Các biện pháp nhằm khuyến khích sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam - Pdf 11

Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Thơm
Lời mở đầu
Khi đánh giá những thành tựu kinh tế đã đạt đợc, chúng ta không thể không
nhắc đến sự đóng góp to lớn của hoạt động ngoại thơng nói chung và xuất khẩu
nói riêng. Với u thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lý
thuận lợi...của nớc ta, chúng ta càng có điều kiện để phát triển nền kinh tế quốc
dân, trong đó xuất khẩu có vai trò hết sức quan trọng.
Trong những năm qua, kể từ khi nớc ta thực hiện chính sách đổi mới do Đảng ta
khởi sớng và lãnh đạo, hoạt động xuất khẩu của nớc ta đã không ngừng đi lên
và khẳng định đợc vị trí xứng đáng của mình trong phát triển kinh tế. Xuất khẩu
không những góp phần tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, làm chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, tạo điều kiện mở rộng qui mô sản xuất trong nớc, tạo cơ sở vật chất để
mở rộng và thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại mà còn thúc đẩy phân công
lao động trong nớc, mở rộng và làm phong phú thị trờng nội địa phục vụ cho sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Tuy nhiên, thực tế cho chúng ta thấy, hoạt động ngoại thơng của ta còn nhỏ bé
và manh mún, hàng hoá xuất khẩu chủ yếu ở dạng thô, cha qua chế biến, hoạt
động đầu t còn kém hiệu quả, trình độ quản lý cha đáp ứng đợc yêu cầu phát
triển chung của thế giới, đời sống của ngời lao động còn khó khăn...Cho nên, b-
ớc sang thời kỳ phát triển mới- thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc,
thời kỳ của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật và công nghệ hiện đại, thời kỳ
của nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin, thời kỳ của toàn cầu hoá và hội
nhập kinh tế quốc tế, chúng ta cần phân tích thực trạng để tìm ra những giải
pháp hữu hiệu và phù hợp với yêu cầu phát triển mới. Bởi vì, đây là vấn đề
mang tính thời sự, đòi hỏi phải đợc tiếp tục nghiên cứu cả về lý luận và kinh
nghiệm thực tiễn một cách nghiêm túc nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, tạo đà vững
chắc đa đất nớc Việt Nam đi lên với thế và lực mới.
Quá khứ của một thời nghèo đói, lạc hậu đã khép lại. Giờ đây, chúng ta có thể
khẳng định mô hình kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta đã
chọn là phù hợp với qui luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn. Gần 20 năm đổi
mới đã trôi qua, nền kinh tế nớc ta đã đạt đợc những thành tựu quan trọng và có

Sự cần thiết phải sản xuất và đẩy mạnh
xuất khẩu hàng hoá của việt nam
I Một số vấn đề lý luận liên quan đến việc khuyến khích sản xuất và đẩy
mạnh xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam
1. Khái niệm
Quá trình phát triển và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam gắn
liền với cuộc đấu tranh lâu dài của dân tộc ta chống lại ách thực dân đô hộ và đế
quốc để giải phóng và thống nhất đất nớc, bảo vệ độc lập chủ quyền của dân tộc
Việt Nam.
Trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế ở nớc ta từ một nền kinh tế còn
nghèo nàn lạc hậu, trình độ phát triển thấp, hoạt động theo cơ chế hành chính kế
hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp, do đó không có tích luỹ cho tái sản xuất
mở rộng, xuất hiện tham nhũng bóc lột.... Trong tình hình đó, Đảng và Nhà nớc
ta đã từng bớc chuyển đổi cơ chế trong nông nghiệp, công nghiệp, làm cho sản
xuất nớc ta đợc khôi phục và khởi sắc.
Để tạo điều kiện cho phát triển kinh tế đợc thuận lợi hơn, Hội nghị Trung ơng
khoá VI đã ra Nghị quyết 02 vào tháng 4 năm 1987 nhằm hạn chế tối đa những
ảnh hởng tiêu cực của việc đổi tiền và điều chỉnh giá năm 1985 không thành
công dẫn đến lạm phát phi mã trên 700%. Sự kiện này đã mở đờng cho việc
thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng về đổi mới kinh tế, là chuyển từ một
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang một nền kinh tế với 2 đặc trng: đặc trng
về tính kế hoạch và đặc trng về cơ chế thị trờng. Tiếp đó Đại hội VIII đã xác
định rõ hơn là nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế nhiều thành phần vận động
theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nứơc theo định hớng XHCN
(
1)

tới Đại hội IX thì khẳng định nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trờng
theo định hớng XHCN .
Trên thế giới, kinh tế thị trờng đã đợc xác lập và đạt tới độ trởng thành ở Anh

phát triển chủ yếu của quan hệ quốc tế hiện đại. TCH, KVH có tác dụng hỗ trợ
bổ sung cho nhau, trong đó các nớc trên thế giới đều đang tiến hành điều chỉnh
chính sách kinh tế theo hớng mở cửa, giảm và tiến tới xoá bỏ hoàn toàn hàng
rào thuế quan và phi thuế quan nhằm làm cho việc trao đổi hàng hoá,...lu
chuyển vốn, lao động và kỹ thuật trên thế giới ngày càng thông thoáng hơn.
Dới tác động của xu thế này, nhiều tổ chức kinh tế thơng mại toàn cầu và tổ
chức liên khu vực đã ra đời nh: WTO ra đời năm1994 với 132 thành viên, chiếm
hơn 90% giá trị thơng mại của thế giới, EU năm 1951 với 15 thành viên,
ASEAN năm 1967 với 6 thành viên, APEC năm 1989 với 18 thành viên, chiếm
56% GDP và 46% thơng mại thế giới, NAFTA năm 1992, AFTA năm 1993...,
và các tam giác phát triển khác
(20)
. Sự ra đời của các tổ chức này làm cho bầu
không khí của thế giới đã một thời băng giá đợc hâm nóng lên, tạo nên một
thế giới hoà bình, hợp tác và phát triển .
Nhận thức đợc những lợi thế quan trọng trong việc tham gia vào quá trình
HNKTQT là tạo dựng đợc thế và lực trong thơng mại quốc tế, tạo dựng đợc môi
trờng phát triển kinh tế do đợc hởng những u đãi thơng mại, Việt Nam đã thực
sự đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực h ớng mạnh về
xuất khẩu (XK) .
Vậy, chúng ta có thể hiểu XK là việc bán hàng hoá và dịch vụ ra nớc
ngoài
(12)
.
- Theo nhiều tài liệu nghiên cứu khoa học trong nớc và các nhà kinh tế học nớc
ngoài, khái niệm XK có nghĩa là:
Xuất khẩu là sự luân chuyển hàng hoá ra nớc ngoài theo những thoả
thuận giữa các đối tác với nhau về pháp lý, phong tục, điều kiện kinh
tế (bao gồm: chất lợng, kỹ thuật..) và thông lệ quốc tế mà đôi bên đã
thoả thuận

Chỉ trong một thời gian ngắn, các nớc và vùng lãnh thổ này đã không những vợt
qua cảnh nghèo nàn, lạc hậu mà còn thực hiện thành công quá trình CNH và trở
thành nớc công nghiệp phát triển. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thành
công này là họ đã thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý hớng về XK,
năng động và hiện đại. Sự lựa chọn con đờng phát triển đó đã mang lại cho họ
những thành quả đầy ấn tợng và đáng khâm phục, một số ví dụ dới đây sẽ
chứng minh điều đó:
- Tốc độ tăng XK hàng năm của Hàn Quốc đạt gần 30% từ 1960-1975
- XK của Đài Loan đã tăng từ 123 triệu USD năm 1963 lên gần 3 tỷ USD
vào năm 1970, tăng gấp 24.4 lần.
- Tốc độ tăng XK của Indonesia bình quân là 9.3%/năm kể từ năm 1965-
nay
(20
)
Số liệu bảng dới sẽ cho chúng ta thấy sự đóng góp của XK trong phát triển nền
kinh tế quốc dân là rất lớn.
Bảng 1: Tỷ lệ XK/GDP của một số nớc (GDP theo giá thị trờng thực tế)
Đơn vị: %
1986 1990 2000 2001
Thái Lan 20.6 27.01 56.6 56.7
Singapore 126 143.24 148.75 142.09
Malaisia 49.33 66.88 109.56 100.53
Indonesia 18.5 22.44 40.81 38.76
Nguồn: Niên giám thống kê 2002, nxb Thống kê Hà Nội 2003

Nh vậy, sự ra đời của ngoại thơng nói chung và XK nói riêng là kết quả của SX
phát triển, đồng thời ngoại thơng lại là tiền đề cho sự phát triển của SX. Nhận
thức đợc tầm quan trọng của ngoại thơng trong phát triển kinh tế, Đảng và Nhà
nớc ta đã đề ra các chiến lợc phát triển kinh tế xã hội trong đó Nghị quyết Đại
5

giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh trên nguyên
tắc bảo vệ độc lập, chủ quyền an ninh quốc gia, đảm bảo phát triển
đất nớc theo định hớng XHCN, mở rộng quan hệ kinh tế trên cơ sở
bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của
nhau. Quan điểm này đã mở đầu cho việc thực hiện chính sách đổi
mới ở nớc ta vào năm 1986, chuyển từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung, quản lý theo cơ chế mệnh lệnh sang cơ chế thị trờng có sự điều tiết
của Nhà nớc, theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm này cũng
khẳng định sức mạnh kinh tế là nền tảng để bảo vệ độc lập, chủ quyền và
an ninh quốc gia, đồng thời là cơ sở để xây dựng đất nớc phồn vinh. Cho
nên, phát triển kinh tế hớng mạnh vào xuất khẩu trớc hết phải xuất phát
từ lợi ích của quốc gia trên nguyên tắc hợp tác bình đẳng, lâu dài và cùng
có lợi.
b. XK nhằm khắc phục tính chất tự cung, tự cấp của nền kinh tế, mở cửa
nền kinh tế, từng bớc hoà nhập với nền kinh tế thế giới.
6
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Thơm
Do điểm xuất phát của ta còn thấp, sản xuất còn manh mún, có lúc bị đình trệ
do thiếu nguyên liệu đầu vào...để thực hiện mở cửa nền kinh tế chúng ta cần
phải khắc phục tình trạng tự cung, tự cấp của nền kinh tế theo phơng hớng:
Cần khai thông thị trờng, xây dựng hệ thống giá cả, tỷ giá... đảm bảo các tiêu
chuẩn về chất lợng, độ an toàn..., tạo lập hệ thống chính sách quản lý phù hợp
với cơ chế mới. Đồng thời mở cửa nền kinh tế với bên ngoài theo hớng thực
hiện thơng mại hoá tất cả các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh
nhằm triệt phá cơ chế bao cấp, đồng thời phải tôn trọng qui luật khách quan, qui
luật cung, cầu, không có sự can thiệp cứng nhắc của Chính phủ. Các thành phần
kinh tế phải đợc tham gia sản xuất, kinh doanh bình đẳng, tạo nên môi trờng
kinh doanh thuận lợi hấp dẫn giới đầu t nớc ngoài. Có nh vậy chúng ta mới có
thể loại bỏ đợc tính chất tự phát của nền kinh tế, học hỏi đợc nhiều kinh nghiệm
của nớc ngoài, tiếp thu đợc khoa học công nghệ tiên tiến...của nớc bạn, góp

phần vào việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.
7
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Thơm
Tóm lại, hiệu quả của hoạt động ngoại thơng không chỉ có ý nghĩa là mức lợi
nhuận bằng tiền mà nó còn thể hiện ở mức đóng góp vào việc thực hiện các mục
tiêu kinh tế xã hội của nền kinh tế nh :
+ Tốc độ tăng trởng của nền kinh tế quốc dân, góp phần tăng thu nhập, cải
thiện đời sống nhân dân.
+ Phân phối thu nhập hợp lý, giải quyết công ăn việc làm cho ngời lao động
+ Sử dụng mọi tiềm năng và khả năng sản xuất của đất nớc
+ Cải thiện cán cân thanh toán
+ Nâng cao vị thế của Việt Nam trên trờng quốc tế ...
e. XK là để thực hiện phơng châm: Đa phơng hoá, đa dạng hoá quan hệ th-
ơng mại là để mở rộng các hình thức buôn bán nh: uỷ thác, hàng đổi hàng, mua
đứt bán đoạn, cấp tín dụng ...nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tác lựa
chọn các phơng thức buôn bán phù hợp với khả năng của mình trên nguyên tắc
bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, tạo điều kiện
thuận lợi cho sản xuất phát triển đáp ứng yêu cầu tiêu dùng ở trong nớc và nớc
ngoài, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng CNH-HĐH đất nớc,
mở rộng thị trờng xuất khẩu...
II Y nghĩa và tính cấp thiết của sản xuất và xuất khẩu trong nền kinh tế
quốc dân
Cùng với tiến trình hội nhập và phát triển, thơng mại quốc tế (TMQT) là một bộ
phận quan trọng gắn liền với tiến trình hội nhập và lợi thế của một quốc gia trên
thị trờng khu vực và quốc tế. Vì vậy việc đẩy mạnh giao lu TMQT nói chung và
thúc đẩy hàng hoá dịch vụ nói riêng là mục tiêu hàng đầu của các quốc gia.
Thực tế cho thấy, các nớc có dự trữ ngoại tệ lớn nh: Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan...
đều là những nớc có giá trị xuất khẩu lớn trên thế giới.
Bảng 2 : Tổng giá trị XK của 10 nớc đứng đầu năm 2001
Đơn vị : triệu USD

Nguồn: Niên giám thống kê 1990 và 2002, nxb Thống kê, Hà Nội 1992 và 2003
1. Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, đồng thời giữ vững ổn định thị
trờng xuất khẩu và nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nớc
Trong Văn kiện Đại hội Đảng VIII (28/6/1996) có đề ra mục tiêu Từ nay đến
năm 2020 ra sức phấn đấu đa nớc ta trở thành một nớc công nghiệp... . Đó là
mục tiêu trọng tâm cơ bản của Việt Nam trong chiến lợc ổn định và phát triển
kinh tế xã hội đến năm 2020.
Để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc trong một thời gian ngắn,
đòi hỏi phải có một lợng vốn lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị, kỹ thuật,
công nghệ tiên tiến. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có vốn và thu hút vốn, kỹ
thuật từ bên ngoài nhiều nhất. Với một nớc có trình độ phát triển thấp nh Việt
Nam, lại hội nhập với nền kinh tế thế giới muộn hơn con đờng nhanh nhất để
thu hút vốn là đầu t nớc ngoài (ĐTNN), vay nợ, nhận viện trợ, xuất khẩu...Thế
nhng, việc đi vay sẽ làm cho chúng ta bị phụ thuộc vào bên ngoài do phải trả
nợ, buộc chúng ta phải mở rộng giao lu quốc tế trong thơng mại, tận dụng tối đa
mọi nguồn lực nhằm thúc đẩy sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu để tăng thu ngoại
tệ nhằm đáp ứng nhu cầu nhập khẩu của đất nớc.
Bảng 4 : Nguồn thu ngoại tệ của Việt Nam trong thời gian qua
Đơn vị: Triệu USD
Năm Du lịch XK ODA FDI
1991-1995 797 17156.2 2394 5503
2003 1330 19800 2800 1900
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam Xuân Giáp thân 2004
Qua phân tích bảng trên ta có thể thấy: Nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu giai
đoạn 1991-1995 gấp gần 2 lần so với nguồn thu từ du lịch, đầu t trực tiếp nớc
ngoài (FDI), hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cộng lại. Trong khi đó riêng
năm 2003 nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu gấp 3.3 lần so với tổng nguồn thu từ
3 nguồn còn lại, đạt 19.8 tỷ USD. Kết quả này không chỉ đơn thuần cho chúng
ta bíêt đợc nguồn ngoại tệ thu đợc là bao nhiêu mà nó còn mang ý nghĩa vô

điểm này chính là xuất phát từ nhu cầu thị trờng thế giới để tổ chức sản
xuất. Điều đó tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc
đẩy hàng hoá phát triển hay nói cách khác, đất nớc sẽ hình thành
những ngành kinh tế hớng xuất khẩu. Những ngành kinh tế đó phải có
kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để hàng hoá khi tham gia vào thị trờng
thế giới có đủ sức cạnh tranh và mang lại lợi ích quốc gia.
Theo quan điểm này, đây chính là giải pháp làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế một
cách mạnh mẽ theo hớng có lợi hơn và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, bởi
vì:
+ Xúât khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi, tạo
nên sự phát triển đồng đều giữa các ngành kinh tế từ nông nghiệp, công nghiệp
đến dịch vụ. Chẳng hạn, khi phát triển ngành nuôi trồng thuỷ sản sẽ kéo theo
ngành thức ăn chăn nuôi gia súc, ngành công nghiệp phục vụ cho việc nâng cấp
thiết bị nuôi trồng thuỷ sản phát triển, và chế biến sản phẩm thuỷ sản để xuất
khẩu.
Bảng 5 : Sự đóng góp của các ngành trong GDP
Đơn vị : tỷ đồng; %
10
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Thơm
Ngành kinh tế
1990 1995 2000
Giá trị Cơ cấu Giá trị Cơ cấu Giá trị Cơ cấu
Công nghiệp 9513 22.67 65820 28.76 162220 36.73
Nông nghiệp 16252 37.74 62219 27.18 108356 24.583
Dịch vụ 16190 38.59 100853 44.06 171070 38.74
Nguồn: Niên giám thống kê 2002, nxb Thống kê Hà Nội 2003
Nh đã phân tích ở trên, tốc độ tăng của GDP gắn liền với tốc độ tăng của xuất
khẩu, đồng thời cũng gắn liền với chính sách đầu t và làm hàng xuất khẩu. Bởi
vậy qua số liệu ở bảng trên chúng ta có thể thấy tỷ trọng của nông nghiệp trong
GDP đã giảm dần nhờng chỗ cho sức bật của hàng công nghiệp và dịch vụ, một

lực sản xuất mới. Số liệu của bảng trên càng cho chúng ta thấy rõ hơn về vấn
đề này. Nếu nh năm 1995 khu vực kinh tế trong nớc chiếm khoảng 73% tổng
11
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Thơm
kim ngạch xuất khẩu của cả nớc, thì đến năm 2003 con số này đã giảm xuống
chỉ còn gần 50%. Trong khi đó, khu vực có vốn đầu t nớc ngoài có sức tăng vợt
trội từ 27% năm 1995 lên trên 50% năm 2003 trong tổng kim ngạch xuất khẩu
của cả nớc.
Nh vậy chúng ta có thể nói, giai đoạn 2001-2003 là giai đoạn bản lề của kế
hoạch 5 năm, giai đoạn của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế với tốc độ
nhanh chóng và đa dạng. Với một đất nớc có điểm xuất phát thấp, lại mở cửa thị
trờng muộn hơn các nớc khác trong khu vực và thế giới nh Việt Nam, vấn đề
thu hút vốn và công nghệ cao vào sản xuất và phát triển kinh tế có tầm quan
trọng hơn bao giờ hết, nhất là vào thời điểm điện tử và tri thức , và khi Việt
Nam đang mong muốn tiến tới lộ trình hội nhập vào Tổ chức Thơng mại thế
giới (WTO) và Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) một cách nhanh nhất.
Để làm đợc việc đó cách tốt nhất là chúng ta phải thu hút đầu t nớc ngoài, bởi
đầu t nớc ngoài không chỉ tạo điều kiện cho chúng ta về vồn, công nghệ mà còn
giúp chúng ta giải quyết một số vấn đề kinh tế - xã hội khác nh: giải quyết việc
làm, kinh nghiệm quản lý...
Bảng sau đây sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn vai trò của XK trong chuyển dịch cơ
cấu kinh tế để đẩy mạnh XK.
Bảng 7 : Giá trị XNK của Việt Nam với một số nớc trong ASEAN
Đơn vị: triệu USD
Tên nớc XK NK
1996 1999 2001 1996 1999 2001
Indonesia 53.8 421 248 190 285.2 348.7
Philipines 41.5 393.3 477.7 24.7 46.1 63.3
Thái Lan 101.3 312.7 388.9 439.7 556.3 812.9
Nguồn: Đổi mới chính sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của trong quá trình

60
2000
8 37 44 25 31 2 49 41 53
2001
6 38 39 21 26 1 45 38 60
Ho
ng
Phi
lipi
Ind
on
Ma
lay
Thá
i
Sin
ga
Ân
Độ
Tru
ng
Vi
ệt

Nguồn: Kỷ yếu hội thảo khoa học Châu A- Thái Bình Dơng, nxb Chính trị
Quốc gia Hà Nội 2002
+ Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện ph-
ơng pháp quản trị sản xuất kinh doanh theo qui luật của cạnh tranh. Tính qui
luật của sự thay đổỉ cơ cấu là chuỷên dần từ sản phẩm (SP) sử dụng nhiều lao
động rẻ, không cần tay nghề cao sang các sản phẩm sử dụng nhiều lao động

xã hội, khoa họckỹ thuật...giữa một quốc gia này với một quốc gia khác tạo
nên sự phát triển đồng đều, và bền vững vì lợi ích của mỗi quốc gia, vì hoà bình,
hợp tác và phát triển trên toàn thế giới.
Bảng dới đây sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vai trò của hoạt động KTĐN nói
chung và xuất khẩu nói riêng trong phát triển kinh tế.
Bảng 10: Tăng trởng GDP của một số nớc hớng vào XK
Đơn vị : %
Tên nớc
Tăng trởng GDP (%)
(theo giá cố định)
Tỷ lệ XK/GDP
70-80 80-90 90-00 1980 1990 2000
Hàn Quốc 10.3 9.4 5.7 0.34 0.31 0.43
Thái lan 7.7 7.6 6.3 0.24 0.45 0.53
Đài Loan 9.7 8.2 7.9 0.53 0.45 0.61
Nguồn: Đổi mới chính sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế, nxb Lao động Hà Nội 2003
Nh vậy, chúng ta có thể thấy các nớc áp dụng chính sách theo hớng xuất khẩu
khởi đầu với tỷ lệ XK/GDP tơng đối cao. Phần lớn tăng trởng xuất khẩu của các
nớc này là nhờ sản phẩm công nghiệp chế biến. Điều thú vị ở đây là những nền
kinh tế càng mở thì lại càng có khả năng tăng trởng tốt hơn và ổn định hơn
nhờ kỹ năng học hỏi đợc khi xuất khẩu.
Chính vì thế, ngay từ năm 1986, xuất khẩu đã đợc Đảng và Nhà nớc đa thành
một trong ba chơng trình kinh tế lớn của cả nớc theo hớng đa dạng hoá, đa ph-
14
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Thơm
ơng hoá quan hệ KTĐN với các hoạt động nh: XNK hàng hoá, ĐTQT, du lịch
dịch vụ, XK sức lao động, hợp tác khoa học ...
Thành công của công cuộc đổi mới cho đến nay đợc thể hiện (lấy con số của
năm 2003 so với năm 2002 làm ví dụ) :

ợc luận cứ trên:
(19)
- GDP/ngời năm 2000 là 401.5 USD đến năm 2003 là 415.4USD, trong khi
đó ở Mỹ tơng ứng là 34940.2 lên 35819.5; và ở Nhật là 38161.8 xuống
33400.4 vào năm 2001.
- Kim ngạch xuất khẩu chiếm 43.7% GDP năm 2000 (đạt 14.3tỷ USD) lên
gần 50%/ GDP năm 2003 (đạt 19.8 tỷ USD)
- Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị là 6.44% năm 2000 xuống 6.28% 2001
- Tổng thu nhập quốc gia theo giá thực tế là 435.319 tỷ đồng năm 2000 lên
474.860 năm 2001
15
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Thơm
- Chỉ số giá tiêu dùng ở mức 191.6 năm 2000 xuống còn 120.2năm 2001
trong khi đó ở Mỹ tơng ứng là 113 và 116.2; ở Nhật Bản là 101.5 và
100.8
- Chỉ số phát triển con ngời xếp thứ 109 trong khi đó Mỹ đứng thứ 6; Nhật
Bản đứng thứ 9...
Có thể nhận thấy rằng phát triển kinh tế và phát triển con ngời có mối quan hệ
biện chứng, bởi lẽ khi mức sống của ngời dân đợc cải thiện sẽ làm cho hoạt
động thơng mại trong nớc sôi động hơn, thị trờng nội địa phong phú hơn, tạo
điều kiện thuận lợi cho sản xuất phát triển. Bên cạnh đó, xuất khẩu cũng tác
động tích cực tới trình độ tay nghề, thay đổi thói quen của ngời sản xuất hàng
xuất khẩu nhằm tạo nên những sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao. Đó là một
trong những lý do mà Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đa
vấn đề con ngời trong phát triển KT, coi con ngời là nhân tố có tính chất quyết
định hàng đầu đối với sự tồn tại và phát triển của đất nớc, đặc biệt là trong giai
đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc (CNH-HĐH) giai đoạn của sự
hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức nớc nhà. Kinh nghiệm từ hai nớc
Mỹ và Nhật Bản đã cho chúng ta câu trả lời đó.
5. Xuất khẩu làm tăng ngân sách Nhà nớc, tạo nguồn lực phát triển nền

đã đạt đợc, cũng nh những vấn đề còn tồn tại cần phải giải quyết sau nhiều năm
đổi mới, trong đó chú trọng đến thực trạng xuất khẩu và biện pháp khuyến
khích sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá để từ đó có cơ sở xác định h-
ớng xuất khẩu cho giai đoạn tới.
I Thực trạng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam giai đoạn 1991 nay
Công cuộc Đổi mới đợc Đại hội lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xớng
năm 1986 đã mở đờng cho sự chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam từ nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội
chủ nghĩa (XHCN). Song song với sự đổi mới về chiến lợc kinh tế xã hội trong
nớc là sự chuyển hớng chiến lợc chính trị và kinh tế đối ngoại.
Từ đó đến nay, đất nớc đã thực sự có những biến đổi sâu sắc và toàn diện. Trong
khoảng thời gian đó, Việt Nam đã tiến hành thay đổi về căn bản cơ chế quản lý
kinh tế và nỗ lực để đạt đợc các nền móng định chế của một nền kinh tế thị tr-
ờng định hớng XHCN. Trong số những chính sách kinh tế đem lại những thành
tựu vợt bậc của Việt Nam, nhóm chính sách tác động đến thơng mại quốc tế đã
đóng một vai trò quan trọng. Hoạt động ngoại thơng của Việt Nam đã tăng tr-
ởng không ngừng, là một nguồn quan trọng đem lại thu nhập, việc làm và tạo ra
nền tảng cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nhờ thực hiện chính sách mở cửa,
đa phơng hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm thực hiện các chiến
lợc phát triển kinh tế theo hớng XK mà Đảng và Nhà nớc đã đề ra. Đó là những
tiền đề cơ bản cần thiết và thuận lợi để nớc ta đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh
tế, mở rộng buôn bán và hợp tác với các nớc, các khu vực và quốc tế, nhanh
chóng hội nhập kinh tế quốc tế vì sự nghiệp CNHHĐH đất nớc.
1. XK Việt Nam giai đoạn 1991-1995
Trong lúc cuộc khủng thứ nhất vào đầu những năm 1980 còn cha khắc phục đợc
một cách cơ bản, thì cuộc khủng hoảng thứ hai xảy ra-đó là sự sụp đổ của Liên
Xô cũ và Đông Âu, có tác động trực tiếp đến nớc ta, làm đảo lộn thị trờng XK
truyền thống, trong khi Mỹ vẫn tiếp tục chính sách bao vây cấm vận kinh tế đối
với nớc ta.
Để đối phó với tình hình mới, Đảng và Nhà nớc ta đã đề ra cơng lĩnh xây dựng

1992 5124.4 2580.7 2540.7
1993 6909.2 2985.2 3924
1994 9880.1 4054.3 5825.8
1995 13604.3 5448.9 8155.4
Cộng 91-95 39940.2 17156.2 22784
Nguồn: Giáo trình Kinh tế Ngoại thơng, nxb Giáo dục GS,TS. Bùi Xuân Lu, tr. 99
Sau 5 năm thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế, nền kinh tế của ta đã
thu đợc những thành tựu đáng kể. Tổng sản phẩm trong nớc GDP năm 1995 đạt
228892 tỷ đồng tăng gấp 5.46 lần so với năm 1990, trong đó nông-lâm-thuỷ sản
chiếm 27.18%/GDP; công nghiệp và xây dựng chiếm 28.76%/GDP; dịch vụ
chiếm 44.06%/GDP năm 1995 so với mức tơng ứng của năm 1990 là 38.74%;
22.67%; 38.59%. KNXK đóng góp phần không nhỏ, nếu không muốn nói là rất
quan trọng vào sự tăng trởng của GDP: KNXK năm 1995 đạt 5448.9 tr.USD
tăng 2.61 lần so với năm 1991, nâng tổng kim ngạch của giai đoạn này lên
17156.2 tr USD từ mức 7031.7 tr.USD giai đoạn 1986-1990.
Cơ cấu hàng XK có sự thay đổi khá mạnh ở nhóm hàng công nghiệp nặng và
khoáng sản, chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng KNXK của Việt Nam. Hàng
CNN&TTCN tăng đột biến, chiếm 28.4% tổng KNXK năm 1995 so với mức
14.4% vào năm 1991. Hàng nông-lâm-thuỷ sản có sự giảm dần về tỷ trọng chủ
yếu là do tỷ trọng hàng lâm sản giảm rất mạnh xuống còn 2.8% năm 1995 từ
5.3% năm 1990. Nhng do sản lợng gạo XK tăng khá lớn (đạt 2050 nghìn tần
năm 1995 so với 1010 nghìn tấn năm 1991) làm cho tỷ trọng của nhóm hàng
này giảm chút ít, xuống còn 46.3% năm 1995.
18
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Thơm
Bảng 12: Xuất khẩu phân theo nhóm hàng
Đơn vị: %
Nhóm hàng 1991 1992 1993 1994 1995
Nông-Lâm-Thuỷ sản 52.3 49.2 50.8 50 46.3
CN nhẹ & Tiểu thủ CN 14.4 13.7 15.1 16.7 28.4

Châu Uc 7.701 10.694 56.909 103.912
Các tổ chức LHQ 1.781 23.971 539 21.588
Trị giá không phân tổ
chức
118.769 88.403 187.091 424.990
Khu chế xuất - - 225 2.625
Nguồn: Giáo trình Kinh tế Ngoại thơng, nxb Giáo dục GS,TS. Bùi Xuân Lu tr 103
Sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Liên Xô cũ và Đông Âu, cùng với nó là sự tan
rã của khối SEV đã dẫn đến những thay đổi lớn trong cơ cấu thị trờng XK của
Việt Nam thời kỳ này. Vào năm 1985 lợng hàng XK khu vực Liên Xô và các n-
ớc XHCN Đông Âu còn chiếm tới 57% tổng KNXK của cả nớc, nhng tới năm
19
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Thơm
1990 xuống 42.4%, năm 1991 giảm mạnh xuống còn 11.1% và đến năm 1995
chỉ còn 2.5% KNXK.
Sau sự sụp đổ ấy, các nớc Châu A đã nhanh chóng trở thành thị trờng XK chính,
chiếm 72.4% tổng KNXK của cả nớc, tăng gần 3.8 lần so với năm 1990. Nhờ
nỗ lực khai thông thị trờng mới, nên XK sang Châu Mỹ đã tăng nhanh chóng
15.2 lần so với năm 1990, đạt 238335 nghìn USD, làm cho KNXK sang Châu
Âu chỉ đạt ở mức khiêm tốn là 983033 nghìn USD, giảm 19% so với năm 1990.
Một số thị trờng mới khác đã NK hàng hoá của ta. Đó là những thành công lớn
mà chúng ta đã đạt đợc .
Nh vậy, cùng với các chính sách đổi mới về cơ chế và tổ chức quản lý bên
trong, các nỗ lực HNKTQT đã góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi kế
hoạch 5 năm 1991-1995. Hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch đã đợc
hoàn thành và vợt mức đề ra, điều mà trớc đó cha bao giờ đạt đợc. Tốc độ tăng
GDP bình quân mỗi năm đạt 8.2%, trong đó nông-lâm-thuỷ sản tăng 4.3%,
công nghiệp, xây dựng tăng 12.9%, dịch vụ tăng 9.1%. Sự khởi sắc của công
nghiệp đợc thực sự bắt đầu trong những năm 1990. Tốc độ tăng trởng bình quân
về giá trị SX công nghiệp đạt 13.7% vợt xa kế hoạch đã đề ra là 7.5-8.5%, trong

Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Thơm
khẩu những mặt hàng trong nớc SX có hiệu quả, tranh thủ vốn, công nghệ và thị
trờng quốc tế; mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt, song phơng và đa
phơng với các nớc, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc
lập, chủ quyền, và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc
nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi.
Chiến lợc phát triển kinh tế xã hội do Đại hội thông qua đã nêu mục tiêu của
Chơng trình phát triển kinh tế đối ngoại là: Tăng nhanh tỷ trọng hàng đã qua
chế biến trong KNXK, giảm tỷ trọng XK nguyên liệu và hàng sơ chế, và chỉ
NK những nguyên liệu, vật liệu, các loại thiết bị công nghệ đáp ứng yêu cầu
CNH-HĐH. Từng bớc thay thế NK những mặt hàng có thể SX có hiệu quả ở
trong nớc. Tiếp theo việc gia nhập ASEAN và chuẩn bị cho việc tham gia
AFTA, cần xúc tiến tham gia APEC, WTO, từng bớc tham gia các hoạt động
của Hệ thống u đãi phổ cập với các nớc đang phát triển, áp dụng các chuẩn mực
thơng mại quốc tế và lựa chọn tham gia một số hiệp hội XK quốc tế về từng mặt
hàng XK. Tranh thủ thu hút nguồn vốn ODA, FDI, tập trung chủ yếu cho việc
xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội. ĐTTTNN cần hớng vào những lĩnh
vực, những sản phẩm và dịch vụ có công nghệ tiên tiến, có tỷ lệ XK cao, có khả
năng sinh lời lớn cho nền kinh tế quốc dân.
Tuy nhiên, từ cuối năm 1996 trở đi, khi các yếu tố về đổi mới cơ chế, chính
sách, tổ chức quản lý đã đợc khai thác một cách tơng đối đầy đủ, sự phát triển
về chiều rộng đã bộc lộ những hạn chế, chất lợng tăng trởng và phát triển theo
chiều sâu cha đợc chú trọng, nền kinh tế có dấu hiệu tăng trởng chậm lại, thì
cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ bùng nổ, tác động mạnh đến nớc ta cả trên
phơng diện ĐTTTNN và thị trờng XK. Trong bối cảnh đó, thiên tai lại liên tiếp
xảy ra, làm cho tốc độ tăng trởng GDP giảm sút mạnh, từ 8.2% năm 1997
xuống còn 5.8% năm 1998 và 4.8% năm 1999. Nhịp độ tăng trởng công nghiệp-
xây dựng giảm tơng ứng từ 12.6% xuống còn 8.3% và 7.7%; dịch vụ từ 7.1%
xuống còn 5.1% và 2.3%. Trong khi đó, nông nghiệp lại có xu hớng tăng nhng
rất chậm với mức tơng ứng là từ 7.5% năm 1997 lên 15.2% 1998 và giảm xuống

XK năm 1999 tăng 23.3% so với năm 1998 lên 25.5% năm 2000. Đây là lần
đầu tiên XK của Việt Nam đạt 183USD/ngời. Đáng chú ý là năm 1998 XK đã
giảm xuống tới mức kỷ lục chỉ đạt 9360.3 tr USD (tăng 1.9%) từ 9185 tr USD
(tăng 26.6% so với năm 1996) vào năm 1997 do ảnh hởng trực tiếp cuộc khủng
hoảng tài chính ở Châu A năm 1997. Song, nhờ sự kiên định đờng lối đúng đắn
của Đảng, sự phấn đấu vơn lên của các nhà doanh nghiệp đã nâng tổng KNXK
lên 51825.6 giai đoạn 1996-2000, tăng gấp 7.14 lần so với năm 1996.
Bảng 15: XK hàng hoá của Việt Nam theo nhóm mặt hàng
Đơn vị: triệu USD
Nhóm hàng 1996 1997 1998 1999 2000
Tổng KNXK
Tỷ trọng %
7255.9
100
9185
100
9360.3
100
11541.4
100
14483
100
CN Nặng KSản
Tỷ trọng %
2085
28.7
2574
28
2609
27.9

Hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng với tốc độ vợt bậc lên
34.3% năm 2000 so với 29% năm 1996, tăng trung bình 23.6%/năm; hàng công
nghiệp nặng và khoáng sản cũng gặt hái đợc những thành công không kém, từ
28.7% năm 1996 lên 35.6% năm 2000; hàng nông-lâm-thuỷ sản đã phải nhờng
ngôi cho hàng công nghiệp, nên đã có phần giảm về tỷ trọng xuống còn 30.1%
năm 2000.
Bảng 16: Một số mặt hàng XK chủ yếu
Đơn vị: triệu USD
Hàng hoá 1996 1997 1998 1999 2000
22
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Thơm
Dầu thô 1346 1413.4 1286 2092 3570
Thuỷ sản 696.5 782 858 971 1470
Gạo 584.6 870 1016 1025 672
Cafe 336.8 490.8 594 585 486
Rau quả 90.2 71.2 52.8 105 200
May mặc 1150 1502.6 1450 1747 1825
Giày dép 530 978.4 1031 1392 1410
Hàng Điện tử, Linh kiện Máy tính 94.3 400 500 585 800
Thủ công mỹ nghệ 78.7 121 111 168 235
Nguồn: Niên giám thống kê 2002, nxb Thống kê Hà Nội 2003
Thời kỳ này xuất hiện thêm một số mặt hàng XK mới có giá trị XK tơng đối
cao nh: Hàng điện tử năm 2000 đạt 800 tr USD, tăng gấp gần 8.5 lần so với năm
1996; rau quả tăng với mức tơng ứng là 200tr USD, tăng 2.22 lần; hàng thủ
công mỹ nghệ đạt 235tr USD, tăng gần 3 lần so với năm 1996. Ngoài ra thời
gian này còn XK một số lợng lao động đáng kể, thu về một lợng kiều hối của
kiều bào gửi về góp phần phát triển kinh tế ở trong nớc.
Nh vậy với sức tăng vợt trội của dầu thô, làm cho tỷ trọng của mặt hàng CN
nặng-KS có sức tăng đột biến, các mặt hàng khác có qui mô thay đổi tơng tự,
tạo nên sự phát triển đồng đều giữa các ngành kinh tế.

9360.3
100
11541.4
100
14483
100
Châu A-TBD
5170.8 6113.9 5885.7 7195.8 9307
23
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Thơm
Tỷ trọng 71.3 66.6 62.9 62.4 64.4
ASEAN
Tỷ trọng
1776.8
24.5
2020.5
22
2349.1
25.1
2463.4
21.3
2613.8
18.1
Nhật Bản
Tỷ trọng
1546
21.3
1675.4
18.2
1482.3

Tỷ trọng
204.2
2.8
291.5
3.2
469
5.0
504
4.4
732.4
5.1
Châu Phi và Tây Nam A
Tỷ trọng
204.5
2.8
230.9
2.5
250.5
2.7
345.3
3.0
601
4.2
Các nớc khác
Tỷ trọng
373.5
5.1
181.1
2.0
00

nhiều thị trờng mới, cơ cấu hàng XK có những chuỷên biến tích cực cả về
lợng và chất. Đến năm 2000 Việt Nam đã có 12 mặt hàng XK chủ lực,
24
Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Thơm
trong đó có 5 mặt hàng XK thuộc ngành công nghiệp và công nghiệp chế
biến là: dầu thô, dệt may, giày dép, thuỷ sản, điện tử và linh kiện máy
tính. Việt Nam đã trở thành nớc XK gạo lớn thứ hai trên thế giới từ năm
1998. XK dịch vụ ngày càng trở nên phong phú và đa dạng hơn, chiếm
trên 16% tổng KNXK cả nớc. Đó là những thành tựu đáng tự hào, góp
phần nâng cao vị thế của nớc ta trên trờng quốc tế.
3. XK Hàng hoá giai đoạn từ 2001 đến nay
Tăng trởng kinh tế luôn là mục tiêu có tầm quan trọng hàng đầu của một nớc có
điểm xuất phát thấp để chống lại sự tụt hậu xa hơn về kinh tế, để tạo tiền đề
thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội khác. Giai đoạn 2001-2003 là giai đoạn
bản lề của kế hoạch 5 năm (2001-2005), giai đoạn đầu tiên của một thiên niên
kỷ mới, giai đoạn của một thế giới đang đổi thay với những biến động vô cùng
phức tạp khó lờng hết đợc nh chiến tranh, khủng bố, dịch bệnh...Song nhìn lại
những kết quả đã đạt đợc trong 3 năm qua, chúng ta có thể vui mừng nói rằng
tăng trởng kinh tế của nớc ta đã đạt đợc sự vợt trội rất ngoạn mục trong nhiều
lĩnh vực không chỉ so với những năm trớc đó mà còn so với các nớc khác trên
thế giới.
Một số minh chứng dới đây sẽ khẳng định điêù đó
Bảng 18: XK gạo của một số nớc trên thế giới
Đơn vị: 1000 tấn
Tên nớc 2000 2001 2002 2003*
Thái Lan 6549 6700 6700 -
Việt Nam 3476.7 3721 3241 4200
Mỹ 2756 2650 2700 -
Trung Quốc 2951 1800 2000 -
Ân Độ 1449 1000 1000 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status