Tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010) - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN HOÀNG HUẾ
TIẾN TRÌNH HỢP TÁC KINH TẾ
GIỮA CÁC NƯỚC THUỘC HÀNH LANG
KINH TẾ ĐÔNG TÂY (1998 - 2010)
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới
Mã số: 62.22.03.11.
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS NGUYỄN VĂN TẬN
2. PGS.TS TRỊNH THỊ ĐỊNH
HUẾ, 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là
trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả luận án
Nguyễn Hoàng Huế
ii
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1

2.2.3. Thu hút đầu tư của các nước và các địa phương thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây
53
2.3. Hợp tác thương mại 58
2.4. Hợp tác trong lĩnh vực giao thông vận tải và du lịch 63
2.4.1. Hợp tác trong lĩnh vực giao thông vận tải 63
2.4.2. Hợp tác trong lĩnh vực du lịch 70
2.5. Hợp tác trong các lĩnh vực khác 81
2.5.1. Hợp tác nông và công nghiệp 81
2.5.2. Hợp tác năng lượng 84
2.5.3. Hợp tác xóa đói giảm nghèo và phát triển nông thôn 87
iii
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ TIẾN TRÌNH HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CÁC
NƯỚC THUỘC HÀNH LANG KINH TẾ ĐÔNG TÂY (1998 - 2010) 89
3.1. Tác động của tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông
Tây 89
3.1.1. Tác động đối với các nước thành viên 89
3.1.1.1. Tác động đối với Myanmar 92
3.1.1.2. Tác động đối với Thái Lan 94
3.1.1.3. Tác động đối với Lào 96
3.1.1.4. Tác động đối với Việt Nam 99
3.1.2. Tác động đối với hợp tác Tiểu vùng Mekong mở rộng 105
3.1.3. Tác động đối với hợp tác ASEAN 107
3.2. Những thành tựu và hạn chế 112
3.2.1. Thành tựu 112
3.2.2. Hạn chế và nguyên nhân 115
3.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành
lang kinh tế Đông Tây 127
3.4. Các gợi mở chính sách tham gia của Việt Nam trong hợp tác kinh tế Hành lang kinh
tế Đông Tây 133
3.4.1. Đóng góp của Việt Nam trong tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành

6 ASEAN
Association of Southeast
Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á
7 ASEAN-METI
Association of Southeast
Asian NationsMinister for
Economy, Trade and
Industry
Ủy ban hợp tác kinh tế và công
nghiệp ASEAN
8 CBTA
Cross Border Transport
Agreement
Hiệp định vận tải qua biên giới
9 EWEC
East West Economic
Corridor
Hành lang kinh tế Đông Tây
10 EU European Union Liên minh Châu Âu
11 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
12 GMS Greater Mekong Subregion Tiểu vùng Mekong mở rộng
13 GMS BF
Greater Mekong Subregion
Business Forum
Diễn đàn doanh nghiệp Tiểu vùng
Mekong mở rộng
14 GMS-CBTA
Greater Mekong Subregion

North America Free Trade
Agreement
Hiệp định Thương mại Tự do Bắc
Mỹ
23 NSEC
North - South Economic
Corridor
Hành lang kinh tế Bắc - Nam
24 ODA
Official Development
Assistance
Viện trợ phát triển chính thức
25 RFID
Radio Frequency
Identification
Thẻ kiểm tra đối tượng bằng
sóng vô tuyến
26 SEC South Economic Corridor Hành lang kinh tế phía Nam
27 SOM EWEC
Senior Officials Meeting
East West Economic
Corridor
Hội nghị cấp cao EWEC
28 TNHH - Trách nhiệm hữu hạn
29 TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
30 TTXVN - Thông tấn xã Việt Nam
31 UBND - Uỷ ban nhân dân
32 UNESCO
United Nations Educational
Scientific and Cultural

Hình 2.3: Thành phố Khon Kaen và các thị trấn lân cận trên EWEC 83
Hình 3.1: Tốc độ tăng GDP/ng của các tỉnh phía Việt Nam và Việt Nam 101
viii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thập niên đầu của thế kỷ XXI toàn cầu hoá, khu vực hóa tiếp tục phát
triển sâu rộng và tác động tới tất cả các nước. Các quốc gia lớn nhỏ đang tham gia
ngày càng tích cực vào quá trình hội nhập quốc tế. Hoà bình, hợp tác và phát triển
vẫn là xu thế lớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia, dân tộc trong quá trình
phát triển.
Trong xu thế phát triển chung của nhân loại, song song với quá toàn cầu hoá,
cạnh tranh mang tính quốc tế vẫn tiếp tục gia tăng không kém phần gay gắt. Đáp lại
thực tế mang nhiều thách thức đó, nhiều nước đang phát triển đã nhận thức rằng phải
hợp tác với các nước láng giềng của mình để đảm bảo cho các nguồn lực: tự nhiên,
con người, cũng như tiền vốn được sử dụng một cách hiệu quả. Mặt khác, hoạt động
mậu dịch, đầu tư cùng nhiều loại hình kinh doanh có xu hướng vượt ra ngoài biên
giới quốc gia ngày càng mạnh, đòi hỏi các chính phủ phải tiến hành hợp tác khu vực
và hợp tác tiểu vùng để tạo ra môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh.
Trong hoàn cảnh đó, Ngân hàng phát triển Châu Á đã đề xuất sáng kiến Hợp
tác Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS) vào năm 1992. Các nước thành viên
của Hợp tác GMS bao gồm 5 nước (Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan, Việt
Nam), và hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây, Trung quốc. Hợp tác GMS bao gồm 10
lĩnh vực là: (1) Giao thông tận tải; (2) Năng lượng; (3) Môi trường; (4) Du lịch; (5)
Bưu chính Viễn thông; (6) Thương mại; (7) Đầu tư; (8) Phát triển Nguồn nhân lực;
(9) Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và (10) Quản lý nguồn nước [73, tr1].
Tại Hội nghị lần thứ 8 các Bộ trưởng GMS, tổ chức tại Manila (Philippines)
tháng 10/1998, có 5 dự án hành lang được đưa ra thảo luận, trong đó hội nghị đã
thống nhất ưu tiên thực hiện Hành lang kinh tế Đông tây (EWEC). Hành lang kinh tế
Đông Tây là chương trình hợp tác phát triển tổng thể nhằm mục tiêu phát triển liên
vùng nghèo bao gồm lãnh thổ lớn kéo dài từ miền Trung Việt Nam lên Trung Hạ

xã hội, môi trường, sinh thái và an ninh, quốc phòng. Việt Nam nằm ở vị trí địa lý
thuận lợi, là cửa ngõ của các tuyến giao thông quan trọng trong lưu vực sông
Mekong. Mục đích cơ bản của những chương trình hợp tác tiểu vùng Mekong phù
hợp với chủ trương chính sách về phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Bởi vậy,
Việt Nam ủng hộ và tham gia tích cực, là thành viên của hầu hết các chương trình dự
án này. Việt Nam đã và đang xúc tiến việc lập kế hoạch tổng thể tham gia tiến trình
2
hợp tác phát triển lưu vực sông Mekong nhằm khai thác cao nhất lợi thế của mình
trong khu vực, thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của các chương trình này. Việt Nam
đã tham gia hợp tác tiểu vùng GMS kể từ khi Sáng kiến GMS được khởi xướng từ
năm 1992. Việt Nam cũng là nước tích cực tham gia hợp tác trên EWEC.
Kể từ khi chương trình hợp tác Hành lang kinh tế Đông Tây được hình
thành cho đến năm 2010, đã nhận được sự quan tâm của chính phủ các nước, các
nhà tài trợ quốc tế, đặc biệt là Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Chính phủ
Nhật Bản; sự quan tâm của các địa phương trên tuyến hành lang, của cộng đồng
doanh nghiệp và hàng chục triệu người dân trong vùng EWEC. Nhiều hoạt động cụ
thể, thiết thực đã được triển khai để hiện thực hóa những ý tưởng và mục tiêu tốt đẹp
của Hành lang kinh tế Đông Tây. Những hoạt động đó đã đưa lại những kết quả rất
đáng ghi nhận cho quá trình phát triển của EWEC như: Một số cơ chế hợp tác đã
được hình thành, một số dự án hỗ trợ đã được triển khai, và nhiều sự kiện liên quan
đến Hành lang kinh tế Đông Tây đã được tổ chức, tiêu biểu như sự kiện Tuần lễ
EWEC 2007 tại Đà Nẵng, do Bộ Ngoại giao Việt Nam và UBND thành phố Đà
Nẵng đồng chủ trì với chủ đề “Hành lang hữu nghị và hợp tác kinh tế: Từ ý tưởng
đến hiện thực”, đã góp phần nâng cao nhận thức và hành động của các nhà tài trợ
quốc tế, của chính phủ các nước, các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp trên
hành lang về những cơ hội phát triển của Hành lang kinh tế Đông Tây. Song song
với điều kiện hạ tầng cứng của hành lang như: giao thông, viễn thông, năng lượng,
tiếp tục được nâng cấp, hạ tầng mềm với các chính sách nhằm tạo điều kiện thông
thoáng về thủ tục cho sự lưu thông của người và hàng hóa đã được chính phủ các
nước quan tâm cải tiến. Các nhà tài trợ đã có những hỗ trợ tích cực, hiệu quả. Các

ADB phát hành năm 2010 nghiên cứu về tầm quan trọng và giá trị kinh tế - xã hội khi
hành lang kinh tế Đông Tây được hoàn thành và sự thay đổi trong các chiến lược và kế
hoạch hành động qua hai giai đoạn:1998 - 2001, 2001 - 2008 và triển vọng của EWEC;
“The East-West Economic Corridor Project in Thailand: Perceived Meanings and
Expectations” của Yaowalak Apichatvullop Panadda Phucharoensilp, Đại học
Khon Kaen, Thái Lan năm 2007, đề cập đến các vần đề như ý nghĩa và giá trị của hành
lang kinh tế Đông Tây đối với các nước và các địa phương trên EWEC; qua nghiên cứu
các dữ liệu được thu thập từ ba nhóm đối tượng: các tổ chức địa phương, các doanh
nghiệp tư nhân và người dân địa phương tác giả đã đưa ra những đánh giá tác động từ sự
4
phát triển của EWEC đến các lĩnh vực kinh tế - xã hội của các bên liên quan; gợi ý những
chính sách để tăng cường kết quả hợp tác của các địa phương trên EWEC; “Strategy and
Action Plan to Encourage Tourists to Stay Longer and Spend More on the East West
Economic Corridor Savannakhet” của Lee Sheridan năm 2009 đề cập đến tác động của
EWEC đến sự phát triển du lịch bền vững của tỉnh Savannakhet (Lào); các lựa chọn
chiến lược khuyến khích khách du lịch ở lại lâu hơn và chi tiêu nhiều hơn khi đến
Savannakhet; các giải pháp để đạt được mục tiêu chiến lược của ngành du lịch tỉnh
Savannakhet trên EWEC; “Special Economic Zones and Economic Corridors” của
Masami Ishida năm 2009 phản ánh sự khác nhau giữa các hành lang kinh tế và khu
kinh tế đặc biệt trong GMS. Đặc biệt nhấn mạnh vai trò và chiến lược phát triển các
khu kinh tế đặc biệt của 4 nước Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam; “Planning
Framework for International Freight Transportation Infrastructure: A Case Study
on the East-West Economic Corridor in the Greater Mekong Subregion” của
Toshinori Nemoto, Đại học Hitotsubashi, Nhật Bản năm 2009 đề cập đến khung kế
hoạch cho vận tải quốc tế và cơ sở hạ tầng của GMS từ những nghiên cứu về Hành
lang kinh tế Đông Tây thông qua các hoạt động vận chuyển quốc tế, hậu cần, nhu
cầu hợp tác, lợi ích của các nước thành viên
Trên thực tế, từ năm 1998 đến nay còn có nhiều tài liệu đã được ADB, các
nước thành viên EWEC, các nhà tài trợ, các nhà tư vấn, các nhà nghiên cứu đã chuẩn
bị và cung cấp nhiều tài liệu quý báu về Tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc

các quốc gia ASEAN
Các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Nguyễn Quốc Lộc - Nguyễn Công
Khanh - Đoàn Thanh Hương (2004), Tổng quan về ASEAN và tiềm năng Thành phố
Hồ Chí Minh trong tiến trình hội nhập, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh,
thành phố Hồ Chí Minh; Hoài Nguyên (2008), Lào - đất nước và con người, Nhà
xuất bản Thuận Hóa, Huế; Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam -
Ban Tuyên huấn Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (2012), Lịch sử quan hệ đặc biệt
Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 -2007), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Võ
Thanh Thu (2008), Quan hệ kinh tế quốc tế, NXB Thống Kê, Hà Nội; Nguyễn Duy
Dũng (chủ biên) (2010), Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia từ lý
thuyết đến thực tiễn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; Hoàng Thị Minh Hoa (chủ
biên) (2010), Nhật Bản với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, Lào và
6
Campuchia trong giai đoạn hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Thị
Thúy Hồng (2008), Kinh tế các nước ASEAN, NXB Giáo dục, Hà Nội
Trong các công trình nghiên cứu này, tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước
thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010) được đề cập đến không nhiều, chủ
yếu là những nghiên cứu về hợp tác kinh tế giữa từng nước trong hành lang với nhau.
Tuy nhiên, khi tìm hiểu nhóm công trình này có thể giúp cho các nhà nghiên cứu những
tư liệu có ích về quá trình hình thành và phát triển của Hành lang kinh tế Đông Tây và
các nhân tố tác động tới quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế
Đông Tây (1998 - 2010).
2.2.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về hợp tác Tiểu vùng Mekong mở rộng
Nhóm các công trình nghiên cứu về hợp tác Tiểu vùng Mekong mở rộng có thể
kể đến một loạt công trình nghiên cứu như: Các công trình nghiên cứu của Nguyễn
Trần Quế: “Sông và tiểu vùng Mê Kông tiềm năng và hợp tác phát triển quốc tế”,
Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001; “Hợp tác tiểu vùng Mekong mở rộng
trong điều kiện mới”, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ (2007), Viện Kinh tế và Chính trị
Thế giới; “Hợp tác phát triển tiểu vùng Mê Kông mở rộng hiện tại và tương lai”,
Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007. Những nghiên cứu này đề cập tới cơ

“Việt Nam trong hợp tác Tiểu vùng Mê Kông mở rộng”, Tạp chí Những vấn đề Kinh
tế và chính trị thế giới, số 5, 2007, đề cập đến tầm quan trọng của hợp tác GMS đối
với Việt Nam, quan điểm, hoạt động, kết quả hợp tác và những vấn đề đặt ra trong
quá trình hợp tác của Việt Nam trong GMS
Nhìn chung các công trình nghiên cứu thuộc nhóm này đã phản ánh được sự
cần thiết, nhu cầu, các chủ trương, chính sách và quá trình hợp tác của các nước và
các địa phương trong Tiểu vùng Mekong mở rộng.
Tuy nhiên, trong các công trình này vấn đề tiến trình hợp tác kinh tế giữa các
nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây được đề cập đến không nhiều và không
được hệ thống trong cả một giai đoạn (1998 - 2010).
2.2.3. Nhóm các công trình nghiên cứu về Hành lang kinh tế Đông Tây
Đã có nhiều công trình có tính chất chuyên khảo của các tác giả đề cập tới
quan hệ kinh tế giữa các nước trong Hành lang kinh tế Đông Tây như: Nguyễn Xuân
Thắng, “Hành lang kinh tế và Hành lang kinh tế Đông - Tây: Một số đề xuất về giải
pháp phát triển”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 5, 2006, đề
cập đến những vấn đề lý luận về hành lang kinh tế, đặc điểm, chiều hướng phát triển
8
và đề xuất những giải pháp phát triển Hành lang kinh tế Đông - Tây; Lê Hữu Phúc,
“Vai trò của tỉnh Quảng Trị đối với việc xây dựng và phát triển hành lang kinh tế
Đông - Tây”, Tạp chí Đông Nam Á, số 11, 2008, đề cập đến vị trí, vai trò, sự hưởng
ứng, một số đề xuất, kiến nghị của tỉnh Quảng Trị đối với việc xây dựng và phát
triển Hành lang kinh tế Đông Tây; Trần Văn Minh, “Vai trò của thành phố Đà
Nẵng với việc xây dựng và phát triển tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây”, Tạp chí
Đông Nam Á, số 11, 2008, đề cập tới lợi ích của EWEC, vị trí, vai trò, kết qủa hợp
tác, các giải pháp để tăng cường hiệu quả hợp tác của thành phố Đà Nẵng trên Hành
lang kinh tế Đông Tây; Nguyễn Hoàng Giáp, Mai Hoàng Anh, “Quan điểm và đối
sách của Việt Nam về hành lang kinh tế Đông -Tây”, Tạp chí Đông Nam Á, số 11,
2008, đề cập khái quát về EWEC, các quan điểm, chính sách của Việt Nam về phát
triển Hành lang kinh tế Đông Tây, những trở ngại và khuyến nghị để phát huy hơn
nữa vai trò và vị thế của Việt Nam trên Hành lang kinh tế Đông Tây; Trương Duy

Trong các bài viết của các nhà lãnh đạo các nước Việt Nam, Lào, Thái Lan,
Myanmar cũng đề cập tới quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang
kinh tế Đông Tây. Đây là những cơ sở để nghiên cứu, đánh giá sự hưởng ứng và tham
gia hợp tác của các nước và các địa phương nằm dọc EWEC.
Nhìn chung, ưu điểm nổi bật của các công trình này là trình bày tập trung mối
quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 -
2010). Tuy vậy, hạn chế của các bài nghiên cứu là thiếu tính toàn diện, khái quát và
theo tiến trình từ năm 1998 đến năm 2010.
Có thể nói, cho đến năm 2010 chưa có một công trình khoa học nào nghiên
cứu về tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây
dưới góc độ Sử học một cách tổng thể, toàn diện, có luận cứ khoa học sâu sắc.
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước,
luận án nghiên cứu về tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh
tế Đông Tây trong giai đoạn 1998 - 2010 một cách tổng thể, toàn diện, có luận cứ
khoa học sâu sắc để đưa ra các gợi ý chính sách cho các nước thuộc EWEC nói
riêng, GMS nói chung và nhất là gợi mở chính sách cho chính phủ Việt Nam nhằm
thúc đẩy và tăng cường hiệu quả hợp tác trên Hành lang kinh tế Đông Tây.
3. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
10
Bằng phương pháp chuyên ngành kết hợp với các phương pháp liên ngành,
đề tài sẽ phản ánh tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế
Đông Tây từ năm 1998 đến năm 2010 đi từ cơ sở hình thành, thực trạng hợp tác đến
tác động của tiến trình này đối với các chủ thể, các cơ chế hợp tác khác và bước đầu
dự báo triển vọng của hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông
Tây trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu của đề tài, tác giả luận án sẽ thực hiện các nhiệm vụ cơ
bản sau đây:
- Trình bày khái quát về những cơ sở của hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc

nước và Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; các văn kiện chính
thức của chính phủ các nước ASEAN về chính sách đối ngoại; Các văn bản chính
thức về các Hiệp định, những qui định và nguyên tắc tổ chức, hoạt động, thể chế của
tổ chức ASEAN; Các văn bản chính thức về quan hệ song phương giữa Việt Nam
với các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây; các số liệu thống kê từ các nguồn
của chính phủ và các địa phương các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây; các
số liệu của các nước có quan hệ kinh tế với các nước và các địa phương thuộc Hành
lang kinh tế Đông Tây.
- Các bài phát biểu, các tuyên bố chung của các nhà lãnh đạo các nước nói về tiến
trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010).
- Các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, các nhà bình luận, phân
tích trong và ngoài nước bằng tiếng Việt, tiếng Anh.
- Các sách về lịch sử thế giới cận hiện đại, lịch sử quan hệ ngoại giao, lịch sử
quan hệ quốc tế, lịch sử các nước Đông Nam Á, quan hệ kinh tế quốc tế làm cơ sở
kiến thức để đi sâu vào đề tài.
- Các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử,
Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, Tạp chí Những
vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới ; các bài nghiên cứu trong các Hội thảo quốc tế
và trong nước về tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế
Đông Tây (1998 - 2010).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
12
Phương pháp luận: Quán triệt phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong nghiên cứu
lịch sử quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại.
5.2.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở quan điểm lịch sử cụ thể, luận án chú
trọng phương pháp lịch sử và phương pháp logic trong nghiên cứu tiến trình hợp tác
kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010). Cùng với hệ

- Hơn thế, đề tài còn có thể giúp ích cho các nhà quản lý ở các nước và các
địa phương thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây trong việc hoạch định các chủ
trương, biện pháp để nâng cao hiệu quả hợp tác, đẩy mạnh sự phát triển của nước
mình, địa phương mình.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận án được
cấu tạo trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở của hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế
Đông Tây
Chương 2: Sự tiến triển của các lĩnh vực hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc
Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010)
Chương 3: Một số nhận xét về tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc
Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010).
14
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ CỦA HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CÁC NƯỚC
THUỘC HÀNH LANG KINH TẾ ĐÔNG TÂY
1.1. Một số cơ sở lý thuyết về quan hệ kinh tế quốc tế
1.1.1. Khái niệm về hợp tác và hội nhập kinh tế khu vực
Hợp tác kinh tế khu vực là quá trình thông qua đó hai hay nhiều nước theo
đuổi mục đích hoặc mục tiêu phát triển chung thông qua các hoạt động chung, phối
hợp chung và đồng bộ. Hợp tác kinh tế vùng nói chung bao gồm các hoạt động hợp
tác theo từng nội dung cụ thể với các chương trình và dự án hợp tác kinh tế trong
vùng.
Hội nhập kinh tế khu vực là quá trình các nước trong khu vực thực hiện mô
hình kinh tế mở, tự nguyện tham gia vào các định chế kinh tế quốc tế, thực hiện
thuận lợi hoá thương mại, đầu tư; các nền kinh tế khu vực được kết nối với nhau một
cách chặt chẽ thông qua di chuyển các nguồn lực [59, tr8].
Hội nhập bao gồm 5 cấp độ: Khu vực thương mại ưu đãi (có chính sách thuế
quan ưu đãi một phần cho nhau); Khu vực thương mại tự do (các thành viên dỡ bỏ

do vậy, mỗi nước EWEC đều có những lợi thế so sánh riêng. Thực tế cho thấy, các
nước EWEC là các nước nghèo nhưng có nhiều lợi thế so sánh như: nhân công rẻ,
tài nguyên phong phú, chi phí sản xuất thấp, văn hóa đa dạng, lịch sử lâu đời, đa
dạng sinh thái Đó chính là những lợi thế so sánh mà các nước EWEC cần phát huy
để phát triển kinh tế của mình. Hợp tác kinh tế EWEC có vai trò quan trọng tạo ra sự
hợp tác sâu, rộng, đa dạng và cũng tạo ra thị trường rộng lớn hơn, ít rào cản hơn,
điều kiện tốt cho sự phát triển của các nước dọc theo EWEC.
Các nước EWEC muốn tối đa hóa hiệu quả hợp tác EWEC thì phải vận dụng
cơ sở của lý thuyết này để phát huy lợi thế so sánh của chính mình và của EWEC
trong sản xuất, kinh doanh, thương mại và đầu tư góp phần nâng cao hiệu quả sản
xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội cho từng nước và cho cả EWEC.
1.1.3. Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của quốc gia
Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của quốc gia của Michael E. Porter là một lý
thuyết mới về lợi thế cạnh tranh quốc gia.Lý thuyết chứa đựng quan điểm mới về lợi
thế cạnh tranh quốc gia, giúp giải thích tại sao nhiều quốc gia thành công, nhiều
công ty thành công trong một số ngành của nền kinh tế. Quan niệm và ý tưởng của
lý thuyết này có thể áp dụng cho các đơn vị, tổ chức hay lãnh thổ trong một quốc
16
gia. Lý thuyết này nhấn mạnh Chính sách của Chính phủ ở cấp quốc gia hay ở cấp
địa phương chiếm vai trò quan trọng trong việc hình thành lợi thế của quốc gia đó
[59, tr13]. Các nước GMS nói chung và EWEC nói riêng phải vận dụng lý thuyết
này để hình thành các chính sách nâng cao lợi thế cạnh tranh của công ty, của quốc
gia và của cả EWEC hoặc GMS.
1.1.4. Thuyết tự do thương mại
Nội dung chính của lý thuyết này đề cập tới ý tưởng: Để cho thị trường vận
hành theo cơ chế cạnh tranh tự do, nhà nước không can thiệp và có như vậy nền kinh
tế mới có hiệu quả thực sự. Thương mại quốc tế được hoạt động trong một hệ thống
thương mại tự do không có hàng rào thuế quan, mỗi nước sẽ dành vốn và nguồn lực
của mình vào việc sản xuất những mặt hàng có lợi thế hơn so với các nước khác.
Điều này sẽ có lợi cho tất cả các quốc gia và sản xuất liên kết các nền kinh tế quốc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status