Luận cứ khoa học cho các quan điểm và chính sách chủ yếu nhằm phát triển và bền vững nền kinh tế Việt Nam thời kỳ 2011-2020 - Pdf 29


BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC KX.01/06-10

“NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA
PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020”
____________________________________

BÁO CÁO TỔNG HỢP

ĐỀ TÀI

“LUẬN CỨ KHOA HỌC CHO CÁC QUAN ĐIỂM
VÀ CHÍNH SÁCH CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN NHANH
VÀ BỀN VỮNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KỲ 2011 - 2020” Mã số: KX.01-23/06-10 Chủ nhiệm đề tài: PGS. TS. BÙI TẤT THẮNG
Cơ quan chủ trì: TRUNG TÂM KINH TẾ CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG

triển bền vững
7 PGS. TS Bùi Quang Dũng Phó Viện trưởng Viện Xã hội học
8 TS Chu Đức Dũng Phó Viện trưởng Viện Kinh tế và Chính trị thế giới
9 Ths. Trần Thị Cẩm Trang
Viện Kinh tế và Chính trị thế giới, Ủy viên Thư ký
Chương trình KX 01.06/10
10 TS Nguyễn Công Mỹ
Trưởng ban Thông tin và HTQT, Viện Chiến lược phát
triển
11
Ths Nguyễn Thị Lan
Hương
Trưở
ng banTổng hợp, Viện Chiến lược phát triển
12 Ths Nguyễn Hoàng Hà Phó Trưởng banTổng hợp,, Viện Chiến lược phát triển
13 TS Đặng Quốc Tuấn
Phó trưởng ban Phát triển Kết cấu hạ tầng, Viện Chiến
lược phát triển
14 Ths Nguyễn Đình Phúc
Phó trưởng ban Phát triển các ngành dịch vụ, Viện Chiến
lược phát triển
15 Ths Phạm Lê Hậu Viện Chiến lược phát triển
16 Ths Đỗ Thu Trang Viện Chiế
n lược phát triển
17 Ths Nguyễn Đăng Hưng Viện Chiến lược phát triển
18
Ths Phan Thị Sông
Thương
Viện Chiến lược phát triển
19 Ths Nguyễn Thị Mỹ Hạnh Viện Chiến lược phát triển

điển và Tân cổ đ
iển
39
3.2. Vấn đề phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế trong mô hình Kinh tế
kế hoạch hóa tập trung
48
3.3. Vấn đề phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế trong Kinh tế học
Keynes và Trào lưu chính
51
3.4. Vấn đề phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế trong Kinh tế học phát
triển
57
3.5. Vấn đề phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế trong Kinh tế chính trị
học của những n
ền kinh tế chuyển đổi và một số vấn đề mới về tư duy phát
trển nhanh và bền vững nền kinh tế trong thời đại ngày nay
62
Chương II: Những căn cứ thực tiễn của việc xác định các quan điểm và
chính sách chủ yếu nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế
76
I. Những bài học từ kinh nghiệm lịch sử của một số nước v
ề phát triển
nhanh và bền vững nền kinh tế

76
1.1. Về kinh nghiệm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế của Nhật
Bản và các nền kinh tế mới công nghiệp hóa Đông Á

76
iii

3.6. Đổi mới thể chế có nhiều bước tiến, nhưng vẫn còn một số việc phải
làm
124
3.7. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đạt nhiều thành tựu to lớn, Việt
Nam đã trở thành thành viên WTO, nhưng những thách thức để tối đa hóa
lợi ích do hội nhập mang lại còn rất lớn
126
Chương III: Quan điểm và giải pháp chính sách chủ y
ếu để phát triển
nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam thời kỳ 2011-2020
128
I. Quan điểm và mục tiêu chủ yếu phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế
Việt Nam thời kỳ 2011-2020
128
1.1. Quan điểm phát triển 128
1). Quan điểm thứ nhất: Quán triệt tư tưởng phát triển nhanh và bền vững
nền kinh tế một cách nhất quán và xuyên suốt toàn bộ tư duy chính sách
phát triển kinh tế Việt Nam th
ời kỳ 2011-2020
128
2). Quan điểm thứ hai: Mở cửa hội nhập để phát triển và phát triển thông
qua mở cửa hội nhập, dựa vào mở cửa hội nhập để phát triển
134
3). Quan điểm thứ ba: thu hút mọi nguồn lực cho phát triển 139
4). Quan điểm thứ tư: Xác định bước đi thích hợp (có trọng tâm, trọng điểm
trong mỗi giai đoạn nhất định)
141
1.2. Mục tiêu chủ yếu 143
II. Các giải pháp chính sách chủ yếu để phát triển nhanh và bền vững nền
kinh tế Việt Nam thời kỳ 2011-2020

Hình 2.1. So sánh tốc độ tăng GNP bình quân đầu người của Nhật Bản giữa
các thời kỳ.
78
Hình 2.2: T
ỷ lệ vốn đầu tư so với GDP và tăng trưởng GDP: Giai đoạn
1990-2008
105 v

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: GDP và tốc độ tăng trưởng GDP: Thế gới và các vùng chủ yếu (0-
1998 A.D)

21
Bảng 1.1: Các chỉ báo chính về tính bền vững 29
Bảng 2.1: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) và GDP/người (%) 86
Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng GDP, GDP/đầu người và dân số bình quân hàng
năm thời kỳ 1950–73 (%)
87
Bảng 2.3: Thời gian hòan thành CNH theo tiêu chí cơ cấu lao động 88
Bảng 2.4. Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam 103

130
Bảng 3.2: Năm bắt đầu và độ dài của "kỷ nguyên dân số vàng" của 9 nước trong
khu vực
131

vi CÁC TỪ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng phát triển châu Á (Asia Development Bank)
BOP Cán cân thanh toán (balance of payments )
CNH Công nghiệp hóa
CNTB Chủ nghĩa tư bản
CNXH Chủ nghĩa xã hội
CNCS Chủ nghĩa cộng sản
CHXHCN
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
DCCH
Dân chủ cộng hòa
CPH
Cổ phần hóa
DN Doanh nghiệp
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
GNP Tổng sản phẩm quốc dân (Gross National Product)
HTX Hợp tác xã
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế (International Moneytary Fund)
ICOR hệ số gia tăng vốn đầu tư (tư bản)/đầu ra (Incrumental capital output ratio )

Ban chủ nhiệm đề tài xin chân thành cảm ơn các thành viên trong Ban chủ
nhiệm và Ban Thư ký Chương trình, Văn phòng các Chương trình trọng điểm cấp
Nhà nước, Vụ Khoa học Tự nhiên và Xã hội (Bộ Khoa học và Công nghệ), Trung
tâm Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương, cá nhân các nhà khoa đã trực tiếp tham
gia nghiên cứu các chuyên đề, các cán bộ thuộc Trung tâm Kinh tế Châu Á – Thái
Bình Dương, Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), các nhà khoa
học đã tham gia nhận xét, góp ý cho việc thực hiện đề tài.

Thay mặt Ban Chủ nhiệ
m đề tài
Chủ nhiệm
PGS TS Bùi Tất Thắng 1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài
- Tính cấp thiết và ý nghĩa về mặt lý luận:
Mặc dù gần đây, trên các sách báo kinh tế, vấn đề phát triển, phát triển
nhanh và bền vững nền kinh tế được đề cập đến rất nhiều và đã trở thành
những thuật ngữ mang tính thông dụng và là mục tiêu chính sách tổng quát;
nhưng vẫn chưa hoàn toàn có sự thố
ng nhất trong cách hiểu về các khái niệm

còn không được làm tổn hại đến những cơ hội lựa chọn của các thế hệ mai sau.
Sự bền vững của phát triển được thể hiện cả ở khía cạnh kinh tế, xã hội, môi
trườ
ng và thể chế. Đó là quá trình gia tăng phúc lợi cho các thế hệ con người

2
bằng cách gia tăng tài sản, bao gồm tài sản vật chất, tài sản tài chính, tài sản
con người, tài sản môi trường (nước sạch, không khí sạch, bãi cá, rừng cây, đất
đai ) và tài sản xã hội (sự tin cậy lẫn nhau, khả năng liên kết, sự đảm bảo an
ninh cho người và tài sản ). Đó chính là thông điệp chủ yếu của tư duy mới
về phát triển cho thế kỷ XXI của loài người, trong đó có Việt Nam.
Tuy nhiên, vấn
đề đang đặt ra đối với đề tài là tập trung ở khía cạnh
“nhanh và bền vững” nền kinh tế, vậy những lý thuyết phát triển nêu trên xử lý
các mối quan hệ này như thế nào? Cần phải xác định những mối quan hệ qua
lại, ràng buộc lẫn nhau giữa các yếu tố cấu thành của phát triển bền vững nói
chung với phát triển bền vững (và nhanh) về mặt kinh tế ra sao? Rõ ràng, về
mặt lý lu
ận, cần thiết phải xem xét các mối tương quan đang đặt ra giữa các
nhân tố nêu trong bảng sau dưới ánh sáng của tư duy phát triển hiện nay.
Phát triển bền vững
Kinh tế
Tăng
trưởng
Chuyển đổi
cơ cấu kinh
tế
Chia sẻ
phúc lợi
Phát triển nhanh

nguồn lực củ
a thế giới để phát triển, bao gồm cả nguồn lực vật chất lẫn con
người để thực hiện tiến nhanh, thu hẹp khoảng cách tụt hậu và đuổi kịp thế
giới.
- Việt Nam nằm trong khu vực phát triển năng động của thế giới. Sự
năng động của sự hợp tác Đông Á và của các nước ASEAN đang tạo cơ hội để
Việt Nam phát huy vai trò của một thành viên đầy đủ của ASEAN/AFTA,
vươn lên thành một trong những nền kinh tế có quy mô lớn trong ASEAN.
- Việt Nam đã là thành viên đầy đủ của WTO, có những cơ hội mới để
chủ động tham gia các tiến trình toàn cầu và khu vực, giúp tăng cường an toàn
phát triển của Việt Nam.
- Kinh tế Việt Nam đang trên đà tăng trưởng tốt do các chính sách đổi
mới và mở cửa tạo ra.
Sự cộng hưở
ng của đà phát triển ở trong nước với những điều kiện thuận
lợi do thời đại và thế giới mang lại tạo thành thế phát triển kết hợp hài hòa
“thiên thời – địa lợi – nhân hòa”. Đây là một khả năng rất lớn, hiếm gặp trong
lịch sử dân tộc. Theo nghĩa này, có thể coi giai đoạn từ nay tới 2020 là giai
đoạn vận hội lớn của đấ
t nước và dân tộc Việt Nam.
Tuy nhiên, trong khi nhận thức rõ những cơ hội, cũng cần thấy hết
những thách thức đặt ra, nhất là trong điều kiện Việt Nam là một nước đang
phát triển ở trình độ thấp, quản lý Nhà nước còn nhiều yếu kém và bất cập,
doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân còn nhỏ bé. Những thách thức lớn phải
đối mặt là:
- Tính bất định, khó dự báo của các khuynh hướ
ng toàn cầu đưa đến
những rủi ro phát triển không nhỏ.
- Việc xây dựng một nền kinh tế hiện đại chủ yếu dựa trên tri thức và
công nghệ cao, có cấu trúc vững chắc, nguồn nhân lực kỹ năng cao và nền

cứu nhữ
ng luận cứ khoa học cho các quan điểm và chính sách chủ yếu nhằm
phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam thời kỳ 2011 – 2020.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
Phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế vốn là mục tiêu theo đuổi của
bất cứ quốc gia nào. Đối với những nước chậm phát triển, phát triển nhanh và
bền vững nền kinh tế còn đượ
c nêu lên như một khẩu lệnh, thôi thúc, bắt buộc
trong bối cảnh tranh đua nhằm đuổi kịp các nước phát triển hơn. Vì vậy, thật dễ
hiểu khi nhận thấy rằng, chủ đề phát triển từ lâu đã là đề tài lôi cuốn lớp lớp
các thế hệ những nhà kinh tế cũng như các lĩnh vực khoa học xã hội khác
nghiên cứu. Cùng với thời gian, dưới tác động của nh
ững nhân tố mang tính
thời đại và toàn cầu, nhu cầu gia tốc sự phát triển nền kinh tế một cách bền
vững đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu và những
nhà làm chính sách của các chính phủ. Khối lượng các công trình nghiên cứu
liên quan đến chủ đề phát triển kinh tế nói chung, phát triển nhanh và bền vững
nền kinh tế nói riêng, là rất lớn. Để có thể có được cái nhìn khái quát về những
công trình nghiên cứu về chủ
đề phát triển (nhanh và bền vững) nền kinh tế,
xin được điểm qua một số công trình tiêu biểu qua các nhóm công trình chia
theo các chủ đề chủ yếu sau:

5
- Các công trình tiêu biểu trình bày về các nội dung liên quan đến quan
niệm, khái niệm, nội dung, bản chất và những vấn đề chung về sự phát triển
kinh tế, bao gồm nhiều tác phẩm kinh điển về kinh tế học, như cách quan niệm
về sự thịnh vượng, phát triển của các quốc gia trong tác phẩm Của cải của các
dân tộc của Adam Smith (bản dịch của NXB Giáo dục, Hà nội 1997); Những
nguyên lý của Kinh t

International Development Goals – Making cooporation on the goals more
effective. Hosted by the World Bank in March 19 to 21, 2001; Washington,
D.C.), gắn phát triển với việc giải quyết tình trạng nghèo đói, với khả năng tiếp
cận của đông đảo người dân một cách công bằng tới các cơ hội phát triển kinh
tế; và những công trình nghiên cứu đặc sắc khác xung quanh chủ đề này như
Tư duy mới về phát triển cho thế kỷ XXI của Dani Rodrik (bản dịch củ
a NXB
Chính trị quốc gia, Hà nội 2000), hay Cuộc chạy đua vào thế kỷ XXI của
Konrad Seitz (bản dịch của NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004); v.v…, là

6
những công trình nghiên cứu về tư duy phát triển mới, về cuộc cạnh tranh để
phát triển trong thời đại mới, thời đại toàn cầu hóa kinh tế.
- Các công trình tiêu biểu trình bày về các mô hình phát triển kinh tế, các
yếu tố liên quan đến phát triển kinh tế (nhanh và bền vững) là loạt công trình
hoặc là khái quát tiến trình lịch sử phát triển lâu dài của các nền kinh tế để tìm
ra các loại hình phát triển. Điển hình cho cách tiếp cận này sự khái quát lịch sử

phát triển xã hội qua các “hình thái kinh tế - xã hội” theo quan điểm duy vật
lịch sử của Karl Marx, hay các giai đoạn phát triển kinh tế của Warl Rostow.
Gần đây, Angus Maddison (giáo sư Đại học Groningen (Hà Lan) và đại học
Cambridge (Anh) đã công bố công trình The World Economy: a millenial
perspective (
2001) và The World Economy: historical statistics (2003), trong
đó đưa ra những số liệu thống kê về tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới trong
2000 năm qua (từ năm 0 đến năm 1998), cho thấy khái quát các mô hình kinh
tế và các giai đoạn phát triển của nó. Theo các số liệu của Angus Maddison,
trong vòng 1000 năm đầu sau công nguyên (0 – 1000), kinh tế thế giới chỉ tăng
trưởng bình quân 0,01%/năm; 820 năm tiếp theo, mức tăng trưởng bình quân
của kinh tế thế giới là 0,22%/n

GS. TS Vũ Đình Bách (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000); v.v…. Đặc
biệt, trở lại những tác phẩm kinh điển, những phân tích về các mô hình phát
triển kinh tế, trong nhiều trường hợp, vẫn còn mang hàm ý chính sách sâu sắc
đối với thời kỳ hiện tại. Chẳng hạn, trong tác phẩm nổi ti
ếng Của cải của các
dân tộc (1776), Adam Smith đã giành hẳn một thiên bàn về các chế độ kinh tế;
trong đó ông luận về hai chế độ kinh tế khác nhau: chế độ thương mại và chế
độ canh nông. Phần luận về chế độ thương mại dài gấp 8 lần chế độ canh nông,
Adam Smith đã nói về nguyên tắc tự do kinh doanh, coi đó là đường lối duy
nhất đưa một quốc gia tới sự
phát triển đầy đủ và thịnh vượng. Dĩ nhiên, về sau
này, có nhiều thuyết về mô hình, về các con đường phát triển, nhưng ví dụ về
Adam Smith cho thấy, sự phát triển và các mô hình phát triển đã được các nhà
kinh điển về kinh tế học quan tâm nghiên cứu ngay từ đầu.
- Các công trình tiêu biểu trình bày về các nội dung liên quan đến kinh
nghiệm và các vấn đề phát triển kinh tế (nhanh và bền vững) của một số nền
kinh tế, trong đó có các n
ền kinh tế mới CNH trong khu vực, đáng chú ý là:
Điều tiết thị trường: Lý thuyết kinh tế và vai trò của Chính phủ trong công
nghiệp hóa ở Đông Á của Robert Wade (bản dịch của NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội 2005); Suy ngẫm lại sự thần kỳ Đông Á do Joseph E. Stiglitz và Shahid
Yusuf biên tập (bản dịch của NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội 2002); Kinh tế
chính trị Nhật Bản do Yasusuke Murakami và Hugh T.Patrick làm Tổng chủ
biên (bản dịch c
ủa NXB Khoa học xã hội Hà nội 1991); Kinh nghiệm công
nghiệp hóa của Nhật Bản và sự thích dụng của nó đối với các nền kinh tế đang
phát triển của Kazushi Ohkawa và Hirohisa Kohama (bản dịch của NXB
KHXH, Hà Nội 2004); Experiences and Lessons of Economic Development in
Taiwan của Kwoh-ting Li và Tzong-shian Yu (Academia Sinica, Taipei,
Taiwan, Republic of China – 1982)…. Những công trình về nền kinh tế cải

trình như Việt Nam hướng tới 2010 (UNDP & MPI/DSI - NXB Chính trị Quốc
gia, Hà nội 2001); Công nghiệp hoá Việ
t Nam trong thời đại Châu Á - Thái
Bình Dương (GS TS Trần Văn Thọ NXB TP Hồ Chí Minh – Thời Báo Kinh tế
Sài Gòn và VAPEC, 1997); Thể chế – Cải cách thể chế và phát triển. Lý luận
và thực tiễn ở nước ngoài và Việt Nam (TS Đinh Văn Ân – TS Võ Trí Thành
(Chủ biên) - NXB Thống kê, Hà nội 2002); Phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 (PGS. TSKH
Nguyễn Văn Đặng (Chủ biên) - NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội 2007); Kinh
tế Việt Nam – Đổi mới và phát triển (Võ Đại Lược - NXB Thế giới, Hà Nội
2007); Triết lý phát triển ở Việt Nam – Mấy vấn đề cốt yếu (Phạm Xuân Nam
(Chủ biên) - NXB KHXH, Hà Nội 2005); Việt Nam tấn công nghèo đói (Ngân
hàng Thế giới - Báo cáo phát triển của Việt Nam năm 2000); Việt nam tiến vào
thế kỷ 21 - các trụ cột của sự phát triển (Ngân hàng Thế giớ
i - 12/2000); Tăng
trưởng kinh tế Việt Nam: Những rào cản cần phải vượt qua (GS. TS Nguyễn
Văn Thường (Chủ biên) - NXB Lý luận chính trị. Hà Nội 2005; Những vấn đề
chủ yếu về kinh tế phát triển (PGS. TS. Ngô Doãn Vịnh NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội 2006); Báo cáo phát triển Việt Nam 2007 – Hướng đến một tầm
cao mới (Ngân hàng Thế giới - 12/2006); Để kinh tế Việt Nam khởi sắc (Nhiều
tác giả
- NXB Trẻ, 2006) v.v…; là những công trình nghiên cứu phản ánh các
khía cạnh khác nhau của phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam.
Có thể nói, mảng đề tài về phát triển kinh tế nói chung, phát triển nhanh
và bền vững nói riêng, cũng như phát triển nhanh và bền vững cụ thể ở mỗi
khu vực, mỗi nền kinh tế, đã được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu, khối lượng
các công trình đã xuất bản rất phong phú. Tuy nhiên, nhu cầu nghiên cứu tiế
p
tục về chủ đề này lại dường như vô tận, vì cùng với dòng chảy thời gian, những

và bền vững) nền kinh t
ế.
2. Tìm hiểu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về việc giải quyết
vấn đề phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế. Trên cơ sở đó, rút ra những
bài học cần thiết cho Việt Nam trong cách tiếp cận vấn đề, trong việc xây dựng
các chính sách và tổ chức thực hiện các chính sách phát triển nhanh và bền
vững nền kinh tế.
3. Luận chứng những cơ sở
thực tiễn, bao gồm phân tích đánh giá thực
trạng, tính chất bức thiết, bối cảnh trong nước và quốc tế, các điều kiện và khả
năng thực tế đối với việc phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế.
4. Trên cơ sở những phân tích lý luận, kinh nghiệm các nước và thực
tiễn nêu trên, luận giải cơ sở khoa học của việc xác định các quan điểm và các

10
chính sách chủ yếu nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam
thời kỳ 2011-2020; đồng thời đề xuất một số quan điểm và chính sách chủ yếu
để phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam thời kỳ 2011-2020.
5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
5a) Cách tiếp cận
Nhằm thực hiện các mục tiêu đã xác định, đề tài chú trọng các cách tiếp
cận chủ yế
u sau:
1. Tiếp cận lý thuyết, hệ thống:
Việc phân tích các lý thyết phát triển thông qua việc tổng duyệt toàn bộ
hệ thống các trường phái lý thuyết kinh tế học là công việc rất nặng nề, nhưng
rất cần thiết đối với đề tài này. Vì vậy, tiếp cận lý thuyết một cách có hệ thống
là một trong những cách tiếp cận được đặc biệt chú ý.
2. Tiếp cận toàn diện và hiện
đại

cần thiết. Nội dung thuyết minh và hợp đồng nghiên cứu giữa Bộ Khoa học và
Công nghệ với Ban chủ nhiệm Chương trình và Ban chủ nhiệm đề tài cũng
được tiến hành trên tinh thần này.
Nhận nhiệm vụ này, Ban Chủ nhiệm đề tài một mặt, đã xin ý kiến chỉ
đạo của Ban chủ nhiệm Chương trình và những ý kiến tham vấn rộng khắp của
cá nhân nhiều nhà khoa học. Đồng thời, cũ
ng cố gắng kế thừa, chắt lọc những
ý tưởng, những kết quả nghiên cứu (nhưng không sao chép) của các đề tài khác
trong chương trình. Mặt khác, đã chủ động triển khai nghiên cứu một cách
tương đối độc lập, khong bị ràng buộc bởi những kết luận hay những kiến giải
khoa học mà các đề tài khác đã đạt được. Vì vậy, Ban chủ nhiệm đề tài hoàn
toàn khẳng định tính độ
c lập, hoàn chỉnh trong kết quả nghiên cứu của mình,
giống như mọi đề tài khác trong chương trình.
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã sử dụng tổng hợp các phương pháp
nghiên cứu, trong đó nhấn mạnh một số phương pháp chủ yếu sau.
- Phương pháp phân tích lý thuyết, hệ thống: Việc khảo cứu, phân tích
các lý thuyết kinh tế đòi hỏi phải sử dụng tốt phương pháp đặc thù của kinh tế
chính tr
ị học là tư duy trừu tượng, phân tích hệ thống, lôgic các vấn đề lý luận
đặt ra.
Trên cơ sở các tài liệu thu thập được (về lý thuyết và thực tế, trong và
ngoài nước), tiến hành phân loại, đánh giá, phân tích các cách tiếp cận, các nội
dung của phát triển kinh tế và tổng hợp lại thành một hệ thống, phân tích sâu
các khía cạnh về cách tiếp cận, cách lập luận, các quan điểm phát triển kinh tế.
- Phương pháp so sánh: Việc so sánh các
điểm mạnh, điểm yếu, hoàn
cảnh lịch sử ra đời các loại lý thuyết phát triển kinh tế, các mô hình phát triển
kinh tế, đối chiếu với các chỉ tiêu phản ánh kết quả mức độ nhanh và bền vững
sẽ giúp cho những phân tích, đánh giá sâu sắc hơn, rõ ràng hơn.

Chương này tập trung luận chứng những cơ sở thực tiễn, bao gồm phân
tích những bài học kinh nghiệm của thế giới về phát triển nhanh và bền vững,
từ đó rút ra những vấn đề về
phương pháp tiếp cận, về cách xác định quan điểm
và các chính sách chủ yếu để phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế; phân
tích đánh giá thực trạng, tính chất bức thiết của bối cảnh quốc tế và bối cảnh
trong nước, các điều kiện và khả năng thực tế đối với việc phát triển nhanh và
bền vững nền kinh tế.
Chương III: Một số quan đ
iểm và chính sách chủ yếu để phát triển
nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam thời kỳ 2011-2020
Trên cơ sở những phân tích lý luận, kinh nghiệm các nước và thực tiễn
đã nêu ở các phần trên, chương này sẽ luận giải cơ sở khoa học của việc xác
định các quan điểm và các chính sách chủ yếu nhằm phát triển nhanh và bền
vững nền kinh tế Việt Nam thời kỳ 2011-2020; đồng thời đề
xuất một số quan
điểm và chính sách chủ yếu để phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt
Nam thời kỳ 2011-2020.
Sau đây là nội dung báo cáo.

13 CHƯƠNG MỘT
NHỮNG LUẬN CỨ LÝ LUẬN CƠ BẢN ĐỂ
XÁC ĐỊNH CÁC QUAN ĐIỂM VÀ CHÍNH SÁCH CHỦ YẾU
NHẰM PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG NỀN KINH TẾ

Chương này tập trung làm rõ một số khái niệm chủ chốt của phát triển kinh
tế, xác định các tiêu chí đánh giá sự phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế;

GDP) tính theo đầu người, phản ánh mức độ tăng trưởng sản xuất trong một giai
đoạn nhất định. Để có tăng trưởng, mức tăng sả
n lượng phải lớn hơn mức tăng
dân số.
14

Vì đo lường mức độ gia tăng quy mô kinh tế nên không hiếm khi, người ta
đã coi tăng trưởng kinh tế chính là sự phát triển kinh tế, và vì thế, đôi khi hai khái
niệm này được sử dụng để thay thế lẫn cho nhau.
Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy rằng, có những quốc gia tuy đạt mức độ tăng
trưởng kinh tế cao (tức là chỉ số gia tăng GDP; GNP hay GDP/người, GNP/người
cao), nhưng cấu trúc (cơ cấu) của n
ền kinh tế vẫn ít có sự thay đổi, thậm chí có sự
tách rời giữa khu vực sản xuất công nghiệp hiện đại với các khu vực nông nghiệp
lạc hậu, và vì vậy, khu vực nông nghiệp với đông đảo nông dân nghèo khó vẫn
không được sẻ chia những thành quả của tăng trưởng kinh tế.
Vì vậy, quan niệm về phát triển kinh tế bắt đầu có sự thay đổi theo hướng
không chỉ tập trung vào chỉ tiêu t
ăng trưởng mà bao quát cả những thay đổi về cơ
cấu kinh tế và cuộc sống con người cả về lượng lẫn về chất.
2) Thay đổi cơ bản cơ cấu của nền kinh tế: Trong quá trình phát triển, tỷ
trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ trong GDP và trong tổng nguồn lao
động xã hội tăng, trong khi tỷ trọng của nông nghiệp (cũng tính trong GDP và
trong tổng nguồn lao động xã hộ
i) giảm. Đồng thời dân cư thành thị tăng, dân cư
nông thôn giảm. Sự thay đổi cơ cấu kinh tế phản ánh mức độ thay đổi của phương
thức sản xuất theo hướng ngày càng hiện đại, những khu vực có năng suất lao
động cao, giá trị gia tăng lớn có tốc độ phát triển cao hơn và thay thế dần những
khu vực sản xuất – kinh doanh có năng suất lao động và giá trị gia tăng thấ
p.

hay khía cạnh khác của nội dung phát triển. Trước một thực tế là, quá trình CNH
và phát triển kinh tế của các nước đang phát triển càng được bàn tới bao nhiêu thì
dường như khoả
ng cách về thu nhập (và trình độ phát triển) giữa các nước phát
triển và các nước chậm phát triển lại càng gia tăng chứ không được thu hẹp lại.
Không những thế, trong nhiều quốc gia đang phát triển, kể cả những nước có mức
tăng trưởng cao, khoảng cách thu nhập giữa nhóm có thu nhập cao và nhóm có
thu nhập thấp cũng ngày càng doãng ra. Nạn đói, dịch bệnh, thất học tiếp tục
hoành hành. Bên cạnh sự thiếu đ
ói về vật chất, trước hết là vấn đề lương thực,
còn là sự thiếu đói về tinh thần: tri thức, phẩm giá, sự tôn trọng, quyền tự do
Trong bối cảnh như vậy, các nhà nghiên cứu về phát triển, trước hết là dưới
ngọn cờ của Tổ chức phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP), bắt đầu từ năm
1990 đã cho xuất bản đều đặn hàng n
ăm bản Báo cáo phát triển con người với ý
tưởng trung tâm coi con người chính là mục tiêu của phát triển kinh tế với cách
nhìn mở rộng hơn về nhiều mặt của đời sống xã hội.
“Phát triển con người là mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế Với tư
cách là mục tiêu chứ không phải là một phương tiện, bản thân phát triển con
người nhằm làm giàu cho cuộc sống con người. Sự giàu có về vật ch
ất – tạo ra
một khối lượng hàng hoá và dịch vụ lớn hơn – có thể góp phần vào điều này
nhưng không hẳn đã là sự phát triển con người. Thực tế người ta thấy rằng không
tồn tại mối liên hệ 1:1 giữa sự giàu có về vật chất (được tính bằng tổng sản phẩm
quốc dân trên đầu người) với sự giàu có về mặt tinh thần (được tính bằng chỉ
số
phát triển con người). Do vậy, quan điểm phát triển con người coi sản phẩm quốc
gia như là chỉ tiêu đầu tiên của trình độ phát triển.
Mục tiêu của sự phát triển không phải là tạo thêm nhiều “vật phẩm”, hàng
hoá và dịch vụ mà là làm tăng năng lực của con người để sống một cuộc sống đầy

tốc độ gia tăng tỷ trọng của các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ có năng suất cao
trong nền kinh tế lớn và tiến trình cải thiện mức sống của mọi người trong xã hội
diễn ra nhanh chóng, đều khắp. Hàm nghĩa của “nhanh” là tốc độ đạt được những
tiến bộ nhanh. Nói cách khác, để đạt được những tiến bộ nhất
định về kinh tế, nền
kinh tế chỉ phải tốn một khoảng thời gian ít hơn. Đây là góc độ được phản ánh
trong các chiến lược “tăng tốc”, “đuổi kịp” (cacht-up) của các nước đi sau so với
các nước đi trước xét về trình độ phát triển kinh tế.
Phát triển kinh tế bền vững (hay tính bền vững của phát triển kinh tế) là khái
niệm nằm trong một khái ni
ệm rộng hơn: phát triển bền vững. Nói một cách tóm
tắt thì nhận thức về bản thân khái niệm phát triển bền vững cũng đã trải qua một
thời kỳ dài từ giản đơn đến ngày càng hoàn thiện. Ngày nay, người ta cho rằng,
phát triển bền vững là khái niệm bao quát sự phát triển bền vững về mặt kinh tế,
phát triển bền vững về mặt môi trường và phát triển bề
n vững về mặt xã hội. Đôi
khi, trong một số trường hợp, người ta còn thêm phát triển bền vững về mặt thể
chế. Các nội dung trên được xem là những bộ phận hợp thành hữu cơ (hay những
trụ cột) của phát triển bền vững. Với cách hiểu như vậy, sự phát triển kinh tế bền
vững (hay tính bền vững của phát triển kinh tế) liên quan
đến (hay chịu sự chi
phối) của hai mặt:
- Một là, tính bền vững của bản thân (bên trong) quá trình phát triển kinh tế;
- Hai là, tính bền vững của các yếu tố bên ngoài quá trình phát triển kinh tế,
nhưng có liên hệ và thường xuyên tác động ảnh hưởng tới quá trình phát triển
kinh tế. Đó là các hợp phần ngoài kinh tế của phát triển bền vững, bao gồm môi
trường, xã hội và thể chế.
Hàm nghĩa của “bền vững” là duy trì trạng thái phát tri
ển liên tục trong một
thời gian dài. Thực tế cho thấy rằng, có những nền kinh tế đã có được sự khởi đầu

Trong phương pháp tính toán về sự tăng trưởng (growth accounting) phần còn lại
này được gọi là năng suất tổng hợp của tất cả các yếu tố sản xuất (Total Factor
Productivity – TFP)”. (Trần Văn Thọ: Công nghiệp hoá Việt Nam trong thời đại
châu Á - Thái Bình Dương. NXB Thành phố Hồ chí Minh – Thời báo Kinh tế Sài
Gòn – VAPEC, 1997; tr. 60-61).
Tổng hợp những điều trình bày ở trên, có thể nói gọn lại là: phát triển kinh tế
nhanh và bền vững là phát triển kinh tế nhanh, liên tục trong một thời gian dài.
Vấn đề
ở đây là: phát triển kinh tế với tốc độ nào thì được coi là đủ nhanh và liên
tục trong một thời gian bao lâu thì được coi là đủ dài để đảm bảo tính bền vững?
Trở lại khái niệm phát triển kinh tế đã nêu trên, ta thấy ở quy mô toàn bộ
nền kinh tế quốc dân, phát triển kinh tế biểu hiện ở sự gia tăng quy mô kinh tế
(tăng trưởng kinh tế), sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo h
ướng tiến bộ và sự
bình đẳng về cơ hội tham gia cũng như hưởng thụ thành quả phát triển của mọi
người.
a) Đối với tăng trưởng kinh tế:
Thông thường, người ta so sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm giữa
các quốc gia dựa trên cơ sở các số liệu thống kê sẵn có. Theo cách này, từ nhiều
thập niên qua, người ta nhận thấy trong thế giới mà chúng ta đ
ang sống, có một
dải tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm khá rộng, từ mức tăng trưởng âm – có
thể tới – 10% vào một năm nào đó, tới mức tăng trưởng dương – có thể tới 15%
vào một năm nào đó, cá biệt có thể tới trên 20%. Tuy nhiên, dải tốc độ tăng
trưởng hàng năm thường được quan sát thấy chủ yếu ở mức -1% đến + 10%. Vậy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status