BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC
KX.01/06-10
************O0O************
BÁO CÁO TỔNG QUAN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CẤP NHÀ NƯỚC
Tên đề tài:
QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ
CỦA VIỆT NAM VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU
Mã số: KX.01.04/06-10
Cơ quan chủ trì: Viện Nghiên cứu Châu Âu
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Quang Thuấn
Phó chủ nhiệm đề tài: GS.TS Bùi Huy Khoát
Thư ký đề tài: Ths. Đặng Minh Đức 7912 HÀ NỘI - 2009
NHỮNG NGƯỜI THAM GIA CHÍNH
1. PGS.TS Nguyễn Quang Thuấn
mới 16
2. Những quan điểm lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam v
ề hoạt động
kinh tế đối ngoại trong tiến trình đổi mới 34
3. Nhìn nhận lại những lợi thế và bất lợi thế của Việt Nam trong quan hệ
kinh tế với Liên minh Châu Âu 42
CHƯƠNG II. LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA MỘT
THỊ TRƯỜNG PHÁT TRIỂN CAO 50
1. Liên minh Châu Âu - liên kết khu vực ở trình độ cao 51
2. Những đặc điểm và yêu cầ
u của thị trường Liên minh Châu Âu 68
CHƯƠNG III. KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN HỢP TÁC KINH TẾ CỦA
MỘT SỐ NƯỚC VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU 83
1. Quan hệ hợp tác kinh tế Liên bang Nga - Liên minh Châu Âu 83
2. Quan hệ kinh tế của các nước Châu Phi với Liên minh Châu Âu 90
3. Quan hệ kinh tế Trung Quốc - Liên minh Châu Âu 96
4. Quan hệ hợp tác kinh tế ASEAN – Liên minh Châu Âu 103
5. Nhận xét chung 111
PHẦN HAI. THỰC TRẠNG QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ CỦA VI
ỆT
NAM VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU GIAI ĐOẠN TỪ 1995 ĐẾN NAY 116
CHƯƠNG IV. QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ LIÊN
MINH CHÂU ÂU GIAI ĐOẠN TỪ 1995 ĐẾN NAY 117
1. Quan hệ thương mại Việt Nam – EU giai đoạn 1995 – 2000 117
2
2. Quan hệ thương mại giữa Việt Nam – EU từ 2001 đến nay 120
3. Quan hệ thương mại giữa Việt Nam với một số nước thành viên chủ chốt
của Liên minh Châu Âu 123
4. Quan hệ thương mại Việt Nam – Liên minh Châu Âu trong một số lĩnh
2. Châu Âu trong chiến lược của các nước lớn 260
3. Châu Á trong xu hướng hình thành Cộng đồng kinh tế Đông Á 266
4. Việt Nam trong xu thế tiến tới nước công nghiệp hóa mới 270
3
CHƯƠNG IX. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ KINH TẾ CỦA
VIỆT NAM VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU ĐẾN 2020 275
1. Thúc đẩy quan hệ chính trị - ngoại giao làm tiền đề đẩy mạnh sự hợp tác
trong lĩnh vực kinh tế 276
2. Mở rộng quan hệ kinh tế - thương mại trên cơ sở hai bên cùng có lợi và
cùng phát triển, làm nền tảng của sự hợp tác bền vững và lâu dài giữa Việt
Nam và EU 277
3. Thúc đẩy quan hệ hợp tác trong một số lĩnh vực ưu tiên: 279
4. Đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các nước thành viên của EU 283
CHƯƠNG X. NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUAN HỆ KINH TẾ
VIỆT NAM VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU GIAI ĐOẠN TỪ NAY ĐẾN 2020 286
1. Xây dựng chiến lược hợp tác toàn diện với EU 287
2. Về quan hệ thương mại 297
3. Về quan hệ đầu tư tr
ực tiếp nước ngoài 305
4. Về quan hệ hợp tác phát triển 311
5. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 316
KẾT LUẬN 320
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 322
Ngân hàng Trung ương Châu Âu
ECSC
Cộng đồng Than và Thép Châu Âu
EEC
Cộng đồng kinh tế Châu Âu
EFTA
Khu vực mậu dịch tự do Châu Âu
EMI
Viện tiền tệ Châu Âu
EMS
Hệ thống tiền tệ Châu Âu
EMU
Liên minh kinh tế và tiền tệ
EPA
Hiệp định đối tác kinh tế
EU Liên minh Châu Âu
Euratom
Cộng đồng Năng lượng Nguyên tử Châu Âu
Europol
Văn phòng cảnh sát Châu Âu
Eurostat
Cơ quan thống kê Châu Âu
FDI
Đầu tư trực tiế
p nước ngoài
FP7
Chương trình khoa học và công nghệ khung lần thứ 7 của EU giai đoạn
2007-2013
FTA
Hiệp định tự do thương mại
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ Việt Nam
SMEs
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
SNG
Cộng đồng các quốc gia độc lập
TEC Hiệp ước về hình thành C
ộng đồng Châu Âu
TEU
Hiệp ước về hình thành Liên minh Châu Âu
TNCs
Các công ty xuyên quốc gia
TREATI
Sáng kiến thương mại xuyên khu vực EU - ASEAN
VAT
Thuế giá trị gia tăng
WB
Ngân hàng thế giới
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
6
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1. Thâm hụt thương mại của EU với Nga trong giai đoạn 2001-
2007 85
Bảng 3.2. Lượng vốn FDI của EU vào Nga giai đoạn 2004- 2007 87
Bảng 3.3. Vốn FDI của Nga vào EU giai đoạn 2004-2007 88
Biểu 3.1. Thương mại hàng hóa của EU27 với Trung Quốc 98
Biểu đồ 3.2. Thương mại hàng hóa EU-ASEAN 107
7
Biểu đồ 5.3. Vốn FDI đầu tư mới của EU vào Việt Nam 159
Bảng 5.4. Các dự án đầu tư của EU qua các thời kỳ 159
Bảng 5.5. Quy mô vốn đầu tư của EU qua các thời kỳ 160
Biểu đồ 5.4. Qui mô vốn/dự án FDI của một số đối tác ở Việt Nam 161
Biểu đồ 5.5. Cơ cấu vốn FDI theo tổng vốn thực hi
ện ở Việt Nam 161
Biểu đồ 5.6. Vốn đầu tư và thực hiện của các nước EU 162
Biểu đồ 5.8. Đầu tư mới của Hà Lan vào Việt Nam 171
Biểu đồ 5.7. Đầu tư mới của Pháp ở Việt Nam 167
Biểu đồ 5.9. Đầu tư mới của Anh tại Việt Nam 173
Biểu đồ 5.10. Đầu tư m
ới của Đức tại Việt Nam 175
Bảng 5.6. So sánh môi trường đầu tư của Việt Nam và ASEAN/Ấn Độ so
với Trung Quốc 183
Hình 6.1. Mối quan hệ giữa một số chương trình phát triển và chương
trình hiệu quả hỗ trợ tại Việt Nam 189
Hình 6.2. Cam kết và giải ngân của EU từ 2004 - 2006 218
Bảng 6.1. Giải ngân ODA của Ủy ban Châu Âu - EC cho Vi
ệt Nam trong
giai đoạn 2002 – 2006 218
Hình 6.3. Hoạt động hợp tác của EU theo lĩnh vực năm 2006 222
Hình 6.4. Giải ngân của EU theo loại hình trợ giúp năm 2006 222
Hình 6.5. Giải ngân ODA của EU theo vùng năm 2006 223
Bảng 6.2. Giải ngân ODA của Pháp trong giai đoạn 2002 – 2006 224
Bảng 6.3. Giải ngân ODA của Anh trong giai đoạn 2002 – 2006 225
Bảng 6.4. Giải ngân ODA của Đức trong giai đoạn 2002 – 2006
226
Bảng 6.5. Giải ngân ODA của Thụy Điển trong giai đoạn 2002 – 2006 227
Bảng 7.1. Số lượng khách du lịch châu Âu đến Việt Nam 242
lần đầu tiên Chiến lược đối với khu vực ASEAN (năm 2003) còn phía Việt Nam
cũng công bố Quyết định của Thủ t
ướng Chính phủ về việc xây dựng quan hệ đối
tác chiến lược với EU. Tuy nhiên, chính sự phát triển mạnh mẽ quan hệ hợp tác
kinh tế song phương này đã cho thấy một số vấn đề cần được nhận thức đầy đủ và
xác định chiều hướng xử lý thỏa đáng. Đó là các vấn đề về tiềm năng phát triển
quan hệ giữa hai bên, vấn đề cán cân thương mạ
i, chống bán phá giá, vấn đề trợ
cấp của nhà nước, yêu cầu mở cửa thị trường và cải thiện môi trường kinh doanh
cân bằng hai phía, vấn đề đối với Việt Nam trong việc tận dụng và nâng cao hiệu
quả sử dụng các ưu đãi thương mại của EU dành cho các nước đang phát triển,
vấn đề thu hút và sử dụng vốn đầu tư từ EU ở Việt Nam hiện nay v.v… Chính vì
vậ
y, việc nghiên cứu đề tài “Quan hệ hợp tác kinh tế của Việt Nam với Liên minh
Châu Âu” hiện nay vừa có ý nghĩa lý luận cơ bản vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp
bách.
9
2. Tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu ngoài nước:
Trên các sách báo nước ngoài (xuất bản ở Châu Âu, Hoa Kỳ, Trung Quốc)
hiện có tại Trung tâm tư liệu Châu Âu (cơ sở dữ liệu do Ủy ban Châu Âu tài trợ)
thuộc Viện Nghiên cứu Châu Âu – nơi được coi là lưu trữ đầy đủ nhất các tư liệu
về EU của nước ta mà chúng tôi tiếp cận được chưa thấy có công trình nghiên cứu
nào có chủ đề Quan hệ h
ợp tác kinh tế Việt Nam – EU. Gần gũi nhất với chủ đề
này chỉ có một số sách, chương sách và tư liệu đề cập đến quan hệ của EU với các
nước đang phát triển nói chung và với một số nhóm quốc gia như khối ACP,
ASEAN, ASEM, MERCOSUR v.v…Những công trình này tuy không đề cập đến
quan hệ kinh tế Việt Nam – EU nhưng đều là những tư liệu bổ ích cho việc nghiên
t cách rộng rãi ở hình thức các ấn phẩm mà chỉ được lưu trữ như các tài
liệu tham khảo hoặc được công bố từng phần qua các bài viết đăng trên các tạp chí
khoa học chuyên ngành. Do đó tầm ảnh hưởng và ý nghĩa thực tiễn bị hạn chế
nhất định. Vì vậy có thể xem các công trình này, bất kể được thực hiện ở đâu như
là bước chuẩn bị cho việc ra đời công trình l
ớn hơn đáp ứng yêu cầu cơ bản và cấp
bách về việc hình thành chiến lược hợp tác kinh tế của Việt Nam với EU trong bối
cảnh ngày nay.
Trong số các công trình đề cập trên có một số công trình tiêu biểu đáng
quan tâm hơn cả. Cuốn sách “Thúc đẩy quan hệ thương mại - đầu tư giữa Liên
hiệp Châu Âu và Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI” do GS. Bùi Huy
Khoát chủ biên, là kết quả nghiên cứu ở
tầm đề tài cấp bộ có sự hợp tác của các
cán bộ của Viện Nghiên cứu Thương mại – Bộ Công thương.
Cuốn sách “Thị trường Châu Âu và khả năng đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa
của Việt Nam sang thị trường Châu Âu giai đoạn 2001-2010 của PGS.TS Vũ Chí
Lộc và GS.TS. Nguyễn Thị Mơ là kết quả nghiên cứu đề tài cấp nhà nước “Luận
cứ khoa học xây dựng chiến lượ
c đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
sang thị trường Châu Âu giai đoạn 2001-2010”. Mục tiêu chủ yếu của đề tài này là
xác lập luận cứ khoa học cho việc xây dựng chiến lược cụ thể đẩy mạnh xuất khẩu
hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU và SNG giai đoạn 2001-2010.
Hai công trình trên được hoàn thành trong bối cảnh khu vực Châu Á vừa
thoát ra khỏi khủng hoảng tài chính và sự suy giảm của quan hệ kinh tế
- thương
mại quốc tế. Liên minh Châu Âu vừa công bố chiến lược Châu Á mới và chưa có
sự điều chỉnh chiến lược này cũng như chưa có chiến lược đối với ASEAN. Trong
khi đó Việt Nam chưa thúc đẩy các cuộc đàm phán gia nhập WTO với các đối tác
nói chung và với EU nói riêng, nhà nước chưa có chủ trương xây dựng chiến lược
quan hệ với đối tác EU cũng như chưa bị lôi cuố
Mục tiêu chủ y
ếu của đề tài này tập trung làm rõ chính sách, đường lối đối ngoại
nói chung của Việt Nam trong quan hệ hợp tác với các quốc gia Châu Âu.
Một số đề tài nghiên cứu cấp Bộ như “Chiến lược mới của EU đối với
Đông Nam Á và đối sách của Việt Nam”, do GS.TS Bùi Huy Khoát chủ nhiệm,
nghiệm thu năm 2004. Đề tài này tập trung phân tích chiến lược mới của EU đối
với các nước Đông Nam Á (2003), chiến lược của EU đ
ã tạo ra những cơ hội và
thách thức trong việc phát triển quan hệ hợp tác kinh tế của các nước Đông Nam
12
Á nói chung và Việt Nam nói riêng với EU, đặc biệt nhấn mạnh những đối sách
của Việt Nam trước chiến lược mới của EU đối với khu vực Đông Nam Á.
Đề tài “EU mở rộng và tác động đến thế giới và Việt Nam” do PGS.TS
Nguyễn Quang Thuấn chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2004. Đề tài này tập trung
phân tích những tác động của việc Liên minh Châu Âu mở rộng với việc kết nạp
10 nước thành viên Đông, Trung Âu và vùng Ban Tích (1/5/2004) đố
i với thế giới
nói chung và quan hệ Việt Nam – EU nói riêng.
Nói tóm lại, những nghiên cứu về các vấn đề trong quan hệ của Việt Nam
với EU khá nhiều. Tuy nhiên chưa có công trình nào có nội dung giống với Đề tài
cũng như cách đặt vấn đề của Đề tài. Việc nghiên cứu quan hệ hợp tác kinh tế của
Việt Nam với EU được thể hiện trong đề tài này được cho là khá toàn diện và sẽ
bổ sung cho hệ thống nghiên cứu quan h
ệ kinh tế quốc tế của Việt Nam.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam với Liên
minh châu Âu từ năm 1995 đến nay, đề tài sẽ làm rõ cơ sở lý luận và xây dựng các
luận cứ khoa học – thực tiễn cho việc hoạch định chiến lược phát triển hợp tác
kinh tế của Việt Nam với EU trong giai đoạn từ nay đến 2020. Cụ th
đưa ra những định hướng và gi
ải pháp phát triển quan hệ hai bên trong tầm nhìn
đến năm 2020.
5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài tiếp cận theo phương pháp truyền thống: từ khảo sát thực tiễn đi đến
xem xét, soi sáng lý luận và trở lại làm sáng tỏ, chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Tuy
nhiên, điểm mới ở đây là cách tiếp cận toàn diện, đồng bộ đối tượng nghiên cứu
và tìm kiếm khâu đột phá trong xử lý tình huố
ng để tìm ra các giải pháp tối ưu
trên cơ sở tận dụng tối đa ưu thế mà các phương tiện thông tin tiên tiến mang lại.
Hướng giải quyết các vấn đề của đề tài là dựa trên các kết quả nghiên cứu lý luận
và tổng kết thực tiễn thông qua nghiên cứu tài liệu. Với phương pháp này, đề tài
chủ yếu sử dụng các kỹ thuật phân tích, tổng hợp, so sánh và diễn giải. Hướng gi
ải
quyết tiếp theo là sử dụng phương pháp chuyên gia thông qua các buổi tọa đàm
lấy ý kiến chuyên gia cũng như tiến hành phỏng vấn sâu các nhà khoa học. Một
phương pháp khác được sử dụng là khảo sát thực tế bao gồm cả khảo sát trong
nước và nước ngoài, đồng thời đề tài cũng tiến hành phỏng vấn sâu các nhà hoạch
định chính sách, các doanh nghiệp hoạt động liên quan đến quan hệ với EU nhằm
tìm hiểu thực t
ế quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với EU. Phương pháp này sẽ bổ
sung cho hai hướng giải quyết trên, giúp cho việc đánh giá vấn đề được chính xác
hơn.
14
6. Nội dung nghiên cứu
Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, nội dung của đề tài được chia
thành 3 phần cơ bản sau:
Phần một: “Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển quan hệ kinh tế Việt Nam
– EU”. Phần này sẽ làm rõ những vấn đề lý thuyết là cơ sở phát triển quan hệ kinh
sau: thứ nhất, xem xét tổng quan các lý thuyết liên quan tới phát triển quan hệ
kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa, trong đó cũng phân tích tổng quan các
quan điểm, đường lối phát triển kinh tế Việt Nam; thứ hai, tập trung vào phân tích
toàn diện EU với đặc thù vừa không phải là m
ột quốc gia vừa ngày càng mang
tính chất một quốc gia; thứ ba, phân tích kinh nghiệm phát triển hợp tác kinh tế
của một số nước với EU từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN QUAN HỆ KINH TẾ CỦA VIỆT NAM
VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU
Việc hình thành Liên minh châu Âu cũng như sự phát triển các quan hệ
kinh tế quốc tế hiện nay được cho là có sự đóng góp rất lớn của các lý thuyết cổ
vũ thương mại quốc tế. Ngay từ thế kỷ XVII và XVIII, những nhà kinh tế học
Trọng thương đã đưa ra những quan điểm trong đó nhấn mạnh phát triển nền xuất
khẩu của quốc gia, coi đó là phương thức t
ạo ra của cải cho xã hội. Như vậy sức
mạnh và sự giàu có của quốc gia sẽ tăng lên nếu quốc gia đó xuất khẩu được
nhiều
(1)
. Tất nhiên lý thuyết này có cách nhìn thiên lệch, chỉ coi trọng xuất khẩu
mà không chấp nhận nhập khẩu. Các lý thuyết mới sau này nối tiếp nhau ra đời
1
Lập luận của các học giả trọng thương còn có nhiều hạn chế. Chẳng hạn như việc coi vàng bạc như là
hình thức của cải duy nhất của các quốc gia, gắn mức cung tiền tệ cao với sự thịnh vượng của quốc gia. Coi
thương mại là một trò chơi có tổng bằng không là sai lầm. Các học giả này chưa giải thích được cơ cấu
hàng hóa trong thương mại quố
ế quốc tế trong bối cảnh mới
1.1. Các lý thuyết mậu dịch mới
Như đã phân tích, lý thuyết thương mại quốc tế gần như bị thống trị bởi
khái niệm lợi thế so sánh cho tới những năm 1970 của thế kỷ trước, mà có thể
định nghĩa là một quan điểm cho rằng các quốc gia trao đổi để thu được lợi thế từ
sự khác biệ
t của họ. Trong các mô hình chính thức, các nền kinh tế được giả định
là có đặc tính lợi thế không đổi theo qui mô và cạnh tranh hoàn hảo. Theo những
giả thiết này, mậu dịch diễn ra là do các quốc gia khác biệt nhau về thị hiếu, công
nghệ, hay trữ lượng các yếu tố. Mô hình Ricardo truyền thống nhấn mạnh các
khác biệt công nghệ như là nguyên nhân của mậu dịch; mô hình Heckscher-Ohlin-
Samuelson nhấn mạnh các khác biệt về cung ứng yếu tố. Các mô hình bổ
sung có
17
thể được tạo ra bằng cách thay đổi các giả thiết về số lượng hàng hoá và yếu tố,
bằng cách đặt ra các hạn chế đối với công nghệ, v.v. Các mô hình thay thế lẫn
nhau này có ảnh hưởng khác nhau trong một số khía cạnh quan trọng; ví dụ, các
tác động phân phối thu nhập không có trong mô hình của Ricardo, đặc biệt rõ ràng
trong mô hình Heckscher-Ohlin-Samuelson.
Mặc dù vậy, các nhà kinh tế học quốc tế từ lâu đã cho rằng lợi thế so sánh
không nhất thiết là nguyên nhân duy nh
ất dẫn đến mậu dịch quốc tế, và lợi tức
tăng dần có thể là một nguyên nhân độc lập của mậu dịch và chuyên môn hoá
quốc tế. Chính Ohlin nhiều lần nhấn mạnh điểm này. Hơn nữa, ít nhất là từ những
năm 1950 các nhà thống kê và những nhà quan sát không chính thức đã không
thoả mãn với lý thuyết mậu dịch chính thống, vì thế có một số lý luận nhấn mạnh
các ngu
ồn của mậu dịch khác với những gì được trình bày trong các mô hình
chính thức. Các tác giả như Linder và Raymond Vernon nhấn mạnh đến sự thay
Mặc dù các mô hình mậu dịch mới thách thức quan điểm truyền thống rằng
tất cả hiện tượng mậu dịch đều phản ánh sự tận dụng lợi thế so sánh, lý thuyết
mậu dịch mới không phải là thách thức đầu tiên đối với khẳng định là mậu d
ịch có
lợi qua lại cho các quốc gia tham gia mậu dịch. Cùng với việc có lợi từ các khác
biệt về nguồn lực và công nghệ, các quốc gia tham gia mậu dịch có thể chuyên
môn hoá vào sản xuất các hàng hoá khác nhau, tăng được quy mô sản xuất lên
trong khi vẫn giữ nguyên hay gia tăng sự đa dạng hàng hoá. Phải thừa nhận là một
thế giới cạnh tranh hoàn hảo tốt nhất không đảm bảo rằng các lợi ích tiềm năng từ
mậu dịch sẽ nhất thiết thành hiện thực. Tuy nhiên, trong hầu hết các mô hình
chính thức, sự tồn tại của lợi tức tăng dần làm tăng lên chứ không phải làm giảm
đi các lợi ích từ mậu dịch quốc tế. Ngoài ra, bằng việc tạo ra các thị trường lớn
hơn và cạnh tranh hơn, mậu dịch có thể làm giảm các lệch lạc mà có thể đi kèm
với cạnh tranh không hoàn hả
o trong một nền kinh tế đóng cửa. Vì thế ứng dụng
thực tế của lý thuyết mậu dịch mới có vẻ như tăng cường quan điểm truyền thống
rằng mậu dịch là một điều tốt, và vì thế tăng sức mạnh cho quan điểm ủng hộ tự
do mậu dịch.
Nhưng chứng minh rằng mậu dịch tự do tốt h
ơn không có mậu dịch không
hoàn toàn giống như chứng minh là mậu dịch tự do tốt hơn sự can thiệp khôn
ngoan có chọn lọc của chính phủ. Quan điểm cho rằng mậu dịch tự do là tốt nhất
trong các chính sách có thể được thực hiện là một phần của lập luận ủng hộ tự do
kinh doanh trong một nền kinh tế thị trường dựa trên giả thiết rằng các thị trường
có hi
ệu quả. Tuy nhiên, nếu lợi tức gia tăng và cạnh tranh không hoàn hảo là một
phần của sự diễn giải về mậu dịch quốc tế, thì chúng ta đang sống trong một thế
giới tốt nhất hạng nhì mà trong đó can thiệp của chính phủ về nguyên tắc có thể
19
ột quốc gia trong một ngành bao gồm:
- Chiến lược của doanh nghiệp, cơ cấu và sự cạnh tranh: Những ngành có
chiến lược và cơ cấu phù hợp với các định chế và chính sách của quốc gia, hoạt
động trong môi trường có cạnh tranh trong nước căng thẳng hơn sẽ có tính cạnh
tranh quốc tế mạnh hơn. Chẳng hạn như ngành sản xuất xe hơi của Nhật có một số
20
công ty cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới, một phần là do các công ty này
đã cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường trong nước.
- Các điều kiện về phía cầu: Những ngành phải cạnh tranh mạnh ở trong
nước thì có tính cạnh tranh quốc tế tốt hơn. Thị trường trong nước với số cầu lớn
và có những khách hàng đòi hỏi cao và những cạnh tranh trong ngành khốc liệt
hơn sẽ có khả n
ăng cạnh tranh cao hơn.
- Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan: Tính cạnh tranh của một ngành
phụ thuộc vào sức mạnh của các nhà cung cấp các nhập lượng và các dịch vụ hỗ
trợ. Các nhà cung cấp nhập lượng có khả năng cạnh tranh trên toàn cầu có thể
mang lại lợi thế cạnh tranh thông qua sự lan truyền công nghệ. Sự hiện diện cụm
công nghiệp tạo cho doanh nghiệp lợi thế kinh tế theo quy mô.
- Các đi
ều kiện về các yếu tố sản xuất: bao gồm chất lượng lao động, vốn rẻ,
cơ sở hạ tầng mạnh và công nghệ cao trong khu vực hay quốc gia sẽ ảnh hưởng
đến tính cạnh tranh của ngành, của khu vực và của cả quốc gia. Ở đây chúng ta
nhấn mạnh đến chất lượng của các yếu tố đầu vào được tạo ra chứ không phải là
nguồn l
ực ban đầu như trình độ của các chuyên gia và các nhà quản lý, kỹ năng
của người lao động.
Một quốc gia có lợi thế cạnh tranh trong những ngành khi người ta tìm thấy
bốn yếu tố cơ bản trên khá mạnh. Đây là những khu vực mà chính phủ nên tập
trung nỗ lực của họ nhằm thúc đẩy lợi thế cạnh tranh.
Tóm lại, lợi thế so sánh chỉ ra một quốc gia có lợi thế so sánh đối với những
ngành sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà quốc gia đó dồi dào trong khi đó lợi thế
cạnh tranh nhấn mạnh đến cạnh tranh toàn cầu liên quan đến chiến lượ
c mà nó bao
gồm không chỉ mậu dịch mà còn cả đầu tư nước ngoài. Các công ty cạnh tranh
trên các thị trường được phân khúc với những sản phẩm khác nhau được quyết
định bởi sự đổi mới về công nghệ.
1.3. Chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch trong bối cảnh mới
Tăng cường liên kết kinh tế và tự do hóa kinh tế không còn là vấn đề tranh
cãi nhiều trong những năm đầu thế kỷ
XXI. Vấn đề đáng quan tâm ở đây là sự ra
đời của chủ nghĩa bảo hộ mới song song với quá trình tự do hóa, có ảnh hưởng
mạnh mẽ đến sự phát triển các quan hệ kinh tế giữa các nước. Đặc biệt trong giai
đoạn khủng hoảng kinh tế hiện nay, chủ nghĩa bảo hộ lại nhen nhóm phát triển ở
nhiều nước. Những tuyên bố cổ vũ cho việc “người M
ỹ dùng hàng Mỹ” trong giai
đoạn khủng hoảng của nước Mỹ đã tạo làn sóng bảo hộ mới. Mặc dù theo các nhà
22
phân tích xu hướng này sẽ chỉ diễn ra trong ngắn hạn nhưng những ảnh hưởng đến
thương mại quốc tế là rất lớn.
Nếu như thập kỷ 70 và thập kỷ 80 của thế kỷ XX, đối tượng của chủ nghĩa
bảo hộ mậu dịch chủ yếu là các nước phương Tây với nhau, thì từ thập kỷ 90 của
thế kỷ XX và nhất là từ
đầu thế kỷ XXI, đối tượng chủ yếu của chủ nghĩa bảo hộ
mậu dịch đã chuyển từ các nước phát triển phương Tây sang các nước đang phát
triển, đương nhiên tranh chấp mậu dịch giữa các nước phát triển phương Tây vẫn
tiếp tục diễn ra, nhưng tranh chấp giữa các nước phương Tây với các nước đang
phát triển nổi cộm hơn cả và trở
thành trọng điểm của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch.
một ngành mới trong một quốc gia bị cản trở bởi những hàng hóa nhập khẩ
u có
chi phí thấp. Ngành sản xuất này trong nước chủ nhà có được một sự khởi đầu
muộn nên có chi phí trung bình cao hơn so với hàng nhập khẩu nhưng nhờ lợi thế
tiềm tàng sẽ có mức chi phí trên đơn vị sản phẩm thấp hơn hàng nhập khẩu một
khi đạt được qui mô sản xuất nhất định hoặc tích lũy được kinh nghiệm sản suất
thông qua quá trình học hỏi (learning by doing). Nếu nướ
c chủ nhà có thể tạm thời
cung cấp sự bảo hộ mậu dịch cho ngành này trong sự cạnh tranh với hàng nhập
khẩu, thì những xí nghiệp trong ngành này sẽ có khả năng thu được lợi thế kinh tế
qui mô hiệu quả.
Những kinh tế lợi thế nhờ qui mô trong nước này sẽ xuất hiện bởi vì những
xí nghiệp bây giờ sẽ sản xuất một lượng lớn sản phẩm, có ngh
ĩa là những nhà sản
xuất trong nước chủ nhà sẽ dịch chuyển theo hướng đi xuống trên đường chi phí
bình quân trong dài hạn. Cuối cùng, chi phí trên mỗi đơn vị sẽ giảm xuống đến
mức độ là ngành sản xuất trong nước trở thành nhà xuất khẩu. Tại thời điểm này,
việc bảo hộ có thể được tháo gỡ bởi vì nó không còn cần thiết nữa. Một đặc điểm
khác là ngành s
ản xuất này cũng có thể tạo ra lợi ích kinh tế ngoại biên thí dụ như
việc mở rộng sản xuất của nó sẽ dẫn đến việc huấn luyện cho lao động đạt được
năng suất cao hơn và được lan truyền trong nền kinh tế. Ðiều này mang lại lợi ích
cho cả nước chủ nhà và thế giới dưới dạng sử dụng nguồn lực có hiệu quả hơn và
giá cả hàng hoá thấp hơn. Ngành này của nước chủ nhà có một lợi thế so sánh
trong dài hạn, nhưng không thể nhận ra trong ngắn hạn nếu việc bảo hộ tạm thời
không được cung cấp. Những người tiêu dùng của nước chủ nhà sẽ được yêu cầu
tài trợ cho việc mở rộng ngành trong dài hạn, nhưng họ sẽ được trả lại nhiều hơn
khi lợi thế kinh tế nhờ qui mô xu
ất hiện.
Trong thực tế, lập luận về ngành công nghiệp non trẻ thường được đưa ra ở