 2,4 x 2,4m.
Cấu trúc cụ thể của giếng đƣợc thể hiện trong hình 1.2.
10

Hình 1.2: Cấu trúc cụ thể của giếng
11


2
Gò Cát
Bãi rác Gò Cát - Bình
Tân
GC
GC_A
Pleistocen

GC_B
Pleistocen

GC_C
Pleistocen

3
Linh Xuân
Nhà máy Rubimex,
Linh Trung - Thủ Đức
LX
LX_A
Pliocen trên
x
LX_B
Pleistocen
x
4
Đông Hƣng
Thuận
Đông Hƣng Thuận -

TSN
TSN_A
Pleistocen
x
TSN_B
Pliocen trên
x
TSN_C
Pliocen dƣới
x
7
Bàu Cát
Công viên Bàu Cát -
Tân Bình
CVBC
CVBC_A
Pleistocen

CVBC_B
Pleistocen

CVBC_C
Pleistocen

8
Phú Thọ
Trƣờng đua Phú Thọ -
Quận 11
PT
PT_A

Pleistocen
x
12
TT
Tên trạm
Vị trí

hiệu
Ký hiệu
giếng
Tầng quan
trắc
Ghi
chú
Logger
BH_C
Pleistocen
x
11
Tân Phú Trung
Tân Phú Trung – Củ
Chi
TPT
TTT_A
Pleistocen
x
TTT_B
Pliocen trên
x
TTT_C

Pliocen dƣới
x
14
Long Thạnh
Mỹ
Long Thạnh Mỹ -
Quận 9
LTM
LTM_A
Pleistocen
x
LTM_B
Pliocen trên
x
15
Thạnh Mỹ Lợi
Thạnh Mỹ Lợi - Quận
2
TML
TML_A
Pliocen trên

TML_B
Pleistocen

TML_C
Pleistocen

khu vực. Thế nhƣng đến nay việc khai thác nƣớc ngầm trái phép vẫn càng lúc càng diễn
biến phức tạp. Tình trạng ngƣời dân thành phố phải khai thác nƣớc ngầm nhiều nhƣ vậy
là do hệ thống nƣớc máy chƣa phủ kín địa bàn, nƣớc sạch chƣa đến tay ngƣời có nhu
cầu. Thống kê của ngành cấp nƣớc thành phố cho thấy, hiện nay ngành cũng chỉ có khả

Vị trí các trạm quan trắc nƣớc dƣới đất 14
năng cung cấp trên dƣới 1,2 triệu m³ nƣớc sạch/ngày, trong khi nhu cầu của thành phố 8
triệu dân tính ra phải từ 1,7 triệu m³/ngày trở lên.
Mặt khác, số liệu điều tra cơ bản về nƣớc ngầm vẫn còn thiếu, công tác kiểm tra,
xử lý vi phạm hiệu quả chƣa cao, quy hoạch chung chƣa gắn kết với quy hoạch nguồn
nƣớc.
Trên thực tế hiện nay, nhiều ban ngành trên địa bàn thành phố chƣa nhận thức
đƣợc hết tầm quan trọng của nguồn nƣớc ngầm nhƣ khả năng của nguồn nƣớc có hạn,
sự mất cân bằng sẽ dẫn tới hạ thấp mặt nuớc. Ngoài ra, nhận thức của ngƣời dân về bảo
vệ nguồn nƣớc cũng còn hạn chế, một bộ phận không nhỏ ngƣời dân chƣa tuân thủ pháp
luật về bảo vệ, tiết kiệm nguồn tài nguyên nƣớc.
-2.79
-2.60
2
Q.2
Thạnh Mỹ Lợi
TML
-4.34
-4.22
3
Hóc Môn
Thới Tam Thôn
TTT
-6.46
-5.75
4
CT Đông Thạnh
CTĐT
-11.28
-10.82
5
Củ Chi
Tân Phú Trung
TPT
-6.77
-7.19
6
Phú Nhuận
Tân Sơn Nhất
TSN
-7.26

12
Tân Bình
CV Bàu Cát
CVBC
-9.57
-8.97
13
Bình Tân
Tân Tạo
TaT
-12.68
-13.34
14
Gò Cát
GC
-18.45
-18.66
15
Q.9
Long Thạnh Mỹ
LTM
-25.14
-25.03
Kết quả quan trắc mực nƣớc dƣới đất tầng Pleistocen tại các giếng quan trắc
trong năm 2011 dao động trong khoảng từ -1,26m đến -27,66m. Mực nƣớc hạ thấp vào
các tháng cuối mùa khô, đầu mùa mƣa là tháng 4, 5, 6 và tăng trở lại vào tháng 7 là giữa
mùa mƣa Mực nƣớc có giá trị cao nhất tại trạm LX (TĐ) vào tháng 10, đạt -1,26m và
thấp nhất tại trạm LTM (Q.9) vào tháng 5, đạt -27,66m.

16

Hình 2.2: Biểu đồ so sánh mực nước dưới đất tầng Pleistocen năm 2010 và năm 2011
So với năm 2010, mực nƣớc quan trắc tại đa số các trạm tăng từ 0,02m đến
1,19m; tăng nhiều nhất tại trạm ĐHT là 1,19m. Tại các trạm TPT, TaT, GC mực nƣớc
có giảm nhƣng không đáng kể.
17
2.1.2. Tầng Pliocen trên
Kết quả quan trắc mực nƣớc dƣới đất tầng Pliocen trong năm 2011 thể hiện trong
bảng 2.2.
Bảng 2.2: Kết quả quan trắc mực nước dưới đất tầng Pliocen trên trong năm 2011
STT
Khu vực
Trạm
Ký hiệu
TB Năm 2010
(m)
TB Năm 2011
(m)
1
Q.12
Tân Chánh Hiệp
TCH
-29.85
-29.24
2
Phú Nhuận
Tân Sơn Nhất
TSN
-33.40
-32.30
3

Q.11
Phú Thọ
PT
-28.47
-26.64
9
Bình Tân
Tân Tạo
TaT
-24.73
-25.37
Diễn biến mực nƣớc dƣới đất tầng Pliocen trên trong năm 2011 Hình 2.3: Diễn biến mực nước dưới đất tầng Pliocen trên trong năm 2011
Diễn biến mực nƣớc dƣới đất tầng Pliocen trên năm 2011
-50.00
-45.00

TCH TSN LX LTM TML TPT
TTT PT TaT

18
Kết quả quan trắc mực nƣớc dƣới đất tầng Pliocen trên tại các giếng quan trắc
trong năm 2011 dao động trong khoảng -5,63m đến -46,2m. Mực nƣớc bị hạ thấp vào
các tháng 5, 6 và tăng trở lại trong tháng 7. Mực nƣớc có giá trị cao nhất tại trạm TML
(Q.2) vào tháng 10, đạt -5,63m và thấp nhất tại trạm LX (TĐ) vào tháng 5, đạt -46,2m.
Biểu đồ mực nước dưới đất tầng Pliocen trên năm 2010 - 2011
-50
-45
-40
-35
-30
-25
-20
-15
-10
-5
0
TML TPT TTT TaT LTM TCH PT TSN LX
Q.2 CC HM BT Q.9 Q .12 Q.11 PN TĐ
Trạm
m
Năm 2010 Năm 2011

Hình 2.4: Biểu đồ so sánh mực nước dưới đất tầng Pliocen trên năm 2010 và 2011
So với năm 2010, mực nƣớc quan trắc tại đa số các trạm tăng từ 0,12m đến
1,83m; tăng nhiều nhất tại trạm PT là 1,83m. Tại các trạm TPT và TaT mực nƣớc giảm
tƣơng ứng là 0,21m và 0,64m.

4
Hóc Môn
Thới Tam Thôn
TTT
-15.97
-15.66
5
Q.11
Phú Thọ
PT
-33.76
-33.43
6
Bình Tân
Tân Tạo
TaT
-24.91
-24.70
7
Bình Chánh
Bình Hƣng
BH
-36.03
-34.94

19
Diễn biến mực nƣớc dƣới đất tầng Pliocen dƣới trong năm 2011
Diễn biến mực nƣớc dƣới đất tầng Pliocen dƣới năm 2011
-40
-35

Trạm
m
Năm 2010 Năm 2011

Hình 2.6: Biểu đồ mực nước dưới đất tầng Pliocen dưới
20
So với năm 2010, mực nƣớc quan trắc tại đa số các trạm tăng từ 0,21m đến
1,29m; tăng nhiều nhất tại trạm TSN là 1,29m. Tại trạm TPT mực nƣớc giảm 0,27m.
2.2. Kết quả quan trắc chất lƣợng nƣớc dƣới đất năm 2011
2.2.1. Tầng Pleistocen
Kết quả quan trắc chất lƣợng nƣớc dƣới đất tầng Pleistocen trong năm 2011 thể
hiện trong bảng 2.4.
Bảng 2.4: Kết quả quan trắc chất lượng nước dưới đất tầng Pleistocen năm 2011
Trạm
pH
TDS
(mg/l)
Độ cứng
(mg
CaCO
3
/l)
NO
3

(mg/l)
NH
4

(mg/l)

373
126,26
0,21
9,73
11,04
61.101
3.516
GV
4,47
227
52,57
5,74
2,40
2,92
18
0
TSN
5,93
105
22,26
25,15
0,05
0,79
1
0
CVBC
5,54
161
16,93
10,06

0
TPT
4,41
141
13,07
29,66
0,24
0,79
2
0
TTT
5,37
13
9,03
0,11
0,04
2,35
25
0
TCH
4,89
198
27,35
13,03
8,30
0,50
8
0
TML
4,73

nhất); trong đó, chỉ có 6/14 trạm có pH trung bình đạt quy chuẩn cho phép (QCVN 09 :
2008/BTNMT, 5,5 – 8,5) là CTĐT, LX, TSN, CVBC, BH; 9/14 trạm còn lại có pH thấp
hơn giới hạn dƣới cho phép của quy chuẩn từ 1,01 - 1,2 lần.
So với năm 2010, pH tại các trạm đa số đều giảm từ 1,03 - 1,34 lần, trong đó, LX
có pH giảm nhẹ nhất và TaT là trạm giảm mạnh nhất. Riêng trạm TML có pH tăng nhẹ
1,05 lần đối với trạm TML và trạm GV có pH không thay đổi (4,47).
21

Diễn biến độ pH tại các trạm quan trắc
nƣớc dƣới đất năm 2011
0,00
1,00
2,00
3,00
4,00
5,00
6,00
7,00
8,00
9,00
CTĐT LX ĐHT GV TSN CVBC PT TaT BH TPT TTT TCH TML LTM
Trạm
2010 2011 QCVN QCVN

Hình 2.7: Diễn biến pH tại các trạm quan trắc nước dưới đất năm 2011
 Tổng chất rắn hoà tan TDS
Diễn biến nồng độ TDS tại các trạm quan trắc
nƣớc dƣới đất năm 2011
0
1500


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status