BỘ CÔNG THƯƠNG
DỰ ÁN HỖ TRỢ THƯƠNG MẠI ĐA BIÊN
EU – VIỆT NAM
HOẠT ĐỘNG CB - 2A “HỖ TRỢ BỘ CÔNG THƯƠNG
XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN XUẤT
NHẬP KHẨU THỜI KỲ 2011 - 2020”.
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
CÁC KHÂU ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ CỦA
VIỆT NAM THỜI KỲ 2011 - 2020
CN. Vũ Huy Hùng
Viện Nghiên cứu thương mại - Bộ Công Th
ương
nghiên cứu này được thực hiện nhằm góp phần thực hiện mục tiêu quan
trọng đó.
Nội dung chuyên đề được trình bày thành 3 phần :
I. Những hạn chế, yếu kém nhất trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng
hoá của nước ta hiện nay.
II. Các khâu đột phá chiến lược để phát triển xuất nhập khẩu của Việt
Nam thời kỳ tới 2020.
2
III. Một số giải pháp thực hiện các khâu đột phá chiến lược.
Dưới đây là nội dung chuyên đề. 3
đó sản phẩm dịch vụ có giá trị gia tăng cao (tài chính – ngân hàng, bảo hiểm,
bưu chính viễn thông ) chỉ chiếm 5 – 6%.
- Chất lượng tăng trưởng xuất khẩu rất thấp. Giá trị tăng của hàng công
nghiệp chế tạo xuất khẩu chỉ đạt khoảng 25 – 30%, hàng nông sản và khoáng
sản xuất khẩu khoảng 50% (nếu tính giá trị gia tăng quốc gia, tức là phần giá trị
tăng thêm người Việt Nam thực tế được hưởng thì tỷ lệ này còn thấp hơn, do
các doanh nghiệp FDI chiếm trên 50% kim ngạch xuất khẩu, và một phần
không nhỏ giá trị gia tăng này được nhà đầu tư nước ngoài chuyển về nước).
Ta chưa thực hiện thành công một số khâu đột phá tăng trưởng xuất
khẩu. Hàng điện tử và tin học chưa thực hiện được vai trò hạt nhân tăng trưởng
của nhóm sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, năm 2009 chỉ đạt kim ngạch
2,76 tỷ USD, năm 2010 ước đạt khoảng 3,2 tỷ USD, chiếm 3,9% kim ngạch
xuất khẩu. Hàng thực phẩm chế biên cũng chỉ đạt khoảng 300 triệu USD trong
năm 2010, chiếm 0,42% kim ngạch xuất khẩu.
- Trong nhóm hàng chế biến, chế tạo xuất khẩu, tỷ trọng của hàng gia
công còn chiếm phần lớn, tỷ lệ nội địa hoá rất thấp. Một số ngành sản phẩm
xuất khẩu chủ lực còn phụ thuộc phần lớn vào nguyên vật liệu , phụ liệu của
nước ngoài: Sản phẩm điện tử khoảng 90%, sản phẩm gỗ khoảng 75%, sản
phẩm dệt may và da giày khoảng 70%, sản phẩm nhựa khoảng 55%, sản phẩm
hoá chất khoảng 805, sản phẩm thép khoảng 50%. Giá trị ngoại tệ thực thu của
phần lớn các ngành sản phẩm công nghiệp chế biến xuất khẩu chỉ khoảng 20 –
30% doanh thu xuất khẩu; một số ngành rất thấp như điện tử, tin học chỉ
khoảng 5%.
- Cơ cấu nhập khẩu còn một số hạn chế, bất hợp lý, chưa chú trọng
đáp ứng yêu cầu tăng cường phần cốt lõi của công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Tỷ trọng của nhóm máy móc, thiết bị, phương tiện và công nghệ - yếu tố
hàng đầu để tăng năng lực sản xuất và hình thành sức cạnh tranh của sản
phẩm - lại có xu hướng giảm liên tục từ 25,1% trong tổng kim ngạch nhập
khẩu của năm 2003 xuống 14,7% trong năm 2006 và dao động ở mức 17 –
6
thương mại trong nước thời kỳ 2001 – 2009 không có xu hướng tăng mà chỉ
dao động ở mức 24 – 29%. Tỷ lệ khai thác năng lượng so với thu nhập quốc
dân vẫn đang có xu hướng tăng nhanh từ 9 – 12% trong giai đoạn 2000 –
2004 lên 15 – 22% trong giai đoạn 2005 – 2009. Mức tiết kiệm năng lượng
của công nghiệp Việt Nam thấp hơn mức tiết kiệm điện trung bình của thế
giới, của khu vực (thời kỳ 1990 – 2005, mức tiết kiệm điện bình quân của
Việt Nam là – 3,4% của Trung Quốc là + 3,3%).
- Nhóm hàng công nghiệp chế biến tuy đang có lợi thế cạnh tranh về
giá nhân công rẻ, phát triển theo định hướng xuất khẩu, chiếm tới 43 – 45%
tổng giá trị sản phẩm công nghiệp nhưng chỉ chiếm dưới 30% tổng MVA
toàn ngành công nghiệp và đã có xu hướng giảm từ 30% trong năm 2000,
xuống 21% trong các năm 2009 và 2010, hoạt động gia công lắp ráp là chủ
yếu, phụ thuộc nặng nề vào nguyên liệu nước ngoài và thích ứng chậm với
những biến động của thị trường thế giới. Nhóm hàng thô và sơ chế còn
chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu xuất khẩu (30 – 35%), độ co giãn về cung
với thị trường thế giới rất nhỏ, sản xuất trong nước chậm thích ứng với
những biến động của thị trường thế giới.
- Khu vực FDI là nhóm chủ thể chính đóng góp cho tăng trưởng xuất
khẩu, nhất là nhóm hàng chế biến xuất khẩu. Nhưng tỷ trọng vốn FDI đăng
ký vào công nghiệp chế biến trong tổng FDI đăng ký vào Việt Nam đã có
xu hướng giảm liên tục từ 70,4% trong năm 2005 xuống 68,9% trong năm
2006, 51,0% trong năm 2007, 36% trong năm 2008 và còn 30% trong năm
2009, đã làm giảm nguồn hàng chế biến xuất khẩu trong các năm cuối của
thời kỳ chiến lược 2001 – 2010. Ngay trước và sau khi gia nhập WTO, các
nhà đầu tư nước ngoài đã điều chỉnh cơ cấu đầu tư từ các ngành công
nghiệp chế biến định hướng xuất khẩu, sử dụng nhiều lao động, có tăng
trưởng sản lượng lớn nhưng tỷ suất lợi nhuận thấp và gặp khó khăn về thị
trường tiêu thụ sang các ngành công nghiệp khai thác và lĩnh vực bất động
phản ánh xu hướng và nguy cơ nước ta đang bị bòn rút tài nguyên ngày
8
càng nhiều, lợi ích quốc gia từ tăng trưởng dựa vào đầu tư FDI ngày càng
bị xâm hại. Khi vốn FDI tập trung vào các ngành có mức bảo hộ còn cao sẽ
dẫn đế chuyển hoá thành lợi nhuận lớn và một phần lợi nhuận này sẽ được
các nhà đầu tư nước ngoài chuyển về nước, còn nước ta sẽ bị cạn kiệt tài
nguyên.
- Công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển và chưa có nhiều tập đoàn đa
quốc gia thiết lập cơ sở sản xuất cho khu vực châu Á – Thái Bình Dương ở
Việt Nam. Đây là điểm khác biệt giữa Việt Nam với các nước ASEAN 6,
các nước này đã thu hút được nhiều tập đoàn đa quốc gia đặt cơ sở sản xuất
cho khu vực tại nước họ nên kim ngạch xuất khẩu linh kiện điện tử, máy
móc thiết bị điện và cơ khí chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng kim ngạch
xuất khẩu của các nước này sang Trung Quốc (được mệnh danh là công
xưởng thế giới). Trong giai đoạn 2001 – 2007, tỷ trọng kim ngạch xuất
khẩu của nhóm sản phẩm sản phẩm này của Việt Nam chỉ đạt 8,7% tổng
kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc, chỉ số tương ứng của Philipin là
88,7%, của Malayxia là 70%, của Thái Lan là 52,5%. Đây cũng là mọt
trong những nguyên nhân khách quan của việc nước ta chưa thể cân bằng
được cán cân thương mại với Trung Quốc, điều mà các nước ASEAN đã
làm được.
- Trong cấu trúc nhập khẩu giai đoạn 2000 – 2005, chúng ta đã có
bước thụt lùi về công nghệ: giảm nhập khẩu công nghệ Trung – Cao (-
6,5%) để tăng nhập khẩu công nghệ trung - thấp (+ 7,4%) đã tác động làm
giảm sức cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu trong giai đoạn 2006 – 2010
và các năm tiếp theo.
- Do mong muốn đạt mức tăng trưởng GDP cao trong khi hiệu quả
đầu tư thấp đã tạo ra vòng xoáy đầu tư tăng cao làm tăng nhu cầu nhập
khẩu, nhưng hiệu quả đầu tư thấp nên giảm nguồn hàng xuất khẩu, mất cân
10
- Từ cuối năm 2006 và đặc biệt là năm 2007, lượng vốn đầu tư tăng
cao, đặc biệt là FDI và FII chảy vào Việt Nam tăng đột biến, làm cho đồng
Việt Nam tăng giá so với các ngoại tệ khác. Trong bối cảnh nhập siêu lớn,
kim ngạch nhập khẩu gần bằng 90% GDP, giá nhập khẩu tăng kép dovừa
tăng giá tính bằng USD vừa tăng giá do tỷ giá giữa VNĐ với các ngoại tệ
của 19 nước buôn bán lớn với Việt Nam đã tăng khoảng 12%, tỷ giá
USD/VNĐ tăng lên, gây ra hiện tượng “nhập khẩu lạm phát”, khuyến khích
nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu, tăng nhập siêu trong các năm 2007 – 2008.
- Hiệu quả xuất khẩu thấp còn do phương thức xuất khẩu lạc hậu.
Mặc dù hàng Việt Nam đã được xuất khẩu sang trên 220 thị trường khắp
các châu lục trên toàn cầu, nhưng trên 80% lượng hàng hoá vẫn xuất FOB
và nhập CIF. Chỉ mới có một tỷ lệ nhỏ hàng xuất khẩu được tiêu thụ qua
mạng lưới phân phối trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam ở thị trường
nhập khẩu. Mức độ tham gia hệ thống phân phối toàn cầu của hàng hoá và
doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế.
- Một số ngành hàng nông, lầm, thủy sản và công nghiệp chế biến
xuất khẩu tuy đã có sự tham gia vào các mạng sản xuất, các chuỗi giá trị
toàn cầu, nhưng mô hình tổng quát vẫn là qui mô lớn, nấc thang giá trị thấp
và hiệu quả thấp. Phần lớn các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam khi
tham gia sản xuất xuất khẩu mới tham gia được vào các phân khúc sản xuất
gia công lắp ráp là các khâu mang lại giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi
giá trị. Có rất ít doanh nghiệp tham gia được vào khâu thiết kế, nghiên cứu
và phát triển, phân phối ở thị trường ngoài là những khâu mang lại giá trị
gia tăng cao.
2. Kết cấu hạ tầng phục vụ xuất, nhập khẩu yếu kém, dịch vụ
logistics chậm phát triển là những cản trở chính đối với phát triển
xuất nhập khẩu.
11
Việt Nam sẽ đạt mức 4.500 tấn cầu tầu vào năm2020. Do xu hướng
container hoá đang phát triển nhanh, đặc biệt là khu vực châu Á – Thái
Bình Dương, nhưng số lượng cảng container của ta rất ít (mới có 4 cảng)
nên hạn chế lớn lượng hàng container qua cảng Việt Nam (đến năm 2004,
tổng lượng hàng container qua cảng Việt Nam chỉ đạt 2,04 triệu TEU, so
với lượng hàng container qua cảng Manila của Philipin năm 2001 là 2,3
triệu TEU, cảng Laen Chabang của Thái Lan năm 2001 là 2,4 triệu TEU,
cảng Klang của Malayxia năm 2000 là 3,2 triệu TEU). Cảng phí của Việt
Nam cao hơn khoảng 30% so với Thái Lan, phí cầu bến đối với phương tiện
tàu cũng cao hơn 30 – 80%. Tải trọng trung bình của đội tàu vận tải biển
Việt Nam bằng 30% mức trung bình của khu vực. Tuổi thọ trung bình đội
tàu biển Việt Nam cao hơn 1,2 lần mức trung bình của các nước đang phát
triển. Mức độ container hoá tải trọng đội tàu đạt 6,2%, bằng 16,2% của
Malayxia.
- Việt Nam có lợi thế ở vị trí trung chuyển với các nước khu vực châu
Á – Thái Bình Dương để phát triển dịch vụ vận tải hàng không. Tuy nhiên,
trong số 22 sân bay chỉ có sân bay Nội Bài có công suất 6 triệu khách/năm,
Tân Sơn Nhất có công suất 8 triệu khách/năm, và sân bay Đà Nẵng có công
suất 4 triệu khách/năm. Các sân bay khác hầu hết đang xuống cấp nghiêm
trọng, công suất nhỏ, qui mô bé, tiêu chuẩn kỹ thuật thấp, kích thước đường
bay hẹp (40% số sân bay cơ sở đường băng dài dưới 2000 m và rộng chỉ 30
m) không đáp ứng được cho cất cánh và hạ cánh máy bay cỡ lớn, mặt
đường băng rất xấu, nhiều sân bay có nhà ga nhỏ dưới 1000 m
2
, các trang
thiết bị điều khiển lạc hậu, thiếu đồng bộ. Qui mô đội bay Việt Nam chỉ
bằng 80% mức bình quân của các hãng hàng không khu vực châu Á – Thái
Bình Dương. Cơ sở hạ tầng cảng biển và sân bay yếu kém làm hạn chế sự
phát triển của các ngành dịch vụ này.
14
nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam nói riêng, nâng cao
năng lực cạnh tranh và phát triển lợi thế cạnh tranh trong khâu marketing và bán
hàng của mình.
+ Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật:
Theo khảo sát của phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các
doanh nghiệp nhỏ và vừa đều cho rằng hạ tầng kỹ thuật của Việt Nam đã phát
triển mạnh trong những năm gần đây. Hệ thống giao thông được mở rộng và
nâng cấp, hệ thống cung cấp điện được mở rộng.
Các dịch vụ phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
cũng được cải thiện rõ rệt và được cộng đồng quốc tế công nhận là nước có vị trí
cao trong bảng xếp hạng các nước về năng lực của ngành logistics.
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới Việt Nam là một trong số 10 quốc
gia (cùng với Trung Quốc, Banladesh, Congo, Ấn Độ, Philippin, Madagascar,
Nam Phi, Thái Lan, Uganda) có chỉ số logistics ấn tượng nhất tỏng năm vừa qua.
Đây cũng là lần thứ 2 liên tiếp Việt Nam giữ vị trí 53 (trên tổng số 155 quốc gia
được đánh giá), thậm chí năng lực logistics (Logistics performance index - LPI)
của nước ta còn cao hơn cả một số quốc gia có mức thu nhập trung bình (như
Indonêsia, Tunisia, Honduras ). Năm 2009 so với năm 2007, chỉ số năng lực
thông tin tăng từ 2,89 lên 2,68 điểm, cơ sở hạ tầng tăng từ 2,50 lên 2,58 điểm,
vận tải biển quốc tế tăng từ 3,0 lên 3,04 điểm, năng lực logistics tăng từ 2,80 lên
2,89 điểm, khả năng truy suất tăng từ 2,90 lên 3,10 điểm, thời gian thông quan
và dịch vụ tổng hợp tăng từ 2,89 lên 2,96 điểm.
Nhìn chung, qua hai năm, Việt Nam đều ở mức trên trung bình
(>2.5/5) ở tất cả các tiêu chí và có xu hướng cải thiện ngày càng tốt hơn,
ngoại trừ tiêu chí về năng lực thông quan có giảm chút xíu.
Việt Nam đang có rất nhiểu chuyển biến tích cực và diễn biến tỏng
phát triển cơ sở hạ tầng. Hệ thống cảng biển đang được điều chỉnh lại,
mang tính chiến lược và đáp ứng kịp nhu cầu phát triển của đất nước. Đến
16
Tuy dã đạt được những thành tựu đáng khen ngời như trên, nhưng cơ
sở hạ tầng kỹ thuật hiện tại của Việt Nam vẫn còn những tồn tại. Những tồn
tại này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển năng lực cạnh tranh trong
khâu marketing và bán hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Một số tồn tại
có thể kể đến đó là: Hệ thống giao thông đường bộ chưa đồng bộ, hiện
tượng thiếu điện liên tục xảy ra thường xuyên (nhất là vào mùa khô)
3. Thể chế xuất nhập khẩu chưa được xây dựng đồng bộ và chưa
hoàn thiện, thể chế quản lý hoạt động nhập khẩu còn vừa thiếu vừa
chồng chéo, hiệu lực thấp.
- Hệ thống luật pháp về xuất nhập khẩu và lĩnh vực hoạt động trực
tiếp liên quan vừa thiếu vừa chưa đồng bộ. Đến nay, có Luật phân phối và
Luật xuất nhập khẩu điều tiết và qui hoạch phát triển thương nhân. Luật
Thương mại 200 chưa qui định cụ thể các nội dung về quản lý Nhà nước
đối với hệ thống phân phối hiện đại.
- Pháp luật về chống bán phá giá, về tự vệ và chống trợ cấp chậm
được hoàn thiện cụ thể để có hiệu lực thực thi.
- Các hàng rào kỹ thuật trong thương mại chậm được xây dựng.
- Bộ máy quản lý hàng hoá trong lưu thông vừa chồng chéo, phân
tán, thiếu một đầu mối phối hợp và chịu trách nhiệm.
- Quản lý nhập khẩu thiết bị và công nghệ vừa thiếu chế tài vừa chưa
hiệu quả nên một tỷ trọng lớn công nghệ thấp, gây ô nhiễm môi trường, tiêu
hao nhiều năng lượng đã được nhập khẩu, gây hậu quả lâu dài cho nền kinh
tế và môi trường sinh thái.
II CÁC ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN XUẤT NHẬP
KHẨU THỜI KỲ 2011 - 2020
17
(1) Nâng cao chất lượng và hiệu quả xuất khẩu
- Giảm tỷ lệ ngoại tệ chi trả nước ngoài phí vận tải và bảo hiểm hàng
hoá xuất nhập khẩu trong tổng giá trị nhập khẩu dịch vụ xuống dưới 25%,
giảm khoảng 12 điểm phần trăm so với năm 2010.
- Nâng năng suất xếp dỡ hàng hoá qua hệ thống cảng biển Việt Nam
lên bằng mức bình quân của khu vực (năm 2007 bằng 45%, năm 2010 bằng
khoảng 50%).
- Mức độ container hoá tải trọng đội tàu vận tải biển Việt Nam đạt
trên 30%, tăng khoảng 20% so với năm 2010 (năm 2006, tỷ lệ này là 6,2%
so với của Malayxia là 38,4%).
(3) Hoàn thiện thể chế xuất nhập khẩu để phát triển bền vững,
tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính trong
lĩnh vực xuất nhập khẩu
- Tập trung xây dựng đồng bộ và hoàn thiện hệ thống luật pháp để tạo
lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, điều tiết quyền của thương nhân, phát
triển hệ thống phân phối hàng hoá. Trước mắt, sửa đổi bổ sung Luật
Thương mại 2005 phần nội dung có liên quan đến hệ thống phân phối, xây
dựng và ban hành Luật xuất nhập khẩu, Luật phân phối. Tiếp tục cải cách
hành chính để giảm chi phí xuất khẩu.
- Hoàn thiện khung pháp lý và các chế tài nhằm hạn chế ở mức cao
xuất khẩu tài nguyên khoáng sản thô, hạn chế khai thác tài nguyên trong
tăng trưởng xuất khẩu, bvmtr, đảm bảo phát triển xuất khẩu bền vững. Phấn
đấu đến năm 2020, tất cả các hàng hoá xuất khẩu và hàng nhập khẩu vào
Việt Nam đều phải có nhãn sinh thái.
19
- Hoàn thiện khung pháp lý và các chế tài nhằm kiểm soát chặt chẽ
nhập khẩu máy móc thiết bị và công nghệ. Ngăn chặn quyết liệt việc nhập
khẩu thiết bị và công nghệ thấp, công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm môi
trường, tiêu hao nhiều năng lượng và nguyên nhiên liệ cho một đơn vị sản
phẩm gán liền với khuyến khích nhập khẩu công nghệ cao, thân thiện với
trong thời kỳ 2011 – 2020 (chỉ số này của thời kỳ 1996 – 2008 là
15,5%/năm, thấp hơn nhịp độ tăng trưởng tổng KNNK là 18,0%/năm).
Nâng nhanh tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu nhóm máy móc thiết bị và công
nghệ trong tổng kim ngạch nhập khẩu từ mức 16,9% năm 2008 lên 34 -35%
vào năm 2015 và 38 – 40% vào năm 2020. Tổng kim ngạch nhập khẩu máy
móc thiết bị và công nghệ thời kỳ 2011 – 2020 bằng khoảng 20% GDP của
cả thời kỳ (chỉ số này của thời kỳ 1996 – 2008 là 14,41%, trong đó của giai
đoạn 1996 – 2000 là 12,75% và giai đoạn 2001 – 2008 là 15%).
- Chuyển dịch mạnh mẽ cấu trúc xuất nhập khẩu công nghệ (hàm lượng
kỹ thuật trong sản phẩm xuất khẩu hay chính là công nghệ đã được luân chuyển
xuất ra sản phẩm và trình độ công nghệ của máy móc thiết bị và công nghệ nhập
khẩu) theo hướng nâng nhanh tốc độ tăng trưởng kim ngạch và tỷ trọng của công
nghệ cao trong cấu trúc xuất, nhập khẩu.
Trong nhập khẩu công nghệ, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kim
ngạch nhập công nghệ cao ở mức bình quân trên 4%/năm trong giai đoạn
2011 – 2015 (chỉ số này của giai đoạn 2000 -2005 là 0,56%/năm) và trên
6%/năm trong giai đoạn 2016 – 2020 (xấp xỉ với chỉ số này của Trung
Quốc trong giai đoạn 2000 – 2005 là 6,9%/năm). Đến năm 2015, tỷ trọng
của công nghệ cao trong tổng kim ngạch nhập khẩu công nghệ đạt trên 25%
(chỉ số này của năm 2015 là 15%, năm 2000 là 14,3%) và đến năm 2020 đạt
trên 325 (chỉ số này của Trung Quốc năm 2000 là 31,3% và năm 2005 là
37,6%).
Trong xuất khẩu, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất
khẩu hàng công nghệ cao ở mức bình quân 13 – 14%/năm trong giai đoạn
21
2011 – 2015 (chỉ số này của giai đoạn 2001 – 2005 là 1,8%/năm) và 15 –
16%/năm trong giai đoạn 2016 – 2020 (chỉ số này của Trung Quốc trong
giai đoạn 2000 – 2005 là 12,35/năm). Đến năm 2015, tỷ trọng của hàng
công nghệ cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu đạt trên 15 – 17% (chỉ số
- thu hẹp dần khoảng cách giữa mức tăng tổng sản lượng và mức tang
giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp để nâng tỷ trọng đóng góp của
ngành vào GDP của toàn nền kinh tế. Phấn đấu để chỉ số MVA/GO theo giá
so sánh có xu hướng tăng liên tục từ mức 24,8% năm 2008 lên 40% vào
năm 2015 (vượt chỉ số này của năm 2000 là 38,45%) và lên trên 505 vào
năm 2020.
- Nỗ lực cao độ để vượt qua suy thoái, phục hồi nhanh tốc độ tăng
trưởng giá trị tăng thêm trong sản xuất công nghiệp từ 6,3% năm 2008,
khoảng 4% trong năm 2009 lên trên 10% vào năm 2012 để đạt tốc độ tăng
trưởng bình quân của giai đoạn 2011 – 2015 ở mức 10 – 11%/năm (bằng
tốc độ tăng trưởng bình quân của giai đoạn 2001 – 2007 là 10,2%/năm).
Trên cơ sở đó, tạo đà và phấn đấu trong giai đoạn 2016 – 2020 đạt ổn định
tăng trưởng bình quân trên 12%/năm để tăng vị thế và rút ngắn khoảng cách
về qui mô ngành công nghiệp giữa Việt Nam với các nước trong khu vực.
Mục tiêu phấn đấu kỳ vọng là tỷ trọng của Việt Nam trong tổng giá trị gia
tăng sản xuất công nghiệp của khu vực các nước đang phát triển ở châu Á –
Thái Bình Dương sẽ đạt 1,5% vào năm 2015 và 25 vào năm 2020 (chỉ số
này năm 2005 của Việt Nam là 0,7%, Philipin là 1,3%, Malayxia là 3,15,
Thái Lan là 5,5%). Trên cơ sở đó, nâng chỉ số MVA đầu người của Việt
Nam lên bằng mức trung bình của khu vực (năm 2005 chỉ số này của Việt
Nam đạt 113 USD, chỉ bằng 24,5% mức trung bình của khu vực Đông Nam
Á và châu Đại Dương, bằng 24,8% mức trung bình của các nước đang phát
triển và bằng 23,6% của Trung Quốc).
- Chuyển dịch mạnh cơ cấu giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp.
Phấn đấu đến năm 2020, các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp mũi
nhọn được ưu tiên đều tự áp dụng công nghệ cao (năng lượng, luyện kim,
23
hoá chất, cơ khí, điện tử - tin học, chế biến thành phẩm) phải đảm bảo tạo
ra giá trị tăng thêm chiếm 42 – 45% tổng giá trị gia tăng thêm toàn ngành
hoá xuất khẩu, nhóm hàng chế biến chế tạo chiếm trên 80% và đến năm
2020 chiếm trên 95% tổng kim ngạch xuất khẩu (chỉ số này của Trung
Quốc anưm 2000 là 92%, của Hàn Quốc năm 1986 là 96,4%). Chuyển dịch
cơ cấu nội bộ nhóm hàng chế biến chế tạo xuất khẩu theo hướng hiện đại,
trong đó, đến năm 2020 nhóm hàng có hàm lượng công nghệ cao chiếm trên
25%, nhóm hàng có hàm lượng công nghệ trung – cao chiếm trên 30%,
nhóm hàng có hàm lượng công nghệ trung - thấp chiếm 20% và nhóm hàng
có hàm lượng công nghệ thấp chiếm 25%.
- Hiện đại hóa kết cấu hạ tầng thương mại và phương thức kinh doanh
thương mại. Phấn đấu đến năm 2020, trên đảm bảo cả nước, tất cả các xã
đều có 1 – 2 chợ loại II, các thị trấn có ít nhất1 siêu thị, các thị xã và các
thành phố trực thuộc tỉnh có ít nhất 1 trung tâm thương mại, các thành phố
trực thuộc trung ương có các trung tâm mua sắm lớn, các vùng sản xuất
hàng hoá tập trung qui mô lớn phải có các chợ đầu mối. Khi đó, tỷ trọng
mức bán lẻ hàng hoá qua hệ thống phân phối hiện đại chiếm trên 40%, qua
hệ thống chợ chiếm khoảng 30%, còn lại là các hình thức thương mại khác
đảm nhiệm. Thương mại điện tử ngày càng trở thành phương thức hoạt
động chính yếu; các hình thức kinh doanh mới, hiện đại như sàn giao dịch,
trung tâm đấu giá, nhượng quyền thương mại, siêu thị ảo được tổ chức
phát triển phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của thị trường trên
từng đảm bảo. Phấn đấu đến năm 2020, xây dựng và phát triển được hệ
thống logistics tương đối hiện đại, nhất là khu vực ven biển và dọc các
hành lang kinh tế dịch vụ vận tải và dịch vụ bảo hiểm hàng hoá phát triển
đến mức chiếm khoảng 60 – 705 thị phần hàng hoá xuất, nhập của Việt
Nam. Phát triển thị trường trong nước và dịch vụ logistics là phương cách
cơ bản để giảm rủi ro cho nền kinh tế thị trường xuất khẩu gặp khó khăn
hoặc có chấn động đột ngột.
- Giữ vững sự tự chủ trong hoạch định các chiến lược và qui hoạch
phát triển của ngành công thương. Bất kỳ tình huống nào cũng không để
cho các tập đoàn kinh tế, các nhà đầu tư nước ngoài thao túng hoặc gây ảnh