chính sách hợp tác kinh tế giữa việt nam với asean giai đoạn 1995 - 2000 - Pdf 22

1
LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 30 năm ra đời, xây dựng và phát triển, Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á, viết tắt là ASEAN (The Association of South East Asian Nations) đã
ngày một lớn mạnh. Từ một ASEAN gồm 5 nước, đến nay ASEAN đã trở thành
một tổ chức gồm tất cả các nước trong khu vực chính thức tham gia vào
ASEAN tháng 7 năm 1995, nhưng trước đó đã có mối quan hệ với từng nước
thành viên ASEAN và là quan sát viên của ASEAN từ tháng 7/1992. Với sự chủ
động hội nhập khu vực, Việt Nam đã tận dụng và phát huy các lợi thế trong
quan hệ hợp tác ASEAN, góp phần hỗ trợ quan hệ song phương với từng nước
thành viên ASEAN. Đặc biệt, thông qua AFTA, Việt Nam sẽ có những điều
kiện thuận lợi tăng cường quan hệ, giao lưu văn hoá và nâng cao vị thế của Việt
Nam. Sau 5 năm tham gia ASEAN quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và từng nước
thành viên ASEAN đã được mở rộng và đem lại một số hiệu quả nhất định. Giá
trị thương mại, đầu tư, các hợp tác kinh tế khác giữa Việt Nam và ASEAN đã
củng cố cho tiến trình liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu, nâng cao khả năng
cạnh tranh của kinh tế Việt Nam với các nước trong khu vực. Phân tích đánh giá
quan hệ kinh tế Việt Nam- ASEAN từ đầu thập kỷ 90, đặc biệt từ khi Việt Nam
trở thành thành viên chính thức của ASEAN (7/1995), thông qua các lĩnh vực
hợp tác kinh tế cụ thể, từ đó nêu lên một số triển vọng về quan hệ kinh tế giữa
hai bên . Bài tiểu luận không nhằm kể lại tiến trình Việt Nam gia nhập ASEAN
mà chủ yếu là nói về “chính sách hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với ASEAN
giai đoạn 1995_2000”.
2
Những nội dung chúng tôi trình bày trong bài viết của mình dưới đây chắc
chắn không tránh khỏi những thiếu sót và rất cần sự đóng góp ý kiến, phê bình
các thầy, cô để hoàn chỉnh hơn nội dung cũng như đánh giá một cách đầy đủ
hơn về đề tài này.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I. Tiến trình Việt Nam gia nhập ASEAN:

do khái quát nhât là do thời cơ đã đến, các yếu tố nội tại và yếu tố bên trong đều
cho thấy VN tham gia ASEAN lúc này là bước đi đúng đắn và hợp lý. Thứ nhất
là do tình hình ASEAN, lúc này các xung đột tại khu vực đã được giải quyết,
vai trò của kinh tế được nhấn mạnh,sức mạnh kinh tế của các nước cũng gia
tăng, ASEAN cần có môi trường hòa bình và ổn định, cũng như một thị trường
rộng lớn. Vì thế lúc này ASEAN đưa ra một sáng kiến về diễn đàn khu vực để
lôi kéo các nước, trong bối cảnh đó xuất hiện khái niệm “ASEAN mở rộng”.
Những mong muốn của ASEAN về hòa bình ,ổn định, mở rộng đã phù hợp với
chủ chương, chính sách đối ngoại rộng mở của chúng ta là đa dạng hóa, đa
phương hóa, mối quan tâm hàng đầu trong hợp tác khu vực. Việc VN gia nhập
ASEAN chính là kết quả của đường lối đối ngoại đó. Việt Nam gia nhập
ASEAN là phù hợp với xu thế khu vực hóa đang diễn ra trên thế giới cũng như
ở khu vực, đáp ứng lợi ích của cả nước ta và ASEAN là cần có môi trường hòa
bình, ổn định và đẩy mạnh hợp tác vì lợi ích phát triển.
II. Chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn này:
3. Trước khi gia nhập
Từ ngày được thành lập-8/ 8/ 1967 đến năm 1975 , ASEAN và Việt Nam ở
trong tình trạng đối đầu căng thẳng. Chính sách của ta trong giai đoạn này là
hoàn toàn khép kín với ASEAN. Có thể thấy nguyên nhân là trong chiến tranh
xâm lược của Mỹ tại VN, hầu hết các nước ASEAN đã dính líu trực tiếp hay
hay gián tiếp vào cuộc chiến. và lúc đó chúng ta coi tất cả các nước tiếp tay cho
Mỹ ngụy là kẻ thù của nhân dân ta. Do vậy, chúng ta dễ dàng chấp nhận rằng
ASEAN là khối quân sự trá hình, và hết ức dè dặt thận trọng trong quan hệ.
Sau khi kí hiệp ước Bali (2/1976) quan hệ giữa các nước Đông Dương nói
chung và Việt Nam nói riêng với ASEAN bước đầu được cải thiện. lúc này
chúng ta đã có chính sách cởi mở hơn với các nước ASEAN do chiến tranh đã
kết thúc và nhận thấy cần có môi trương trên. Chúng ta đã thiết lập quan hệ
ngoại giao với các nước như Indonesia , Philippin, Singapore, Thái Lan; ký một
số hiệp định hợp tác thương mại,…Nhưng đến cuối thập kỉ 70 và giữa thập kỉ
80 quan hệ đó lại trở lên căng thẳng, lấy cớ VN đưa quân vào Campuchia trước

2
.“Môi trường quốc tế khu
vực thay đổi, vận động nội tại của Đông Nam Á trong đó có quan hệ Việt Nam-
ASEAN thay đổi. Tất cả những điều này đòi hỏi những phương pháp tiếp cận
hoàn toàn mới để xây dựng Đông Nam Á từng bị phân chia theo sự kình địch về
ý thức hệ thành Đông Nam Á của một cộng đồng đa dạng liên kết với nhau bởi
1 Trần Thị Thu Lương, Dấu ấn Việt Nam trong tiến trình phát triển ASEAN- những đóng góp và những bài học cho hội
nhập, TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, tập 10, sô 09 – 2007, tr. 15, ĐHQG-HCM
2 Ngoại giao VN 1945-2000, tr.348, NXB chính trị -quốc gia
5
những mối quan hệ an ninh và thịnh vượng chung vì sự tiến bộ và phát triển”
3
.
Những đổi mới có tính chất đột phá trong đường lối đối ngoại của Việt Nam đã
góp phần quan trọng cải thiện tình hình,nhờ đó tiến độ hội nhập vào khu vực
của Việt Nam trở nên nhanh chóng và vững chắc. Việt Nam đã chủ động rút
quân tình nguyện tại Cămpuchia, tích cực đổi mới tư duy để thoát khỏi ảnh
hưởng của quá khứ chiến tranh lạnh. Sau khi có giải pháp hòa bình về vấn đề
Campuchia, quan hệ của Việt Nam với từng nước ASEAN cũng như với tổ chức
ASEAN đã có những bước phát triển nhanh chóng.
Kết quả 28/7/1995 Việt Nam chính thức gia nhập vào Hiệp hội liên kết khu
vực Đông Nam Á. Việc Việt Nam gia nhậpASEAN đã đánh dấu chấm dứt sự
đối đầu giữa hai khối ASEAN và Đông dương hình thành dưới thời chiến tranh
lạnh, mở ra một bước ngoặt trong lịch sử phát triển hợp tác khu vực ở Đông
Nam Á. Sự tham gia của Việt Namvà ASEAN đã mở đầu cho quá trình tham
gia hợp tác khu vực của tất cả các quốc gia còn lại, biến ước mơ nhất thể hoá
khu vực của ASEAN được đề cập trong “Tuyên bố Băng Cốc” năm 1967 thành
hiện thực. Hợp tác khu vực của ASEAN nhờ đó đã bước lên bình diện mới để
đối phó một cách hiệu quả với những biến động đầy phức tạp của thế giới thời
kỳ hậu chiến tranh lạnh. Việc Việt Nam gia nhập ASEAN cũng đánh dấu thắng

tác như chính trị, an ninh, kinh tế, chuyên ngành, mà đỉnh cao là chủ trì và tổ
chức thành công Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 6 tại Hà Nội tháng 12/1998
với chủ đề “đoàn kết, hợp tác vì hoà bình, ổn định và phát triển đồng đều”. Các
văn kiện và quyết định của Cấp cao Hà Nội, nhất là Tuyên bố Hà Nội và
Chương trình Hành động Hà Nội (HPA) với thời gian thực hiện trong 6 năm, đã
xác định rõ phương hướng và các biện pháp cụ thể cho hợp tác và phát triển của
ASEAN trong những năm đầu của thiên niên kỷ mới, tạo đà cho hợp tác của
ASEAN vượt qua khủng hoảng, góp phần khôi phục lòng tin của cộng đồng
quốc tế đối với vai trò và tương lai phát triển của ASEAN. Cùng với việc chủ
động thúc đẩy thực hiện Chương trình Hành động Hà Nội, coi đó là trọng tâm
và ưu tiên hoạt động của ASEAN cũng như giữa ASEAN với bên ngoài, nhất là
các nước đối thoại, ta đã chủ động đưa ra các sáng kiến, nhất là trong lĩnh vực
phát triển (như phát triển Tiểu vùng Mêkông, nhất là Hành lang Đông – Tây ),
giải quyết các vấn đề xã hội cấp bách của ASEAN (ma tuý trong thanh niên)
Ta cũng đã cố gắng đóng góp vào việc thúc đẩy xu thế hoà bình, ổn định và hợp
tác ở khu vực, tham gia tích cực vào những cố gắng của ASEAN biến Hiệp ước
Thân thiện và Hợp tác (TAC) thành bộ quy tắc ứng xử không chỉ trong quan hệ
giữa các nước Đông Nam á và giữa các nước này với các nước ngoài khu vực;
xây dựng quy tắc ứng xử ở Biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc (COC);
đóng góp tích cực vào quá trình soạn thảo Quy chế hoạt động của Hội đồng Tối
7
cao để giải quyết hoà bình các tranh chấp theo quy định của Hiệp ước; tham gia
ký Hiệp ước Khu vực Đông Nam á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ)
4
.
Như vậy ta có thể thấy rõ có những sự thay đổi lớn trong chính sách đối
ngoại của Việt Nam trước và sau khi giai nhập ASEAN. Nếu trước đó do những
phức tạp và bất ổn định của tình hình quốc tế và khu vực, chính sách đối ngoại
của Việt Nam còn khép kín, chưa tích cực và chủ động trong mọi mối quan hệ
quốc tế, thì đến giai đoạn sau, do có sự thay đổi trong nhận thức và tư duy mới,

một thỏa thuận giữa các nước thành viên ASEAN về việc cắt giảm thuế quan
trong nội bộ xuống còn 0 – 5% thông qua những kế hoạch cắt giảm thuế khác
nhau. Trong vòng 5 năm khi đạt mức thuế ưu đãi cuối cùng các nước thành viên
sẽ tiến hành xóa bỏ các hạn ngạch nhập khẩu và những hàng rào phi quan thuế
khác. Khi Việt Nam trở thành thành viên của ASEAN thì việc gia nhập AFTA
là tất yếu. Tuy nhiên việc gia nhập AFTA đã có những tác động không nhỏ đến
nền kinh tế của Việt Nam cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực
a. Thuận lợi
• Khi gia nhập AFTA , hàng hoá của Việt nam sẽ được hưởng thuế
suất ưu đãi thấp hơn cả thuế suất tối huệ quốc mà các nước ASEAN dành
cho các nước thành viên WTO, từ đó có điều kiện thuận lợi hơn để hàng
hoá Việt nam có thể thâm nhập thị trường của tất cả các nước thành viên
ASEAN.
• Bên cạnh những thuận lợi thu được từ hoạt động thương mại trong
nội bộ khối , khi gia nhập AFTA, VN sẽ có thế hơn trong đàm
phán thương mại song phương và đa biên với các cường quốc kinh tế,
cũng như các tổ chức thương mại quốc tế lớn như Mỹ, nhật, EU hay
WTO
7
• Tuy có những trùng lặp giữa VN và các nước ASEAN, nhưng có
nhiều lĩnh vực mà VN có thể khai thác từ thị trường các nước ASEAN
như VN có thế mạnh trong xuất khẩu nông sản, hàng dệt và may mặc, và
ta cũng có nhu cầu nhập nhiều mặt hàng từ các nước ASEAN với giá thấp
hơn từ các khu vực khác trên thế giới.
8
• Một mặt Doanh nghiệp được lợi do tăng được khả năng cạnh tranh
so với các nước ngoài ASEAN về giá cả, mặt khác người tiêu dùng được
hưởng lợi do giá cả rẻ hơn và chủng loại hàng hoá phong phú hơn.
• Thu hút vốn đầu tư, tiếp thu công nghệ, tận dụng nhân công, sử
dụng vốn và kỹ thuật cao trong khu vực

Những năm gần đây, quan hệ hợp tác kinh tế giữa ASEAN với các đối tác
ngoài khối đã bước sang giai đoạn phát triển mới, cả về chiều rộng lẫn chiều
sâu. Cùng với nỗ lực đẩy nhanh hội nhập trong nội khối, ASEAN đã tích cực
mở rộng quan hệ hợp tác với các đối tác ngoài khối bao gồm Trung Quốc, Nhật
Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc và New Zealand, EU, Mỹ. Là một thành viên tích
cực, Việt Nam đang cùng các nước ASEAN đồng thời đàm phán thành lập các
khu vực mậu dịch tự do (FTA) với 6 đối tác gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật
Bản, Hàn Quốc, Úc và New Zealand. Theo dự kiến các cuộc đàm phán này sẽ
9http://www.ctld.gov.vn/nd_dlth.aspx?muc=348&mboardname=hnkttt
10 Việt Nam trong tiến trình thống nhất đất nước, đổi mới và hội nhập, Nxb Đại học Quốc gia Hà nội, tr 38.
10
kết thúc vào cuối năm 2006, đặt cơ sở pháp lý để Việt Nam cùng các nước
ASEAN hội nhập sâu sắc hơn với các nền kinh tế lớn trong khu vực.
Trong hoạt động của ASEAN, hợp tác kinh tế nổi dần lên như một hướng
quan trọng
11
. Cùng với tiến trình đàm phán các thỏa thuận FTA, ASEAN và các
nước đối tác tiếp tục duy trì và phát triển quan hệ hợp tác kinh tế theo các kênh
ASEAN Cộng 1 (với từng nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc), ASEAN
Cộng 3 (với nhóm 3 nước Trung-Nhật-Hàn), và giữa ASEAN với từng đối tác
Ấn Độ, EU, Hoa Kỳ và mới đây cơ hội hợp tác với Canada đã được mở ra
12
.
Nhiều chương trình, dự án hợp tác cụ thể thuộc các lĩnh vực khác nhau đã được
triển khai, trong đó Việt Nam đóng vai trò nước điều phối, đăng cai, tổ chức
hoặc tích cực phối hợp, cử đại diện tham gia. Nổi bật trong số các quan hệ hợp
tác này, Việt Nam đã được giao là nước điều phối của ASEAN trong quan hệ
hợp tác với EU. Ta đã chủ động đề xuất định hướng tăng cường hợp tác và các
biện pháp cụ thể thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa hai khu vực.
Như vậy, trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động

ASEAN của Đảng và Nhà nước ta mãi sang năm 2003 mới bắt đầu được đề
xuất và thực hiện. Sở dĩ có sự chậm trễ này là do tình trạng “chậm phát triển về
thể chế và sự vắng bóng của các cơ chế đa phương”
14
. Đó cũng là bởi vì chủ
nghĩa khu vực trong giai đoạn này cho đến trước cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ châu Á 1997/98 mới chỉ “tiền trưởng thành” (premature stage). Thêm
vào đó, khi thực hiện việc đẩy nhanh hội nhập với ASEAN, các nhà lãnh đạo
Việt Nam thực sự cũng không thể bỏ qua yếu tố “Sự tranh chấp quyền lực” của
“lãnh đạo đầu tầu” như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc , Nga dù muốn hay không
cũng sẽ tạo sự ảnh hưởng nhất định đối với ASEAN cũng như tiến trình Việt Nam
hội nhập ASEAN
15
Việc đẩy mạnh các ngành ưu tiên tiến tới Cộng đồng kinh tế ASEAN của ta
đã và đang từng bước đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Chính sách này
được tái nhấn mạnh qua lời phát biểu tại cuộc họp báo sau khi kết thúc Hội nghị
Bộ trưởng kinh tế ASEAN không chính thức cuối tháng 2/2010, diễn ra tại Pu-
tra-jay-a, Thủ đô hành chính của Ma-lai-xi-a của Chủ tịch luân phiên Hội nghị
Bộ trưởng ASEAN - Bộ trưởng Bộ Công thương Việt Nam Vũ Huy Hoàng:
“Việt Nam nhấn mạnh, ưu tiên hàng đầu của ASEAN là thực thi đầy đủ cam kết
và chương trình hợp tác kinh tế nội khối.”
16
. Có thể nói, việc Việt Nam thúc
đẩy thiết lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) góp phần ASEAN trở thành
13 http://www.bappenas.go.id/get-file-server/node/2659/english
14 Hội nhập kinh tế Đông Á: Từ góc nhìn của Hàn Quốc và Ấn Độ (2005, tr.29 - 30) - PGS.TS. HOÀNG THỊ THANH
NHÀN
*
15 Các vấn đề quốc tế số 3/2008, Thông tấn xã Việt Nam, tr.43
16http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30257&cn_id=391863#CQ2LKc5ZrRO9

tư nhân. Vốn đầu tư nước ngoài nhìn chung cũng tăng, đạt trên 40 tỉ USD, mặc
dù chủ yếu là trong giai đoạn trước khi xảy ra khủng hoảng kinh tế trong khu
vực. Theo số liệu thống kê từ năm 1996 đến tháng 6/1997, tốc độ thu hút đầu tư
nước ngoài đã tăng lên nhanh chóng. Tổng số dự án đầu tư của ASEAN đã tăng
lên 328 dự án với tổng số vốn cam kết lên tới 7.815 triệu USD, tăng hơn 2 lần
so với thời kỳ trước 1/1/1996. Đầu tư của toàn ASEAN đã chiếm gần 30% tổng
13
mức đầu tư của tất cả các quốc gia và lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Ba quốc
gia, gồm Xingapo, Malaixia và Thái Lan chiếm giữ các vị trí lần lượt thứ 5, thứ
7 và 12 trong số các quốc gia đầu tư lớn nhất vào Việt Nam, theo số liệu tháng
6/1995, và đến tháng 6/1997 đã chiếm giữ các vị trí lần lượt thứ 1, thứ 7 và 8.
Có thể thấy được hiệu quả đạt được từ những điều chỉnh kịp thời về chính sách
đầu tư của Nhà nước ta cũng như từ việc hợp tác và đầu tư quốc tế trong khuôn
khổ ASEAN. Có thể nói, gia nhập ASEAN là cột mốc quan trọng đánh dấu một
giai đoạn phát triển phù hợp với xu thế hợp tác mạnh mẽ của thời đại, đặc biệt
là về đầu tư nước ngoài. Nhiều công trình, nhà máy, khách sạn do các nước
ASEAN đầu tư đã mọc lên ở hầu khắp các thành phố lớn, các khu công nghiệp
của nước ta đã khẳng định rõ vị trí của các nước láng giềng Đông Nam Á trong
tiến trình mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam. Một điểm đáng chú ý nữa
chính là Việt nam đã bắt đầu đầu tư ra một số nước, tuy với số vốn và quy mô
còn hạn chế.
2. Khó khăn
Tuy nhiên, đánh giá một cách toàn diện, gia nhập ASEAN không chỉ mang
đến cho nền kinh tế nước ta những cơ hội quý báu để phát triển mà còn mang
đến không ít những thách thức. Trước hết đó chính là sự nghèo nàn về kinh
nghiệm so với các nước trong khu vực. Trước khi gia nhập ASEAN, Việt Nam
là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, vừa mới chập chững những bước
đổi mới đầu tiên. Chính vì thế, kinh nghiệm so với các nước trong ASEAN bấy
giờ của ta là khá ít. Đặc biệt, trong giai đoạn 1995- 2000, ta phải đương đầu với
những tác động từ cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á- đây là một việc không hề

5
Trần Thị Thu Lương, Dấu ấn Việt Nam trong tiến trình phát triển ASEAN- những đóng góp và những bài học cho hội
nhập, TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, tập 10, sô 09 – 2007, tr. 15, ĐHQG-HCM
6
Vũ Khoan, Việt Nam và ASEAN, tr.324, trích giáo trình Chính sách đối ngoại Việt Nam tập II (1975-2006),
T.S Nguyễn Vũ Tùng biên soạn.
7
http://viethanit.edu.vn/index.php/Doan-Thanh-Nien/dc-tuyen-truyen-thuc-hien-di-chuc-bac-ho/Nhung-thanh-tuu-qua-40-
nam-thuc-hien-tt.vhc
8
http://www.ctld.gov.vn/nd_dlth.aspx?muc=347&mboardname=hnkttt
9
http://www.ctld.gov.vn/nd_dlth.aspx?muc=348&mboardname=hnkttt
10
Việt Nam trong tiến trình thống nhất đất nước, đổi mới và hội nhập, Nxb Đại học Quốc gia Hà nội, tr 38.
11
Vũ Khoan, Việt Nam và ASEAN, tr.318, trích giáo trình Chính sách đối ngoại Việt Nam, tập 2(1975-2006),
T.S Nguyễn Vũ Tùng biên soạn.
12
http://www.nciec.gov.vn/index.nciec?1523
13
http://www.bappenas.go.id/get-file-server/node/2659/english
14
Hội nhập kinh tế Đông Á: Từ góc nhìn của Hàn Quốc và Ấn Độ (2005, tr.29 - 30) - PGS.TS. HOÀNG THỊ THANH
NHÀN
*
15
Các vấn đề quốc tế số 3/2008, Thông tấn xã Việt Nam, tr.43
16
http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30257&cn_id=391863#CQ2LKc5ZrRO9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status