Luận văn " Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang các nước ASEAN trong khuôn khổ AFTA " - Pdf 12

§Èy m¹nh xuÊt khÈu hµng ho¸ cña ViÖt Nam sang c¸c níc trong AFTA
NguyÔn Anh Tó Líp A7 K38B
1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đẩy mạnh xuất khẩu hàng
hoá của Việt Nam sang các
nước ASEAN trong khuôn
khổ AFTA
§Èy m¹nh xuÊt khÈu hµng ho¸ cña ViÖt Nam sang c¸c níc trong AFTA
NguyÔn Anh Tó Líp A7 K38B
2

MỤC LỤC
Mở đầu 1
Chương I: Một số vấn đề cơ bản về xuất khẩu và sự hình thành khu vực mậu
dịch tự do ASEAN -AFTA 9
I. Cơ sở lý luận về đẩy mạnh xuất khẩu trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế 9
1. Vai trò của xuất khẩu hàng hoá 9
1.1. Xuất khẩu giúp các quốc gia tận dụng lợi thế so sánh. 9

3.1 Đi lên từ nông nghiệp 30
3.2 Đi từ sử dụng nhiều lao động đến sử dụng nhiều tư bản và
kỹ thuật cao 31
3.3 Từ chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu đến
hướng vào xuất khẩu 31
3.4. Vốn và công nghệ của nước ngoài là một trong những yếu tố
then chốt để chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu.32
4. Tác động của việc thực hiện AFTA tới các nước ASEAN 32
Chương II: Thực trạng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào các nước
ASEAN trước và sau khi tham gia AFTA 37
I. Quá trình hội nhập của Việt Nam vào AFTA. 37
1. Hội nhập của Việt Nam vào AFTA 37
2. Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam khi gia nhập AFTA. 38
2.1. Cơ hội 39
2.2. Thách thức 40
II. Thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng hoá Việt Nam vào các nước
ASEAN trước khi Việt Nam gia nhập AFTA. 44
III. Thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng hoá Việt Nam vào các nước
ASEAN sau khi Việt Nam gia nhập AFTA. 46
1. Kim ngạch và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 46
2. Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu 48
2.1 Dầu thô 50
2.2. Gạo 52
2.3. Linh kiện điện tử và ti vi, linh kiện máy tính và máy tính. 55
2.4. Hàng dệt may 56
2.5. Cà phê 58
§Èy m¹nh xuÊt khÈu hµng ho¸ cña ViÖt Nam sang c¸c níc trong AFTA
NguyÔn Anh Tó Líp A7 K38B
4


§Èy m¹nh xuÊt khÈu hµng ho¸ cña ViÖt Nam sang c¸c níc trong AFTA
NguyÔn Anh Tó Líp A7 K38B
5

1.5. Đảm bảo quyền bình đẳng của các chủ thể tham gia hoạt động
xuất nhập khẩu 102
1.6. Các vấn đề về thông tin thị trường và xúc tiến thương mại. 103
1.7. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xoá bỏ các rào cản bất hợp lý
đang cản trở hoạt động xuất khẩu. 105
2. Về phía doanh nghiệp . 107
2.1 Xây dựng chiến lược dài hạn hướng ra thị trường ngoài nước.
109
2.2 Xây dựng lợi thế cạnh tranh tổng hợp trên thị trường quốc tế.
110
2.3. Đổi mới,hiện đại hoá công nghệ sản xuất hàng xuất khẩu với
chi phí thấp. 111
2.4. Tạo ra thương hiệu mạnh mang tầm vóc quốc tế 112
2.5. Liên kết các doanh nghiệp trong nước để tạo ra sức mạnh
cạnh tranh quốc tế 114
Kết luận 115
Tài liệu tham khảo.

§Èy m¹nh xuÊt khÈu hµng ho¸ cña ViÖt Nam sang c¸c níc trong AFTA
NguyÔn Anh Tó Líp A7 K38B
6

MỞ ĐẦU
Vào thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, dưới tác động của cách mạng
khoa học và công nghệ, mà chủ yếu là cách mạng thông tin, các quan hệ kinh
tế thương mại quốc tế đã phát triển hết sức mạnh mẽ. Tự do hoá thương mại

là một trong những khu vực thương mại tự do có triển vọng nhất. Nhằm thực
hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội theo định hướng "xây dựng nền kinh
tế mở, hướng về xuất khẩu, hội nhập với khu vực và toàn cầu", Việt Nam đã
tham gia AFTA và bắt đầu thực hiện chương trình cắt giảm thuế quan theo
Hiệp định ưu đãi có hiệu lực chung CEPT . Là một quốc gia kém phát triển
hơn, Việt Nam không tránh khỏi những thua thiệt trong quan hệ buôn bán với
các nước ASEAN trong khuôn khổ AFTA. Do đó, đẩy mạnh xuất khẩu sang
các nước ASEAN là vấn đề khó khăn cần phải giải quyết nhằm giảm bớt
chênh lệch trong cán cân thương mại, đảm bảo thực hiện mục tiêu phát triển
kinh tế trong ngắn hạn cũng như dài hạn.
Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua đã góp phần giải
quyết những khó khăn của nền kinh tế, khai thác được nội lực và phát huy
được tiềm năng lợi thế so sánh của đất nước. Tuy nhiên, công tác xuất khẩu
vẫn còn nhiều tồn tại như quy mô kim ngạch xuất khẩu còn nhỏ bé, cơ cấu
mặt hàng xuất khẩu còn ở trình độ lạc hậu, sức cạnh tranh yếu, thị trường xuất
khẩu còn bấp bênh chủ yếu là thị trường gần, còn phụ thuộc vào các thị
trường trung gian; thiếu hợp đồng lớn và dài hạn; chưa tạo dựng được hệ
thống những bạn hàng lớn, gắn bó
Trong thời gian tới, cùng với lộ trình tham gia ngày càng sâu vào
AFTA, sức ép mở cửa thị trường ngày càng lớn đòi hỏi chúng ta phải có
chính sách thương mại quốc tế phù hợp và hữu hiệu để có thể mở rộng thị
trường và gia tăng hoạt động xuất khẩu hàng hoá, đặc biệt là thị trường
ASEAN. Do vậy, việc phân tích và đánh giá hoạt động xuất khẩu hàng hoá
nói chung và một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu nói riêng vào ASEAN để từ
đó đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá vào thị trường
này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao.
§Èy m¹nh xuÊt khÈu hµng ho¸ cña ViÖt Nam sang c¸c níc trong AFTA
NguyÔn Anh Tó Líp A7 K38B
8


Trong xu thế hội nhập để phát triển, thương mại quốc tế là một bộ phận
quan trọng, gắn liền với tiến trình hội nhập và có vai trò quyết định đến lợi thế
của một quốc gia trên thị trường khu vực và thế giới. Vì vậy, thúc đẩy giao
lưu thương mại quốc tế nói chung và đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá dịch vụ
nói riêng là hướng ưu tiên phát triển kinh tế quan trọng hàng đầu của mỗi
quốc gia.
1.1. Xuất khẩu giúp các quốc gia tận dụng lợi thế so sánh.
Các quốc gia khai thác tốt các nguồn lực cho phát triển kinh tế thông
qua việc tập trung vào sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng mình có lợi thế so
sánh. Sức cạnh tranh của hàng hoá được nâng cao, nền kinh tế tăng trưởng
nhanh và ổn định hơn do các nguồn lực được phân bố hiệu quả hơn. Quá trình
này cũng mở ra cơ hội lớn cho tất cả các nước, nhất là các quốc gia đang phát
triển, tiến hành công nghiệp hoá dựa trên thành quả của cuộc cách mạng khoa
học công nghệ.
1.2. Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hoá.
Con đường tất yếu để thoát khỏi tình trạng nghèo và kém phát triển của
nước ta là công nghiệp hoá theo những bước đi thích hợp. Muốn công nghiệp
hoá, phải có số vốn ngoại tệ lớn cho nhập khẩu máy móc, thiết bị kỹ thuật tiên
tiến. Mỗi quốc gia thu được ngoại tệ từ các nguồn: đầu tư nước ngoài, xuất
khẩu hàng hoá, vay nợ, viện trợ. Đầu tư nước ngoài, viện trợ và vay nợ rất
quan trọng nhưng rồi cũng phải hoàn lại về sau dưới hình thức này hay hình
thức khác. Hơn nữa, nguồn vốn này chỉ chảy vào trong nước thuận lợi khi các
nhà đầu tư, người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu- nguồn vốn ngoại tệ
§Èy m¹nh xuÊt khÈu hµng ho¸ cña ViÖt Nam sang c¸c níc trong AFTA
NguyÔn Anh Tó Líp A7 K38B
10
duy nhất để trả nợ. Trên thực tế, trong các nguồn ngoại tệ thu về, xuất khẩu
luôn chiếm phần rất lớn.
Bảng 1: Các nguồn thu ngoại tệ chủ yếu của Việt Nam

15.174,5

1998 258,3

9.340

3.897,4

1.430

14.925,7

1999 265,2

11.540

1.568,0

1.452

14.816,2

2000 -

14.308

2.012,0

1.500


tới thoả mãn nhu cầu rộng lớn trên thị trường này. Tức là, xuất khẩu những gì
thị trường ngoài nước cần. Điều này có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua các tác động sau:
 Tạo ra những nghành sản xuất mới “hướng về xuất khẩu”. Các ngành
này trước đây không có điều kiện phát triển do nhu cầu trong nước không có
hay nhỏ hẹp. Khi mở cửa ra thị trường thế giới rộng lớn, nghành sản xuất các
mặt hàng này phát triển mạnh mẽ. Bên cạnh đó, các nghành sản suất hàng
xuất khẩu sẽ tạo cơ hội cho việc phát triển các nghành khác có liên quan phát
triển thuận lợi. Chẳng hạn khi phát triển ngành da giầy xuất khẩu sẽ tạo cơ hội
cho sự phát triển của ngành chăn nuôi gia súc, thuộc gia cũng như nghành cơ
khí chế tạo máy móc, thiết bị phục vụ nó.
§Èy m¹nh xuÊt khÈu hµng ho¸ cña ViÖt Nam sang c¸c níc trong AFTA
NguyÔn Anh Tó Líp A7 K38B
11
Xuất khẩu mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, nhờ vậy sản xuất
có thể phát triển ổn định, tận dụng được lợi thế theo quy mô.
 Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của ta sẽ tham gia cạnh tranh trên thị
trường thế giới về chất lượng, giá cả, chính sách phân phối, Cuộc cạnh tranh
khốc liệt này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản
xuất luôn thích ứng được với thay đổi của thị trường.
1.4 Xuất khẩu giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống
người dân.
Sản xuất hàng xuất khẩu là khu vực thu hút hàng triệu lao động vào làm
việc với thu nhập khá và ổn định. Xuất khẩu còn tạo nguồn ngoại tệ để nhập
khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng ngày càng phong phú của nhân dân.
1.5 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các mối quan hệ
kinh tế đối ngoại
Xuất khẩu tăng cường địa vị kinh tế chính trị của mỗi quốc gia trên
trường quốc tế. Xuất khẩu và quan hệ kinh tế đối ngoại khác có mối quan hệ

Theo lý thuyết H-O các nước sẽ thu lợi qua buôn bán nếu xuất khẩu
những hàng hoá được sản xuất bằng việc sử dụng ở mức cao yếu tố sản xuất
mà nước đó có tương đối nhiều (và rẻ) và nhập khẩu những hàng hoá mà việc
sản xuất đòi hỏi sử dụng ở mức cao những yếu tố sản xuất mà nước mình có
rất ít. Do đó, trong một nền kinh tế mở, mỗi nước đều hướng đến chuyên môn
hoá các nghành sản xuất cho phép sử dụng nhiều nhất các nguồn lực sản xuất
mà đối với nước đó là thuận lợi nhất (ví dụ như: tài nguyên, lao động, vốn ).
Tuy còn có những khuyết điểm lý luận trước thực tiễn thương mại quốc
tế luôn biến đổi phức tạp, song quy luật này vẫn đang là quy luật chi phối
động thái phát triển của thương mại quốc tế và có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn
quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển. Những nước này đa số là
đông dân, thừa lao động nhưng nghèo vốn, do đó, trong giai đoạn đầu công
nghiệp hoá đất nước vẫn tập trung sản xuất và xuất khẩu những hàng hoá sử
dụng nhiều lao động và nhập khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều vốn. Sự lựa
chọn những hàng hoá xuất khẩu phù hợp với các lợi thế so sánh về các nguồn
lực sản xuất vốn có là điều kiện cần thiết để các nước đang phát triển nhanh
chóng hội nhập vào sự phân công lao động và hợp tác thương mại quốc tế, và
trên cơ sở lợi ích thương mại thu được sẽ đẩy nhanh sự tăng trưởng và phát
triển kinh tế ở những nước này.
2.3. Học thuyết về chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế.
Vào giữa những năm 60 của thế kỷ XX, Raymond Vernon đã đưa ra lý
thuyết chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm để giải thích thương mại quốc tế đối
với các mặt hàng chế biến, lý thuyết này dựa trên sự vận động của một mặt
hàng theo chu kỳ sống của nó (từ giai đoạn sản phẩm mới đến giai đoạn chín
muồi và chuẩn hoá) để xác định mặt hàng đó sẽ được sản xuất ở đâu.
§Èy m¹nh xuÊt khÈu hµng ho¸ cña ViÖt Nam sang c¸c níc trong AFTA
NguyÔn Anh Tó Líp A7 K38B
13
Giai đoạn 1: Giai đoạn sản xuất mới: mức cầu cao của khách hàng ở
một quốc gia công nghiệp sẽ thúc đẩy một công ty thiết kế và đưa ra một sản Xuất khẩu

Nhập khẩu
Giai đoạn 1
Sản phẩm
mới
Giai đoạn 2
Sản phẩm
chín muồi
Giai đoạn 3
Sản phẩm
chuẩn hoá
Giai đoạn 2: giai đoạn sản phẩm chín muồi: Sự tồn tại và những lợi
ích của sản phẩm mới bắt đầu được nhận thức đầy đủ trên cả thị trường trong
và ngoài nước. Mức cầu ngày càng tăng và được duy trì trong thời gian tương
đối dài. Khi lượng xuất khẩu tăng cao và chiếm tỷ trọng khá lớn trong doanh
số bán, công ty phát minh bắt đầu tổ chức sản xuất ở những nước có mức cầu
cao nhất. Đồng thời, các công ty ở các quốc gia phát triển khác cũng sản xuất
mặt hàng tương tự. Gần cuối giai đoạn này, sản phẩm bắt đầu được bán sang
các nước đang phát triển và hoạt động sản xuất có thể bắt đầu tiến hành ở các
Xuất khẩu
Giai đoạn 1
Sản phẩm
mới
Giai đoạn 2
Sản phẩm
chín muồi
Giai đoạn 3
Sản phẩm
chuẩn hoá
Giai đoạn 3: Giai đoạn sản phẩm chuẩn hoá: nhằm tận dụng chi phí
thấp ở các nước đang phát triển, công ty đẩy mạnh việc chuyển dần hoạt động
sản xuất sang các nước này, từ đó, cung ứng cho thị trường toàn thế giới. Khi
phần lớn cơ sở sản xuất được đặt ngoài nước phát minh, nhu cầu về sản phẩm
của nước này được đáp ứng bởi nhập khẩu từ các nước đang phát triển và các
nước phát triển khác.
Các nước đang và kém phát triển

S
ố đ
ơn v
ị sản phẩm

160


Giai đoạn 3
Sản phẩm
chuẩn hoá
Trước thực tiễn biến đổi nhanh chóng và phức tạp của kinh doanh và
thương mại quốc tế, lý thuyết đã không giải thích được một số hiện tượng
hiện nay: Các sản phẩm mới dường như có thể xuất hiện bất kỳ nơi nào khi
các công ty tiếp tục toàn cầu hoá các hoạt động nghiên cứu và phát triển; các
công ty thiết kế sản phẩm mới và thực hiện cải tiến sản phẩm rất nhanh
§Èy m¹nh xuÊt khÈu hµng ho¸ cña ViÖt Nam sang c¸c níc trong AFTA
NguyÔn Anh Tó Líp A7 K38B
15
chóng. Kết quả là vòng đời sản phẩm bị rút ngắn lại, sản phẩm nhanh chóng
bị lạc hậu. Do đó, các công ty phải đồng loạt tung sản phẩm lấp đầy nhiều thị
trường khác để nhanh chóng bù đắp chi phí nghiên cứu và phát triển sản
phẩm.
Tuy nhiên, lý thuyết này vẫn còn giá trị với các quốc gia đang phát
triển, mới tham gia hội nhập vào thị trường thế giới. Đặc biệt trong việc xác
định vị trí thích hợp của mình trên thị trường quốc tế, tham gia lựa chọn sản
xuất, mặt hàng phù hợp với khả năng và trình độ phát triển của mình.
2.4. Lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Năm 1990, Michael Porter đã đưa ra lý thuyết mới nhằm giải thích tại
sao một số quốc gia lại có được vị trí dẫn đầu trong sản xuất một số sản phẩm
nhất định. Lý thuyết cạnh tranh quốc gia cho rằng khả năng cạnh tranh của
một ngành sản xuất phụ thuộc vào năng lực sáng tạo và đổi mới của ngành đó.
Lý thuyết của Porter không nhằm mục đích giải thích cơ cấu xuất nhập khẩu
của các quốc gia mà chỉ lý giải tại sao và bằng cách nào một số nước có khả
năng cạnh tranh cao hơn trong một số ngành công nghiệp. Ông xác định bốn
nhóm yếu tố hình thành nên khả năng cạnh tranh quốc gia, các yếu tố đó mọi
nước đều có sẵn nhưng với mức độ khác nhau. Bốn nhóm yếu tố được mô tả
trong "hình thoi Porter" bao gồm :

NguyÔn Anh Tó Líp A7 K38B
16

 Điều kiện về yếu tố sản xuất :
Porter phân chia yếu tố sản xuất thành 2 loại : yếu tố cơ bản và yếu tố
tiên tiến. Yếu tố cơ bản bao gồm các nguồn lực sẵn có tự nhiên và cố định
như nguồn lao động, tài nguyên thiên nhiên, khí hậu Những yếu tố này tạo
nên lợi thế "tĩnh" của quốc gia. Trái lại các yếu tố được xây dựng bởi chính
sách đầu tư vào các lĩnh vực giáo dục và đổi mới như việc đào tạo nguồn
nhân lực, hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ tạo ra những nguồn
lực rất quan trọng là nguồn nhân lực bao gồm các nhóm có trình độ, kỹ năng
khác nhau, hạ tầng công nghệ quốc gia có chất lượng cao.
Các yếu tố cơ bản chỉ có thể tạo cơ sở ban đầu cho việc sản xuất một
mặt hàng nào đó còn các yếu tố tiên tiến là cần thiết để duy trì và nâng cao
khả năng của quốc gia trong sản xuất mặt hàng đó. Các yếu tố này tạo nên
“lợi thế động” của các quốc gia. Hiện nay, các nước đang phát triển chủ yếu
có được lợi thế tĩnh. Trong điều kiện sản phẩm làm ra có mức độ tinh xảo và
phức tạp ngày càng cao thì những lợi thế này tỏ ra ngày càng kém quan trọng.
Vì vậy, lối thoát cho các quốc gia này là chính sách phù hợp để nâng cao "lợi
thế động" của mình chứ không chỉ dựa vào lợi thế tĩnh.
 Điều kiện cầu
Đòi hỏi cao của khách hàng ở thị trường mà công ty hoạt động (trong
nước hoặc ngoài nước) là nhân tố rất quan trọng đối với lợi thế cạnh tranh
quốc gia về một lĩnh vực sản phẩm nào đó. Một thị trườngkhó tính sẽ buộc
các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến sản phẩm hiện có, phát triển các
sản phẩm mới với công nghệ hoàn toàn mới. Trong điều kiện các nước đang
phát triển nếu chỉ hoạt động ở thị trường trong nước với những khách hàng

3.1. Chiến lược thay thế nhập khẩu.
Nội dung cơ bản của chiến lược này là xây dựng một nền công nghiệp
rộng lớn, trước hết là công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, sau đó là các
ngành công nghiệp khác nhằm sản xuất sản phẩm nội địa thay thế các sản
phẩm nhập khẩu. Bên cạnh hiệu quả tăng trưởng, nền sản xuất công nghiệp
độc lập còn hy vọng thực hiện tiết kiệm nguồn ngoại tệ. Chiến lược này dựa
trên thực tế hiện nay khi các nền kinh tế đang phát triển phải đối mặt với môi
trường kinh tế quốc tế bị chi phối mạnh mẽ bởi các đối thủ cạnh tranh từ các
quốc gia công nghiệp hoá và phát triển cao.
Do đó, mục tiêu của các nước này không chỉ là thay thế một số hàng
hoá xuất khẩu đã được lựa chọn bằng hàng hoá sản xuất trong nước, mà còn
tạo ra một nền kinh tế linh hoạt, đa dạng và nhạy bén. Theo đó, để lĩnh vực
sản xuất công nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế thì trước tiên nó phải đứng
vững ở thị trường trong nước. Do đó, việc bảo hộ là cần thiết để tạo điều kiện
cho sự phát triển của một nền kinh tế "hoàn chỉnh" hơn, mở rộng phạm vi tìm
tòi thử nghiệm với nhiều ngành công nghiệp.
Tuy nhiên chủ nghĩa bảo hộ thường gây ra hàng loạt vấn đề bất lợi cho
nền kinh tế:
Thứ nhất, chúng xuyên tạc giá cả, không phản ánh đầy đủ quan hệ
cung cầu do cố tìm cách xây dựng một nền sản xuất công nghiệp riêng bằng
§Èy m¹nh xuÊt khÈu hµng ho¸ cña ViÖt Nam sang c¸c níc trong AFTA
NguyÔn Anh Tó Líp A7 K38B
18
cách tách thị trường trong nước ra khỏi thị trường quốc tế. Các nguồn lực
trong nước không được phân bổ có hiệu quả do thiết lập một cơ cấu kinh tế
sản xuất trong nước không phát huy được lợi thế so sánh. Do sự lệch lạc của
giá cả, kết quả là, thay vì tập trung vào những lĩnh vực mà ở đó đất nước có
những lợi thế so sánh tự nhiên thì lại hướng sản xuất vào những mặt hàng
thường được nhập khẩu tức là những lĩnh vực bất lợi thế tương đối. Trong cơ
cấu sản xuất này, chừng nào cơ cấu giá so sánh không thay đổi theo thời gian,

19
học hỏi kinh nghiệm và thay đổi công nghệ, cải thiện được khả năng linh hoạt
của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài.
Chiến lược này nhấn mạnh vào ba nhân tố cơ bản sau:
- Thay vì kiểm soát nhập khẩu để tiết kiệm ngoại tệ và kiểm soát tài
chính là mở rộng nhanh chóng khả năng xuất khẩu.
- Hạn chế bảo hộ công nghiệp địa phương, thay vào đó là nâng đỡ và
hỗ trợ các ngành sản xuất hàng xuất khẩu thông qua thuế quan, bù lỗ
xuất khẩu,
- Xây dựng môi trường đầu tư ổn định, hấp dẫn cho các nhà tư bản
thông qua hệ thống các chính sách khuyến khích và kinh tế tự do để
thu hút đến mức tối đa vốn đầu tư của các công ty nước ngoài.
Các nước áp dụng chiến lược hướng về xuất khẩu hy vọng có thể khắc
phục được nhược điểm của chiến lược thay thế nhập khẩu như:
- Chiến lược hướng ngoại tạo khả năng xây dựng cơ cấu kinh tế mới,
năng động.
Ngành công nghiệp trực tiếp xuất khẩu sẽ tác động tới các ngành cung
cấp đầu vào, tạo ra mối quan hệ ngược thúc đẩy sự phát triển của các ngành
này đồng thời sản phẩm thô cũng tạo ra quan hệ xuôi giúp phát triển các
ngành công nghiệp chế biến.
- Chiến lược hướng ngoại tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong
nước ngày càng lớn mạnh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Thời kỳ đầu có thể có sự trợ giúp của nhà nước song muốn tiếp tục tồn tại thì
phải tự đi trên đôi chân của mình. Mặt khác, thị trường thế giới rộng lớn mở
ra sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thu được hiệu quả nhờ quy mô sản
xuất.
- Chiến lược hướng về xuất khẩu tạo nguồn thu nhập ngoại tệ lớn cho
đất nước. Với những nước đang phát triển, ngoại thương là nguồn tích luỹ
vốn chủ yếu cho giai đoạn đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá.
Nhờ áp dụng chiến lược này nền kinh tế những nước đang phát triển và

đạt tỷ lệ phần trăm tối thiểu trong hàm lượng hàng hoá nội địa. Trong khu vực
AFTA hàm lượng tối thiểu theo yêu cầu của ASEAN là 40%.
Ảnh hưởng của khu vực thương mại tự do lên tính hiệu quả của nền
kinh tế cũng như phúc lợi vẫn còn nhiều tranh cãi. Trong đó có cả vấn đề về
tự do hoá hay bảo hộ nền kinh tế của các quốc gia thành viên. Trong khi các
nước phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ hơn từ quốc gia trong khối thì
họ lại biệt lập hơn với phần còn lại của thế giới.
Khi đánh giá tác động đến các nước thành viên, với nhiều nhà kinh tế
học điều quan trọng là liệu thương mại tự do khu vực có tác dụng tạo lập
thương mại (trade creation) ở các nước trong khối không hay chỉ làm chệch
hướng thương mại (trade diversion) của các đối tác trong phạm vi hợp tác.
Tác động tạo lập thương mại sẽ xuất hiện sau khi xoá bỏ thuế quan
trong khu vực, các nhà sản xuất có hiệu quả thuộc các nước thành viên áp đảo
các nhà sản xuất nội địa của các quốc gia thành viên khác về chất lượng và
chi phí sản xuất, kéo theo gia tăng thương mại giữa các nước. Trên cơ sở đó,
§Èy m¹nh xuÊt khÈu hµng ho¸ cña ViÖt Nam sang c¸c níc trong AFTA
NguyÔn Anh Tó Líp A7 K38B
21
nền thương mại được tạo lập và làm tăng mức sống của các nước thành viên
do tăng cường chuyên môn hoá trong sản xuất. Nếu các nước thành viên
chiếm lĩnh được thị trường rộng lớn trong khu vực để nâng cao khả năng cạnh
tranh từ đó mở rộng xuất khẩu sang các nước thứ ba thì các nước này sẽ
hưởng lợi từ việc hình thành khối thương mại tự do trên.
Ngược lại, tác động chệch hướng thương mại xuất hiện khi những nhà
sản xuất làm ăn hiệu quả hơn từ bên ngoài khối bị thay thế bởi những nhà sản
xuất kém cạnh tranh hơn từ nội bộ khối. Nguyên nhân là do việc cắt giảm
thuế quan làm cho hàng hoá được sản xuất từ các nước trong khu vực hợp tác
có khả năng cạnh tranh cao hơn. Khi đó, tác động này sẽ gây tổn hại cho các
nước thành viên vì phải tăng nhập khẩu những hàng hoá kém hiệu quả hơn.
Các quốc gia khi gia nhập khu vực thương mại tự do cần cân nhắc tác

mục tiêu cải thiện điều kiện thương mại giữa các thành viên do đó thường có
xu hướng thiên về tác động chệch hướng thương mại là chủ yếu. Bởi vì khi đó
các nước này sẽ giảm nhập khẩu từ các nước thứ ba và tăng nhập khẩu từ các
nước thành viên khác. Kết quả là sự hợp tác sẽ mang lại cho các nước thành
viên hiệu quả thịnh vượng khác nhau. Sự phân phối lợi nhuận khác nhau tiềm
ẩn khả năng căng thẳng giữa các nước thành viên. Chẳng hạn trong trường
hợp phải chịu tác động quá nhiều của chệnh hướng thương mạI, các nước
trong khối sẽ vì lợi ích bản thân mà dỡ bỏ hàng rào thuế quan để có thể nhập
khẩu những hàng hoá được sản xuất hiệu quả từ các nước ngoài khối hoặc tìm
kiếm thoả thuận khu vực thương mại tự do với những quốc gia phát triển.
Nhưng tại sao các nước đang phát triển vẫn tập hợp lại trong các khối
thương mại tự do trong khi tác dụng về mặt thương mại là rất hạn chế. Bởi vì,
các nước này có thể thu được lợi ích từ những tác động xảy ra theo thời gian
của việc hình thành khối thương mại tự do là làm tăng cạnh tranh, đạt nền
kinh tế theo quy mô, khuyến khích đầu tư và sử dụng tốt hơn các nguồn lực.
Trong đó, tác động thúc đẩy cạnh tranh là thách thức lớn nhất đối với các
nước đang phát triển trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Khi chưa thành lập khối tự do, các nhà sản xuất kém hiệu quả trong
nước được bảo hộ bằng các hàng rào thương mại. Khi chúng được hạ thấp hay
dỡ bỏ, các nhà sản xuất có hiệu quả hơn từ các nước thành viên sẽ tràn vào
cạnh tranh gay gắt hơn sẽ buộc các công ty phải sản xuất có hiệu quả hơn,
giảm giá bán, đầu tư vào phát triển cải tiến sản phẩm. Những hãng không đủ
sức cạnh tranh sẽ bị loại bỏ. Những nhà sản xuất còn trụ lại là những người
sản xuất có hiệu quả trong khu vực và do đó có khả năng cạnh tranh trên thị
trường thế giới. Do đó, nguồn lực cho phát triển kinh tế của các quốc gia sẽ
được tái phân bổ theo hướng có hiệu quả hơn.
Bên cạnh đó, một thị trường khu vực rộng lớn cũng mở ra cơ hội cho
các công ty khai thác hiệu quả kinh tế quy mô. Để đạt được quy mô đầu ra
hiệu quả, một nhà máy sản xuất hiện đại phải sản xuất được một lượng hàng
hoá lớn hơn những nhu cầu trong nước: Hiệu quả kinh tế theo quy mô cũng

nghiệp ASEAN (AIC), kế hoạch hỗ trợ sản xuất công nghiệp cùng nhãn mác
(BBC) và liên doanh công nghiệp ASEAN (AIJV) lần lượt đổ vỡ hoặc thu
được không mấy hiệu quả. Những kế hoạch này chỉ gây được tác động nhỏ tới
thương mại nội bộ khối và không đủ khả năng ảnh hưởng tới đầu tư trong
khối.
Trong bức tranh đa dạng của thế giới sau chiến tranh lạnh, xuất hiện
những tổ chức hợp tác và liên kết kinh tế khu vực, thu hút sự hội nhập của
nhiều nền kinh tế. Trong đó, ngoài tổ chức thương mại thế giới (WTO) ra đời
từ GATT phải kể đến liên minh Châu Âu (EU), tổ chức hợp tác kinh tế Châu
Á - Thái Bình Dương (APEC), khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA).
Cùng với đó là những thay đổi trong môi trường chính trị, kinh tế khu vực và
quốc tế đã đặt kinh tế các nước ASEAN đứng trước những thử thách lớn
không dễ vượt qua nếu không có sự liên kết chặt chẽ hơn và những nỗ lực
§Èy m¹nh xuÊt khÈu hµng ho¸ cña ViÖt Nam sang c¸c níc trong AFTA
NguyÔn Anh Tó Líp A7 K38B
24
chung của Hiệp hội. Vì vậy, vai trò của ASEAN cũng thay đổi, tập trung
nhiều vào hợp tác kinh tế thay vì an ninh khu vực thuần tuý. Vì mục đích này,
AFTA được coi là sự phản ứng mang tính chiến lược trước những thay đổi kể
trên. Dưới đây là những nguyên nhân chính dẫn đến sự hình thành AFTA:
Thứ nhất, quá trình toàn cầu hoá kinh tế thế giới diễn ra nhanh chóng
và mạnh mẽ hình thành nên môi trường kinh tế toàn cầu với tính cạnh tranh
cao hơn. Trong đó, quá trình sản xuất được quốc tế hoá, giao dịch thương mại
xuyên biên giới được đẩy mạnh cùng với việc mở ra kỷ nguyên thông tin và
mạng kinh tế toàn cầu đã kích thích các hoạt động kinh tế bên trong và giữa
các quốc gia.
Thứ hai, sự lớn mạnh của chủ nghĩa khu vực đã hình thành và phát
triển các tổ chức hợp tác khu vực mới như EU và NAFTA sẽ trở thành những
khối thương mại lớn khép kín, gây trở ngại cho hàng hoá ASEAN khi thâm
nhập vào thị trường này.

này là hiệp định ưu đãi Thuế quan có hiệu lực chung (CFPT).
Tuy nhiên các nước ASEAN đều hiểu rằng chỉ riêng AFTA thì chưa đủ
để đạt được các mục tiêu kinh tế trên trừ khi có một hệ thống các chính sách
bổ trợ khác vượt ngoài khuôn khổ tự do hoá thương mại như xoá bỏ các rào
cản đối với đầu tư nước ngoài, hợp tác công nghiệp, thống nhất các tiêu
chuẩn, quy tắc cạnh tranh và tham vấn kinh tế vĩ mô. Hệ thống này được gọi
là AFTA – Bổ sung.
Dưới góc độ đó, nhiều người cho rằng AFTA chỉ là “bãi tập” cấp tiểu
vùng để đưa ASEAN tới một hệ thống thương mại đa phương mở cấp khu
vực và toàn cầu. Sự phụ thuộc kinh tế giữa ASEAN và khối Hợp tác kinh tế
châu Á - Thái Bình Dương (APEC) có xu hướng tăng lên mà nhóm hạt nhân
bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore cùng với
Malaysia và Thái Lan. Các nước khu vực Thái Bình Dương chiếm phần lớn
trong thương mại của ASEAN-5 (gồm Indonesia, Malaysia, Singapore,
Philippineses và Thái Lan). Ví dụ, ba phần tư tổng xuất khẩu của các nước
ASEAN-5 trong năm 1995 là với khu vực Thái Bình Dương, trong khi cũng
khu vực này chiếm tới hai phần ba tổng nhập khẩu của các nước ASEAN.
Khu vực châu Á- Thái Bình Dương là khu vực vô cùng rộng lớn và đa
dạng: lớn nhất về mặt địa lý và cũng bao gồm sự khác biệt lớn nhất về thu
nhập bình quân đầu người trong số ba khu vực kinh tế chủ yếu của thế giới là
Tây Âu, Bắc Mỹ và Châu Á - Thái Bình Dương. Tuyên bố Bogor (Indonesia,
11/1994) đã đặt mục tiêu tự do hoá thương mại vào năm 2020, nhưng với
thành tích tăng trưởng kinh tế thành công của mình, APEC cố gắng trở thành
một khu vực mở rộng của châu Á - Thái Bình Dương, chứ không phải thuần
tuý là một khối hay một vùng hội nhập.
Các nước ASEAN tham gia tích cực vào toàn bộ quá trình trên và nhận
thức rõ rằng kết quả của sự gia tăng thương mại do việc thực thi các thoả
thuận của vòng đàm phán Urugoay còn lớn hơn nhiều so với kết quả mà
AFTA có thể đưa lại. Bằng việc đẩy mạnh tiến trình AFTA, các nước ASEAN
hy vọng sẽ đi trước các thoả thuận thương mại tự do khác trong khuôn khổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status