Đề tài : Xu hướng phát triển thương mại việt nam ASEAN và một số giải pháp cơ bản phát triển xuất khẩu hàng hóa của việt nam - Pdf 13


Bé C«ng th−¬ng
TRUNG T¢M TH¤NG TIN C¤NG NGHIÖp vµ th−¬ng m¹i

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM –
ASEAN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT TRIỂN
XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM

Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thị Tú Oanh 7605
22/01/2010 Hà nội, tháng 12/2009


Hà Nội, tháng 12/2009
1

MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu:
Trong những năm vừa qua, xuất - nhập khẩu trở thành động lực quan trọng
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Việt Nam đã từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu
vực và toàn cầu với việc gia nhập ASEAN (năm 1995), ASEM (năm 1996), APEC
(năm 1998) và đặc biệt là WTO (năm 2006). Thị trường xuất - nhập khẩu của Việt
Nam được mở rộng nhưng áp lực cạnh tranh cũng ngày càng lớn. Với thị trường các
nước trong khu vực ASEAN, Việt Nam có nhiều thuận lợi do được hưởng thuế ưu
đãi, vị trí địa lý thuận tiện.
Kể từ khi Việt Nam thực hiện AFTA (năm 1996), thương mại 2 chiều của
Việt Nam và ASEAN đã có những bước phát triển mới, đặc biệt trong giai đoạn
2005-2008, tăng trưởng kim ng
ạch xuất nhập khẩu đạt bình quân trên 25%/ năm.
Mỹ, EU, ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc và Ô-xtrây-li-a là 6 thị trường xuất khẩu
lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 80% tổng khối lượng hàng hóa xuất khẩu.
Hàng nhập khẩu của Việt Nam cũng tập trung cao ở các thị trường chính như
ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, EU, Mỹ và ấn Độ. Các thị trường này chiếm tới
66% tổng kim ngạch nhập kh
ẩu. Điều này cho thấy ASEAN là một trong những đối
tác xuất nhập khẩu quan trọng của Việt Nam.
Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trước những năm khi chưa gia nhập
tổ chức này ở mức khiêm tốn và cán cân chủ yếu nghiêng về nhập siêu là chủ yếu.
Nhưng kể từ khi gia nhập vào ASEAN và tham gia thực hiện AFTA, kim ngạch xuất
nhập khẩu của Việt Nam có xu hướng t

ng mại Việt Nam – ASEAN, từ đó đề xuất
một số giải pháp cơ bản phát triển xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam là cần thiết và
có ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.
2. Mục tiêu của đề tài:
- Nghiên cứu về quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN giai đoạn 2005-2009 và
một số vấn đề đặt ra.
- Phân tích và dự báo xu hướng phát triển thương mại Vi
ệt Nam – ASEAN từ
nay đến 2015 và dự báo những tác động đến thương mại Việt Nam trong giai đoạn
từ nay đến 2015.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển xuất khẩu hàng hóa của Việt
Nam trong giai đoạn 2010-2015.
3

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1: Một số đặc điểm cơ bản của thị trường ASEAN
6
1.1 Một số đặc điểm kinh tế xã hội của ASEAN 6
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 6
1.1.2 Mục tiêu phát triển ASEAN đến 2015 13
1.2 Đặc điểm một số thị trường lớn trong ASEAN 17
1.3 Thương mại nội khối ASEA 29
1.4 Nhận xét chung về thị trường ASEAN 30
1.5
Sự cần thiết phát triển quan hệ thương mại Việt Nam -
ASEAN
32
Chương 2: Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam - ASEAN
38

Dự báo xu hướng phát triển quan hệ thương mại Việt
Nam với một số nước thành viên ASEAN đến 2015
86
3.2.1 Một số cơ sở để xây dựng dự báo 87
3.2.2
Dự báo xu hướng phát triển chung trong hoạt động
thương mại Việt Nam - ASEAN
88
3.2.3. Một số dự báo cụ thể. 89
3.3 Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu và hoàn thiện nhập khẩu 94
3.3.1 Nhóm giải pháp chung thúc đẩy xuất khẩu 94
3.3.2
Nhóm giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu tới thị trường ASEAN
từ phía Nhà nước
96
3.3.3 Giải pháp về phía doanh nghiệp 98
3.3.4 Phát triển nguồn nhân lực cho sản xuất hàng xuất khẩu 101
3.4
Một số kiến nghị thúc đẩy phát triển quan hệ thương mại
Việt Nam – ASEAN
103

5 Danh mục bảng
Tên Bảng
Trang
Bảng 1.1: Thương mại nội khối ASEAN năm 2008
29

6

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THỊ TRƯỜNG ASEAN
1.1- Một số đặc điểm kinh tế, xã hội của ASEAN
1.1.1- Quá trình hình thành và phát triển
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asia Nations,
viết tắt là ASEAN) là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các
quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, được thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967 với
5 thành viên sáng lập là Thái Lan, Inđônêxia, Malaysia, Singapore, và Philippines,
với mụ
c tiêu ban đầu là tỏ rõ tình đoàn kết giữa các nước trong cùng khu vực, đồng
thời hợp tác chống tình trạng bạo động và bất ổn tại các nước thành viên. Sau Hội
nghị Bali năm 1976, ASEAN bắt đầu chương trình hợp tác kinh tế, nhưng các hợp
tác bị thất bại cho đến giữa thập niên 1980. Hợp tác kinh tế chỉ thành công lại khi
Thái Lan đề nghị thành lập khu vực thương mại tự do năm 1991. Từ
đó đến nay,
quan hệ hợp tác trong ASEAN không ngừng được củng cố và ngày càng phát huy
vai trò, có tác động tích cực đến sự phát triển của tất cả các quốc gia trong khu vực.
Ngày nay, ASEAN đã trở thành một liên kết kinh tế ngày càng chặt chẽ, khẳng định
uy tín trên các diễn đàn quốc tế, tiêu biểu cho sự liên kết khu vực và được thế giới
đánh giá cao.
Quá trình hình thành và phát triển của ASEAN có thể chia ra các giai
đoạn chính sau:
Tuyên bố Bangkok 8 - 8-1967 mở đầu ti
ến trình hợp tác ASEAN:
Sau chiến tranh thế giới II, phong trào giải phóng dân tộc ở các quốc gia Đông
Nam Á bùng lên mạnh mẽ, chỉ hơn một thập niên đã quét sạch các thế lực thực dân
Mỹ, Hà Lan, Anh, Pháp, các nước Đông Nam Á đều giành lại độc lập, chủ quyền. Sau
khi giành độc lập, chính phủ các nước Đông Nam Á sớm có ý thức và bước đi để
thành lập những tổ chức hợp tác khu vực như

không có sự can thiệp từ bên ngoài dưới bất kỳ hình thức hoặc biểu hiện nào”…
Tuyên bố cũng nêu tôn chỉ, mục đích của hiệp hội gồm 7 điểm và cho đến
nay vẫn còn nguyên giá trị. Hiệp hội cũng mở rộng cơ hội gia nhập cho tất cả các
quốc gia ở khu vực Đông Nam Á tán thành tôn chỉ, nguyên tắc và mục đích của hiệp
hội. Từ lời tuyên bố này đến khi hiện thực hóa phải mất gần 32 năm (30/4/1999),
một chặng đường khá dài nhưng cũng cho thấy quyết tâm hình thành một ASEAN
8

gắn bó với nhau bằng tình hữu nghị và hợp tác thông qua các nỗ lực chung, cùng
đấu tranh để đảm bảo cho nhân dân các quốc gia trong khu vực và các thế hệ mai
sau được hưởng hòa bình, tự do và phồn vinh. Sự thành lập ASEAN có ý nghĩa
trọng đại, thể hiện ý chí chính trị, tầm nhìn sáng suốt của các nhà lãnh đạo ASEAN.
Phải đặt Đông Nam Á trong bối cảnh quốc tế và khu vực như thời điểm thành lập thì
mới thấy hết ý ngh
ĩa của nó, từ nhận thức đến hành động để hiện thực hóa cũng đã
phải tốn nhiều công sức và thời gian, tính bằng cả một thế hệ.
Những mốc thời gian quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của ASEAN:
Hơn bốn năm sau Tuyên bố Bangkok, ngày 27/11/1971 tại Kualar Lumpur
(Malaysia) Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao 5 nước ASEAN đã ra Tuyên bố về khu
vực Hòa bình, Tự do, Trung l
ập (Zone of Peace, Freedom and Neutrality – gọi tắt là
ZOPFAN; ZOPFAN Concept hay Tuyên bố Kualar Lumpur).
Sau tám năm rưỡi thử nghiệm hợp tác thành công, trong bối cảnh lịch sử
mới ở Đông Nam Á, Mỹ thất bại hoàn toàn trong cuộc chiến tranh Việt Nam,
cách mạng ba nước Đông Dương thắng lợi, tháng 2/1976 ASAEAN họp Hội nghị
Thượng đỉnh lần thứ I tại Bali (Inđônêxia). Các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký kết
các văn kiện quan trọng:
- Hiệp ước thân thiệ
n và hợp tác.
- Tuyên bố hòa hợp ASEAN.

thoại này dự định tiến hành trên cơ sở các diễn đàn ASEAN đã có, đặc biệt là cơ chế
hội nghị sau Hội nghị ngoại trưởng ASEAN (AMM – PMC).
Tháng 7/1992 Việt Nam, Lào đã ký Hiệp ước Bali, trở thành quan sát viên
của ASEAN.

Hội nghị AMM 28 họp ngày 28/7/1995 ở Brunei, Việt Nam chính thức gia
nhập ASEAN, trở thành thành viên chính thức thứ bảy của tổ chức này. Đó là một
bước ngoặt quan trọng của ASEAN, mở ra khả năng hiện thực tiến đến ASEAN 10.
Tháng 12/1995 Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN V họp tại Bangkok (Thái Lan). Lần
đầu tiên trong lịch sử khu vực Đông Nam Á tất cả mười nhà lãnh đạo đã gặp gỡ, ký
kết các vă
n kiện quan trọng. Các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký Hiệp ước Đông Nam
10

Á không vũ khí hạt nhân (SEANWFZ). Hội nghị Thượng đỉnh V Bangkok cũng
quyết định mở ra cơ chế Hợp tác Á – Âu (ASEM), chính thức bắt đầu từ tháng 3-1996.
Năm 1997, tuy cơn bão khủng hoảng kinh tế tài chính ập đến Đông Nam Á
nhưng ASEAN vẫn kết nạp Lào, Myanmar (7/1997) và thông qua chiến lược Tầm
nhìn 2020. Tháng 12-1998 Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị Thượng đỉnh
ASEAN VI, thông qua Chương trình hành động Hà Nội và Tuyên bố Hà Nội, xây
dựng ASEAN phát tri
ển bền vững và đồng đều, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa
các nước thành viên, đồng thời mở đầu hợp tác ASEAN + 3 (Nhật Bản, Trung Quốc,
Hàn Quốc). Ngày 30-4-1999 tại Hà Nội, ASEAN đã kết nạp Cămpuchia là thành
viên thứ 10.
Tóm lại từ đầu thập niên 1990 đến nay, sau chiến tranh lạnh, các nước Đông
Nam Á đã đạt được những mục tiêu về một khu vực Hòa bình, Tự do, Trung lập và
không vũ khí hạt nhân. Đồ
ng thời ASEAN còn đề xướng và lãnh đạo một cơ chế an
ninh tập thể là ARF quy tụ tất cả các cường quốc châu Á – Thái Bình Dương tham

- Cộ
ng đồng an ninh ASEAN (ASC).
- Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC).
- Cộng đồng văn hóa – xã hội ASEAN (ASCC).
Từ năm 2004 đến đầu năm 2007 các Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN X, XI,
XII, Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao, kinh tế… đều nhất trí đẩy nhanh tiến trình xây
dựng Cộng đồng ASEAN, rút ngắn 5 năm, đến năm 2015, soạn thảo Hiến chương
ASEAN Một động thái đáng chú ý là tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN X tại
Viên chăn (Lào, 11/2004) thông qua Chương trình hành động vì ASC (VAP) đã nêu
ra những bước đi khá cụ thể gồm 6 điểm, những giải pháp thực hiện… Trong
chương trình này lần đầu tiên ASEAN dùng lời lẽ khá mạnh “sẽ không dung thứ cho
thay đổi chính phủ một cách phi dân chủ và không hợp hiến hoặc sử dụng lãnh thổ
của các nước thành viên để tiến hành bất cứ hành động nào làm tổn hại tới hòa bình
và ổn định của các quốc gia thành viên khác”
ASEAN đã trải qua chặng đường hơn 40 năm đầy tự hào. Từ một tổ chức
gồm 5 nước liên kết với nhau còn lỏng lẻo, đến nay Hiệp hội gồm 10 nước gắn kết
khá chặt chẽ với nhau, hướng đến một cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột là Cộng
đồng an ninh (ASC), Cộng đồng kinh tế (AEC), Cộng đồng văn hóa – xã hội
(ASCC). Chắc chắn ASEAN sẽ tiếp tục phát huy vai trò của mình là người kiến tạo
12

hòa bình an ninh cho khu vực Đông Nam Á, rộng hơn là châu Á – Thái Bình Dương
trong thế kỷ XXI theo phong cách riêng của mình, xây dựng Đông Nam Á phát triển
thịnh vượng, đùm bọc lẫn nhau. Trong những ngày kỷ niệm 40 năm thành lập
ASEAN, Hội nghị AMM 40 họp tại Manila (Philippines) từ 29/7 đến 2/8/2007 đã
bàn bạc và quyết định những vấn đề quan trọng như thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác, hội
nhập khu vực, hướng tới xây dựng thành công Cộng đồ
ng ASEAN vào năm 2015,
các vấn đề chính trị và an ninh trong Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) 14. Đặc biệt
Hội nghị này đã hoàn tất, thông qua dự thảo Hiến chương ASEAN để trình Hội nghị

như phải đối phó với những thách thức không nhỏ. Sự trỗi dậy của Trung Quốc và
s
ự cạnh tranh quyền lực giữa họ và Nhật Bản và Mỹ ở Đông Nam Á, vấn đề biển
Đông và hàng loạt thách thức an ninh phi truyền thống như xung đột tôn giáo, sắc
tộc, buôn bán ma túy, vũ khí…, các căng thẳng song phương giữa các nước thành
viên đã khiến cho môi trường an ninh khu vực trở nên bấp bênh. Về phương diện
kinh tế, nguy cơ tái bùng nổ khủng hoảng vẫn tiềm ẩn. Mặc dù buôn bán nội địa
tăng lên, nhưng tỷ trọng buôn bán nội khối trong tổng buôn bán quốc tế của ASEAN
vẫn chỉ chiếm 25%, tức là không cao hơn đáng kể so với trước khi AFTA được xây
dựng. Nếu tình hình trên không được cản thiện, ASEAN có thể bị tụt hậu về kinh tế
và mất vai trò chính trị trong khu vực châu Á.
Nhận thức được điều đó, ngay từ đầu thế kỉ XXI, Tổng thống Philipphin
Gloria Macapagal Arroyo đã khẳ
ng định “ Trong một thế giới bất ổn về an ninh và
biến động liên tục về kinh tế, từng nước riêng rẽ Đông Nam Á, ngay dù rộng lớn
như Inđônêxia hay tiên tiến về kinh tế như Singapore, không thể có hòa bình, không
thể phát triển, không thể hy vọng thịnh vượng, không thể có niềm tin vào tương lai,
trừ khi cùng sát cánh bên nhau, góp chung của cải, chia sẻ ngày càng nhiều các mối
quan tâm chung, tin tưởng lẫn nhau và ngày càng nói chung một tiếng nói trên các
diễn dàn của thế
giới”.
Khẳng định trên của Tổng thống Philipphin đã nhận được sự chia sẻ, đồng
thuận của các nhà lãnh đạo các nước thành viên ASEAN. Chính khẳng định đó đã
thúc đẩy ASEAN tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 9 ở Bali tháng
12/2003. Tại hội nghị các nhà lãnh đạo khu vực đã tập trung thảo luận về những vấn
14

đề thuộc mối ngại quan chung của tất cả các nước thành viên, kể cả những phát triển
chính trị và kinh tế, đặc biệt là tình hình mới nhất ở Bán đảo Triều Tiên, những nguy
cơ mới về chủ nghĩa khủng bố và vấn đề Irac, vấn đề Trung Đông. Để đạt được


Về cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) mục đích thành lập được xác định là:
1) Tăng cường khả năng cạnh tranh của ASEAN, cải thiện môi trường đầu tư.
2) Thu hẹp khoảng cách phát triển của các nước ASEAN và đạt được sự hội
nhập kinh tế sâu hơn trong khu vực.
Cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ được đặc trưng bởi một thị trường duy nhất,
một cơ s
ở sản xuất chung với sự tự do di chuyển hàng hóa, dịch vụ, dòng vốn đầu
tư, cũng như sự di chuyển tự do của các doanh nhân và lực lượng lao động, nhất là
lao động có kỹ năng. Để thực hiện hóa AEC, ASEAN dự định đẩy nhanh việc thực
hiện các biện pháp tự do hóa và tăng cường liên kết khu vực, thúc đẩy quá trình hợp
tác và hội nhập trong các lĩnh vực khác, bao gồm phát triển nguồ
n nhân lực và xây
dựng năng lực thể chế, công nhận chất lượng giáo dục của nhau, tham khảo chặt chẽ
hơn về chính sách kinh tế vĩ mô tài chính, các biện pháp hỗ trợ tài chính trong
thương mại, tăng cường liên kết hạ tầng cơ sở và thông tin liên lạc, phát triển giao
dịch điện tử thông qua ASEAN điện tử, liên kết các nền kinh tế xuyên biên giới, tạo
điều kiện để phân b
ố hợp lý các nguồn nhân lực và tăng cường sự tham gia của khu
vực tư nhân.
Do sự phát triển không đồng đều của các nước thành viên đặc biệt về kinh tế,
để xây dựng AEC, ASEAN khẳng định có thể áp dụng cách tiếp cận 2 + X, bên cạnh
công thức ASEAN – X. Cách tiếp cận 2 + X có nghĩa là khi hai nước có điều kiện
đẩy nhanh hợp tác trong một số lĩnh vực cụ thể, trong khi các nước khác chưa sẵn
sàng, thì họ
có thể thực hiện trước không cần sự tham gia của tất cả các nước thành
viên ASEAN.
Xây dựng AEC trong bối cảnh có sự chênh lệch về trình độ phát triển và chủ
nghĩa dân tộc về kinh tế vẫn tiếp tục là nhân tố chi phối quá trình hoạch định chính
sách hội nhập khu vực của nhiều nước thành viên, nên việc hiện thực hóa AEC với

để
xây dựng một thị trường ASEAN thống nhất bao gồm: hài hòa hóa các tiêu chuẩn
sản phẩm (hợp chuẩn) và qui chế, giải quyết nhanh chóng hơn các thủ tục hải quan
và thương mại, và hoàn chỉnh các quy tắc về xuất xứ.
Các biện pháp để xây dựng một cơ sở sản xuất ASEAN thống nhất sẽ bao
gồm: củng cố mạng lưới sản xuất khu vực thông qua nâng cấp cơ sở h
ạ tầng, đặc
17

biệt là trong các lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải, công nghệ thông tin và
viễn thông, và phát triển các kỹ năng thích hợp.
Các biện pháp nói trên đều đã và đang được các nước thành viên ASEAN
triển khai trong khuôn khổ các thỏa thuận và hiệp định của ASEAN. Như vậy, AEC
chính là sự đẩy mạnh những cơ chế liên kết hiện có của ASEAN, như Hiệp định
Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Khung ASEAN về Dị
ch vụ
(AFAS), Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA), Hiệp định Khung về Hợp tác Công nghiệp
ASEAN (AICO), Lộ trình Hội nhập Tài chính và Tiền tệ ASEAN, v.v…, để xây
dựng ASEAN thành “một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất”. Nói cách khác,
AEC là mô hình liên kết kinh tế khu vực dựa trên và nâng cao những cơ chế liên kết
kinh tế hiện có của ASEAN có bổ sung thêm hai nội dung mới là tự do di chuyển lao
động và di chuyển vốn tự do hơn.
1.2- Đặc
điểm một số thị trường lớn trong ASEAN
1.2.1 Những đặc điểm chung về tự nhiên, xã hội
Về vị trí địa lý – khí hậu: Các quốc gia Đông Nam Á nằm ở vùng đất tận
cùng về phía Đông Nam của lục địa Châu Á. Đây là một khu vực địa lý thuộc vùng
khí hậu nhiệt đới ẩm, chịu sự chi phối mạnh mẽ của gió mùa bao gồm 10 quốc gia
với diệ
n tích gần 4.500.000 km2, với hơn nửa tỷ dân cư đang sinh sống. Khu vực địa

trên thế giới về diện tích đất liền. Mật độ dân số trung bình là 134 người trên
kilômét vuông, đứng thứ 79 trên thế giới, dù Java, hòn đảo đông dân nhất thế giới,
có mật độ dân số khoảng 940 người/km2. Độ ẩm nói chung cao, trung bình khoảng
80%. Nhiệt độ ít thay
đổi trong năm, khoảng nhiệt độ ngày trung bình tại Jakarta là
26–30 °C . Rừng nhiệt đới ẩm chiếm gần 2/3 diện tích lãnh thổ. Đất canh tác, đồng
cỏ 10%, rừng và cây bụi 67%, các đất khác 15%. Khoáng sản chính: dầu khí, thiếc,
niken, bauxit, đồng, than, vàng, bạc.
+ Philippines: là một quần đảo với 7.107 hòn đảo với tổng diện tích đất liền
gần 300.000 kilômét vuông, nằm giữa 116°40' và 126°34' đông, và 4°40' và 21°10'
bắc, giáp với Biển Philippines ở phía đông, Biển Nam Trung Quốc ở phía tây, và
Biển Celebes ở phía bắc. Đảo Borneo nằm cách vài trăm kilômét về phía tây nam và
Đài Loan thẳng phía bắc. Moluccas và Sulawesi ở phía nam và Palau ở phía đông
19

phía trên Biển Philippines. Thông thường quốc đảo này được chia thành ba nhóm
đảo: Luzon, Visayas và Mindanao. Cảng biển đông đúc Manila, ở Luzon, là thủ đô
quốc gia và là thành phố lớn thứ hai sau vùng ngoại ô của nó là Thành phố Quezon.
Khí hậu của Philippines nóng, ẩm, nhiệt đới. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng
26,5°C. Philipphin có ba mùa chính, tháng nóng hay mùa hè từ tháng 3 đến tháng 5,
mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 11 và mùa lạnh từ tháng 12 đến tháng 2.
+ Việt Nam: Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, thuộc vùng Đông
Nam châu Á. Lãnh thổ Vi
ệt Nam chạy dọc bờ biển phía đông của bán đảo này.Việt
Nam có biên giới đất liền với Trung Quốc (1.281 km), Lào (2.130 km) và
Cămpuchia (1.228 km) và bờ biển dài 3.444 km tiếp giáp với vịnh Bắc Bộ, biển
Đông và vịnh Thái Lan. Việt Nam có diện tích 331.212 km², bao gồm khoảng
327.480 km² đất liền và hơn 4.200 km² biển nội thủy, với hơn 2.800 hòn đảo, bãi đá
ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyề
n kinh tế và

c hiện đang là lợi thế của các nước trong việc hấp dẫn đầu tư của nước ngoài.
Điều này cũng khiến cho các nước ASEAN, ngoại trừ Singapore lựa chọn mô hình
phát triển dựa trên nguồn lao động dư thừa.
Văn hoá đa dạng, phong phú:
Các nước ASEAN, trừ Thái Lan đều trải quan giai đoạn lịch sử thuộc địa của
Phương tây và giành được độc lập vào các thời đi
ểm khác nhau sau Chiến tranh thế
giới thứ 2. Mặc dù ở cùng một khu vực địa lý, song các nước ASEAN có sự khác
biệt về chủng tộc, tôn giáo và văn hóa tạo thành một khối ASEAN đa sắc tộc, đa
dang và phong phú về văn hóa.
Văn hóa Thái Lan chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các tư tưởng đạo Phật - tôn giáo
chính thức ở đất nước này xuất phát từ nền sản xuất phụ thuộc vào nguồn n
ước. Có
thể thấy rõ hai điểm trên qua các ngày lễ hội. Trong văn hóa ứng xử, người Thái tỏ
rõ sự sùng đạo, tôn kính hoàng gia và trọng thứ bậc cũng như tuổi tác.
Inđônêxia có khoảng 300 nhóm sắc tộc, mỗi nhóm có văn hóa khác biệt và đã
phát triển qua nhiều thế kỷ, với ảnh hưởng từ Ấn Độ, Ả Rập, Trung Quốc, Malaysia
và Châu Âu.
Malaysia là một xã hội đa sắc tộc, đa vă
n hóa và đa ngôn ngữ, gồm 52%
người Malay và các bộ tộc bản xứ khác, 30% người Trung Quốc, 8% người Ấn Độ.
Người Malay, là cộng đồng lớn nhất, được xác định là những tín đồ Hồi giáo trong
21

Hiến pháp Malaysia. Người Malay đóng vai trò thống trị trong chính trị và được tính
gộp trong một nhóm gọi là bumiputra. Tiếng mẹ đẻ của họ là tiếng Malay. Tiếng
Malay là ngôn ngữ chính thức quốc gia. Nhóm bản xứ không Malay lớn nhất là
người Iban tại Sarawak với số lượng hơn 600.000 người. Một số người Iban vẫn
sống trong các ngôi nhà dài truyền thống trong rừng già dọc theo các con sông
Rajang và Lupar và các phụ lưu của chúng, dù nhiều người đã tới số

kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm khoảng 47% tổng dân số. Tuy nhiên sự
phân hóa này không đồng đều: Nhóm các nước trong đó nông nghiệp, nông thôn giữ
vai trò kinh tế - xã hội một cách rõ rệt là Lào với 78,9% dân số sống ở nông thôn và
75,8% dân số hoạt động nông nghiệp, Myanmar với 70,0% và 69,0%, Cămpuchia
80,8% và 68,5%, Việt Nam 73,8% và 65,7%. Nhóm các nước có tỉ lệ dân số sống tại
nông thôn và có hoạt động nông nghiệp tương đối thấp hơn gồm Thái Lan với
67,9% và 45,8%, Inđônêxia v
ới 53,2% và 41,5%, Philippin với 38,2% và 37,0%.
Nhóm các nước mà tính chất đô thị và công nghiệp nổi bật hơn hẳn là Singapore với
0% dân số sống ở nông thôn, 0,12% dân số hoạt động nông nghiệp, Brunây với
23,2% và 0,6% và Malaysia với 35,1%-15,0%. Về cơ bản, ASEAN là một khu vực
có dân số trẻ và có nhiều tiềm năng về lao động với 50,6% dân số nằm trong độ tuổi
lao động. Mức này cao hơn mức chung của thế giới là 49,0% trong năm 2008.
Những nướ
c có tỷ lệ này cao hơn mức chung của khu vực là Thái Lan 59,7%,
Myanmar 54,7% và Việt Nam là 53,4%. Tỷ lệ lao động trong độ tuổi lao động trong
nông nghiệp còn cao hơn: 54,4%. Tương tự như tỷ trọng của dân số nông nghiệp
trong tổng dân số, tỷ trọng của dân số trong độ tuổi lao động có hoạt động nông
nghiệp trong tổng dân số trong độ tuổi lao động phản ánh rõ vai trò của nông nghiệp
tại mỗi quốc gia. Tuy nhiên, mức độ
chênh lệch đang có chiều hướng giảm xuống
với chỉ hai nhóm nước thay vì ba như ở trên: Nhóm các nước có tỷ lệ lao động trong
độ tuổi lao động có hoạt động nông nghiệp ít nhất là Singapore với 0,09%, Brunây
với 0,6% và Malaysia với 15,9%. Nhóm các nước còn lại đều có tỷ lệ này từ 37% đến
gần 76%. Việt Nam là một trong những nước có tính chất nông nghiệp cao nhất khu
vực với Dân số nông thôn là 73,8%; Dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghi
ệp là
65,7% và dân số trong độ tuổi lao động hoạt động trong nông nghiệp là 65,7%.
Sự phát triển kinh tế giữa các quốc gia trong khu vực không đồng đều:
Vào những năm 1970, các nước Đông Nam Á có trình độ phát triển kinh tế

Tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào xuất khẩu:
Kinh tế nhiều nước trong ASEAN phầ
n lớn tăng trưởng dựa vào xuất khẩu,
nhất là xuất khẩu sang các thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản và EU. Hiện nay đa số
các nền kinh tế trong ASEAN thuộc nhóm 50 nước xuất khẩu lớn nhất thế giới.
Trong đó, Malaysia xuất khẩu bằng 100% GDP, Singapore xuất khẩu bằng 200%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status