Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến kinh tế Việt Nam Chính sách khắc phục kinh tế của Việt Nam trước cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008 - Pdf 33

KHỦNG HOẢNG TÀI
CHÍNH TOÀN CẦU
ĐẾN ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI VÀ
VIỆT NAM
Nhóm15
K084020135 K08402A Đoàn Văn Hiệp
K084020116 K08402A Nguyễn Thị Lan Chi
K084020120 K08402A Nguyễn Văn Dũng
K084020164 K08402A Phạm Minh Nghiệp
K084020204 K08402A Bùi Thị Liên Tri

GVBM: LÊ TUÁN LỘC
LỜI MỞ ĐẦU
Gần 25 năm đổi mới và phát triển, Việt Nam đã đạt được những thành tựu hết sức ấn tượng
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội. Từ một nước có nền kinh tế kém phát
triển, xuất phát điểm và tốc độ tăng trưởng rất thấp, đến nay Việt Nam đã trở thành một trong
những nước có tốc độ tăng trưởng cao và khá ổn định trong khu vực và trên thế giới. Đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) đã và luôn được nhìn nhận như là một trong những trụ cột đóng
góp có hiệu quả vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Trong suốt thời kỳ tiến hành đổi mới
kinh tế, FDI luôn chiếm khoảng 16%-20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam. Bên
cạnh việc bổ sung nguồn vốn đầu tư, FDI là kênh quan trọng để thực hiện chuyển giao công
nghệ và kỹ năng quản lý, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực và
đăc biệt, góp phần tích cực thúc đẩy Việt Nam hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới và
khu vực. Điều đáng chú ý nhất là sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ
chức thương mại thế giới (WTO) và cùng với việc cải thiện mạnh mẽ khuôn khổ luật pháp về
đầu tư và môi trường kinh doanh từ cuối năm 2006, Việt Nam đã có bước bứt phá ngoạn mục
bằng làn sóng thứ hai về thu hút FDI với đỉnh cao của nó là năm 2008, lần đầu tiên đạt được
con số thu hút FDI kỷ lục: hơn 64 tỷ USD vốn đăng ký và trên 11,4 tỷ USD vốn thực hiện.
Tuy nhiên, chiều hướng này đã không thể tiếp tục khi thế giới từ nửa cuối năm 2008 đã phải
đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu “trăm năm mới có một lần”. Cuộc khủng

• Kết quả đạt được của Việt Nam sau thời kì khủng hoảng
• Đầu tư phát triển
• Lạm phát và giá cả:
• Thu chi ngân sách
• Xuất nhập khẩu và cán cân thương mại
• An sinh xã hội :
• Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
3
I GIỚI THIỆU CUỘC KHỦNG HOẢNG
Như chúng ta đã thấy răng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đạt kỷ lục vào
năm 2008 với trên 64 tỷ USD tăng 222% so với năm 2007, tình hình trên thế giới cùng
thời điểm theo nhận định nhiều chuyên gia diễn biến của thị trường bất động sản năm
2008 là năm kỳ lạ nhất từ trước đến giờ, giá nhà đất liên tục xụt giảm, chứ không như
trước đây giá nhà đất chỉ đứng yên và có chiều hướng đi lên chứ không bao giờ đi
xuống…và cũng chính năm này đây đã xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính có tầm ảnh
hưởng đến hầu như tất cả các nước trên thế giới và nhất là các nước có nền kinh tế
mạnh…như Mỹ, EU…và đặc biệt là hàng loạt các sự kiện sảy ra ở phố Wall nổi bật là
lehman Brothers, American International Group đã xụp đổ trong năm nay…tại sao chỉ
trong năm 2008 này sảy ra hàng loạt các sự kiện tài chính kinh điển chúng ta hãy tìm
hiểu nguyên nhân tại sao, tác động của nó đến nền kinh tế như thế nào và cùng tìm ra
các biện pháp tốt nhất cho các quốc gia…
II NGUYÊN NHÂN CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2008
 Cuối năm 2001, khi nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái, FED đã liên tục cắt giảm
lãi suất. Chính sách tiền tệ mở rộng đã khuyếch trương các hoạt động kinh tế. Đến
giữa năm 2002, nền kinh tế đã thực sự phục hồi nhưng mối lo ngại về việc suy thoái có
thể quay trở lại đã khiến Chủ tịch FED, Alan Greenspan, và đồng nghiệp quyết định
giữ nguyên lãi suất chỉ đạo ở mức 1% trong suốt 2 năm 2003 và 2004.
 Hơn nữa giá nhà từ cuối năm 2002 lại liên tục tăng, khiến cho tất cả các chủ thể
đầu muốn kiếm lợi từ hoạt động kinh doanh này đặc biệt là các dân ngèo muốn đổi
đời, vay tiền ngân hàng với lãi suất thấp và đầu tư mua bất động sản.

thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham
gia quản lý hoạt động đầu tư”.
Như vậy, theo đó, đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign Portfolio Investment, hay
thường được viết tắt là FPI) là hình thức đầu tư gián tiếp xuyên biên giới. Nó chỉ các
hoạt động mua tài sản tài chính của nước ngoài nhằm kiếm lời. Hình thức đầu tư này
không kèm theo việc tham gia vào các hoạt động quản lý và nghiệp vụ của doanh
nghiệp.
2. Các loại hình FPI:
Các hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài bao gồm: Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu
và các loại giấy tờ có giá khác thông qua quỹ đầu tư chứng khoán hoặc thông qua các
định chế tài chính trung gian khác.
Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đổ vào các nước tồn tại dưới các loại quỹ hoặc các
công ty tài chính dưới một số dạng như:
Quỹ tương hỗ: Là quỹ được điều hành bởi công ty đầu tư nhằm huy động vốn
cổ đông và đầu tư vào chứng khoán, trái phiếu, hợp đồng option, hàng hoá hay các
chứng khoán trên thị trường tiền tệ, thường phát hành chứng khoán quỹ để huy động
5
vốn. Đây là một loại chứng khoán tạo cơ hội cho các nhà đầu tư nhỏ có khả năng tiếp
cận với một danh mục đầu tư đa dạng và có một sự quản lý chuyên môn. Mỗi cổ đông
đều có cơ hội được hưởng lãi từ hoạt động đầu tư của quỹ nhưng đồng thời cũng phải
chịu lỗ nếu như đầu tư không thành công.
Quỹ trợ cấp và hưu bổng: được thành lập để tạo nguồn thu nhập cho những
người về hưu và không còn khả năng làm việc. Các quỹ này nhận tiền đóng góp của
công nhân, chủ doanh nghiệp và sử dụng nguồn ngân quỹ có được đầu tư vào cá loại
trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc, trái phiếu đô thị, đầu vào cổ phiếu, trái phiếu
của doanh nghiệp. Các loại quỹ này thường có quy mô nhỏ do đó việc đầu tư bị hạn
chế.
Công ty bảo hiểm (Insurance Firm): gồm bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi
nhân thọ (bảo hiểm trách nhiệm và tài sản). Các công ty bảo hiểm có ưu điểm nổi bật
là có tiềm lực tài chính mạnh nên khả năng đầu tư lớn nhưng lại có rủi ro cao, do đặc

nước.
- Sự phát triển của hệ thống tiền tệ và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nói riêng,
của các thể chế thị trường nói chung ở nước tiếp nhận đầu tư.
Ngoài ra dòng FPI cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các yếu tố khác như:
- Sự phát triển và độ mở cửa của thị trường chứng khoán, chất lượng của các cổ
phiếu, trái phiếu do doanh nghiệp và Nhà nước phát hành, cũng như các chứng
khoán có giá khác lưu thông trên thị trường tài chính.
- Sự đa dạng và vận hành có hiệu quả của các định chế tài chính trung gian (trước
hết là quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư tài chính các loại, các quỹ đầu tư đại
chúng, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ thành viên).
- Sự phát triển và chất lượng của hệ thống thông tin và dịch vụ chứng khoán,
trong đó có các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vẫn và dịch vụ định mức hệ số tín
nhiệm của doanh nghiệp và chứng khoán do doanh nghiệp phát hành.
Dòng FPI tỷ lệ thuận theo cấp số nhân cũng với sự gia tăng quá trình cổ phần hóa các
doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt
động hiệu quả ở trong nước, cùng với việc mở rộng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các nhà đầu
tư nước ngoài trong doanh nghiệp.
4. Thực trạng đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2006-2008:
Giai đoạn hậu WTO: năm 2006 đánh dấu thời điểm Việt Nam gia nhập WTO,
đây là một dấu mốc quan trọng cho đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Ở giai
đoạn này, cùng với sự đi lên của thị trường chứng khoán, luồng vốn liên tục tăng
nhanh và liên tục thu hoạch thành công. Có 19 công ty quản lý quỹ được hình thành và
trên 1000 nhà đầu tư trên khắp thế giới đăng ký tài khoản tại Việt Nam, trong đó có
7
nhiều công ty đa quốc gia. Chỉ riêng thời điểm cuối năm 2006, vốn FPI là trên 2 tỷ
USD, cao hơn tất cả các giai đoạn trước cộng lại, và đến năm 2007 đạt đến mức kỷ
lục, khoảng 8 tỷ USD. Vào giai đoạn này, lượng đầu tư chủ yếu vào thị trường trái
phiếu. Việc bùng nổ FPI góp phần thúc đẩy hệ thống ngân hàng Việt Nam phát triển
mạnh.
5. Sự cần thiết và tiềm năng thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) tại Việt Nam

doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam thời kỳ hậu WTO là vấn đề cần được quan tâm.
8
b. Tiềm năng thu hút FII
Theo khảo sát của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) gần đây cho thấy, vào năm 2001 lợi
nhuận từ vốn FII thế giới tăng gấp 2 lần vốn FDI. Trong vòng 4 năm, đầu tư gián tiếp
toàn cầu đã tăng 2 lần; nước có tỷ trọng đầu tư gián tiếp lớn nhất là Mỹ chiếm 24,5%,
tiếp đó là Anh chiếm 10%. Dòng vốn FII đang trỗi dậy mạnh mẽ sau cuộc khủng
hoảng tài chính 1997 và đang chuyển hướng đầu tư sang các quốc gia đang phát triển
có tiềm năng, nhằm hạn chế các rủi ro đầu tư.
Hiện có khoảng trên 100 định chế đầu tư tài chính chuyên nghiệp trên thế giới đang
quản lý một khối lượng tài sản khổng lồ, khoảng 300 tỷ USD. Chỉ cần họ chấp nhận
đầu tư vào Việt Nam 0,1% là chúng ta đã có khoảng 300 triệu USD.
Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, các yếu tố sản xuất trong quá trình tái sản xuất hàng
hóa, dịch vụ được dịch chuyển tự do hơn từ nơi này sang nơi khác, nhằm phát huy lợi
thế so sánh của mỗi quốc gia thông qua các cam kết mở cửa thị trường. Việt Nam đang
nổi lên như một quốc gia có nhiều tiềm năng thu hút đầu tư nước ngoài. Bên cạnh vị trí
địa lý thuận lợi, chính trị ổn định, tiềm năng tăng trưởng kinh tế dài hạn, Việt Nam còn
là một quốc gia có nhiều lợi thế so sánh hấp dẫn nhà đầu tư như: nguồn lao động, thị
trường, tài nguyên. Hơn nữa, vận nước đang lên, Việt Nam ngày càng khẳng định vai
trò, vị trí và tầm quan trọng của mình trên bản đồ kinh tế khu vực và thế giới. Sự quan
tâm của khu vực và thế giới tới Việt Nam, đặc biệt là thời điểm Việt Nam gia nhập
WTO, cộng với sự thành công của các nhà đầu tư hiện hữu tại đây sẽ mở ra cơ hội lớn
trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Nhìn chung, nguồn vốn đầu tư gián tiếp (FII) là một tiềm năng rất lớn đối với thu hút
vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam. Với các yếu tố thuận lợi khách quan, Việt Nam
hoàn toàn có khả năng khai thác tiềm năng dòng chảy vốn FII của thế giới phục vụ cho
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
c. Thực trạng đầu tư gián tiếp vào Việt Nam
Nước ta đã có những thành công trong thu hút nguồn vốn FDI, nhưng nguồn vốn FII
vẫn còn hạn chế. Sau khủng hoảng năm 1997, nguồn vốn FII vào Việt Nam có xu

1. Prudential
2. Vietnam Enterprise Investment Fund (VEIL)
3. Vietnam Growth Fund (VGF)
4. Vietnam Dragon Fund (VDF)
5. Vietnam Opportunity Fund (VOF)
IV ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP (FDI):
1. Khái niệm:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là hình thức
đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ
sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ
sở sản xuất kinh doanh này.
Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI: “Đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được
một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
10
Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong
phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là
các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là
"công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".”
2. Vai trò của FDI trong 20 năm đổi mới nền kinh tế của Việt Nam vừa qua
2.1. Việt Nam thực hiện Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài (12/1987): trong bối cảnh
phát triển kinh tế - xã hội còn rất thấp. Hạ tầng cơ sở nghèo nàn, khoa học công nghệ lạc
hậu, nguồn nhân lực phần lớn chưa qua đào tạo,…Trong khi đó, nhu cầu phát triển luôn
phải đối mặt với sức ép cần vồn đầu tư, công nghệ tiên tiến, đẩy mạnh xuất khẩu,… để khai
thác lợi thế so sánh nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng cao, giải quyết công ăn việc làm và ổn
định đời sống xã hội. Mặt khác, từ những năm cuối thập kỷ 80 đến hết thập kỷ 90 của thế kỷ
trước, xu hướng đầu tư quốc tế vào các nước đang phát triển chủ yếu tập trung vào các ngành
khai thác, công nghiệp chế tạo và những ngành cần nhiều lao động. Trong bối cảnh phát triển
đó, Việt Nam rất khó thu hút FDI vào các ngành công nghệ cao, sản xuất những sản phẩm có
giá trị gia tăng lớn hoặc vào những ngành phải đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe của bảo

xuất khẩu cả nước; năm 2000 chiếm 25%, năm 2003 chiếm 31%, tính cả dầu thô thì tỷ trọng
này đạt khoảng 54% năm 2004 và chiếm trên 55% trong các năm 2005, 2006 và 2007 (xem
biểu đồ 1).
Biểu đồ 1: Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI trong tổng xuất khẩu của
cả nước (1996-2007)
Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng rất nhanh, từ 18,398 triệu USD năm
1996 tăng lên 30,120 USD năm 2000 và đạt tới 84,015USD năm 2006. Ngay cả trong
những năm xuất khẩu của các ngành kinh tế khác tăng chậm hoặc giảm thì xuất khẩu của
khu vực FDI vẫn tăng cao, nhờ đó duy trì được tốc độ tăng xuất khẩu của cả nước khá cao
trong nhiều năm. Cũng cần lưu ý rằng khu vực FDI có mức thặng dư thương mại khá cao.
Điều đó góp phần làm giảm mức thâm hụt thương mại chung cho cả nền kinh tế.
2.5. Tạo việc làm là những đóng góp quan trọng, không thể phủ nhận của khu vực
FDI. Tính đến năm 2007 khu vực có vốn FDI đã tạo ra việc làm cho trên 1,2 triệu lao động
trực tiếp, trong đó nhiều lao động đã được đào tạo ở trong và ngoài nước. Mặc dù so với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ thì số việc làm được tạo ra còn hạn chế, nhưng “chất lượng” của
lực lượng lao động trong khu vực FDI tốt hơn rõ rệt. Nhiều cán bộ, công nhân trong khu
12
vực FDI đã và đang là những “hạt nhân” để phát triển lực lượng lao động trình độ, tay nghề
cao của Việt Nam. Thêm vào đó, số việc làm tạo ra nhờ hiệu ứng lan tỏa của khu vực FDI
cũng có thể là một con số đáng kể .
2.6. Mặt khác, trong suốt 20 năm qua, FDI đã đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân
sách Nhà nước. Thời kỳ 1996-2000, không kể thu từ dầu thô, các doanh nghiệp FDI đã nộp
ngân sách đạt 1,49 tỷ USD; gấp 4,5 lần 5 năm trước. Trong 5 năm 2001-2005, thu ngân sách
trong khối doanh nghiệp FDI đạt hơn 3,6 tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm. Riêng 2 năm
2006 và 2007 khu vực kinh tế có vốn FDI đã nộp ngân sách đạt trên 3 tỷ USD, gấp đôi thời
kỳ 1996-2000 và bằng 83% thời kỳ 2001-2005.
2.7. Bên cạnh những đóng góp tích cực như đã khái quát trên, FDI cũng đã và đang
tạo ra không ít những vấn đề, tác động tiêu cực, làm bức xúc dư luận xã hội. Chất lượng thu
hút FDI còn thấp, thiếu tính bền vững là một thực tế khó bác bỏ. Biểu hiện rõ nhất của hạn
chế này là phần giá trị gia tăng còn thấp. Như chúng ta đã biết các doanh nghiệp FDI tại

theo “bệnh thành tích”, có tính số lượng. Việc trao quyền cho địa phương trong việc thu hút
FDI một mặt làm tăng tính chủ động của địa phương trong việc vận động, khuyến khích
FDI, song mặt khác cũng tạo ra hiệu ứng cạnh tranh thu hút FDI bằng mọi giá, làm giảm
chất lượng dự án dẫn đến hiện tượng ‘racing to the bottom’. Bên cạnh đó, việc điều chỉnh
chính sách FDI còn khá chậm, chưa phù hợp với bối cảnh phát triển mới của Việt Nam.
3. Bối cảnh phát triển mới của Việt Nam và vai trò của FDI
3.1. Bước sang thế kỷ 21, mở đầu bằng Hiệp định BTA với Hoa Kỳ (2001), Việt
Nam đã chuyển sang giai đoạn phát triển mới, tích luỹ được các điều kiện cần thiết cho phát
triển và hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế toàn cầu. Tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao
(khoảng 8% năm) trong nhiều năm, đã có dự trữ ngoại tệ đáng kể (khoảng 20 tỷ USD năm
2008), cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực đã được cải thiện rõ rệt và vị thế của Việt Nam đã
được nâng cao trong cộng đồng quốc tế. Dù vậy, gần đây nền kinh tế Việt Nam đang phải
đối mặt với nhiều khó khăn thách thức của lạm phát cao, tốc độ tăng trưởng giảm mạnh (dự
kiến 6/5-6.7%).
3.2. Sau 5 năm thực hiện BTA, Việt Nam tiếp tục hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế
toàn cầu và đã trở thành thành viên chính thức của WTO vào năm 2006. Việc gia nhập
WTO đã tạo ra sự “đột phá” trong hội nhập quốc tế của Việt Nam và đã thu hút được sự
quan tâm của đông đảo cộng đồng kinh doanh quốc tế, trong đó đặc biệt là giới đầu tư nước
ngoài. Bối cảnh phát triển mới này đã giúp Việt Nam có nhiều cơ hội được “lựa chọn” các
nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, Việt Nam cũng phải mở cửa hơn cho các nhà đầu tư
nước ngoài và đối mặt với cạnh tranh gay gắt từ việc thực hiện các qui định của WTO.
3.3. Thực trạng và nhu cầu phát triển kinh tế của Việt Nam cũng có nhiều thay đổi
hơn so với thập kỷ của thời kỳ đầu thực hiện chính sách đổi mới. Các lợi thế “có tính tự
nhiên” trong thu hút FDI đã mất dần hấp dẫn. Giá lao động đã tăng cao và xuất hiện nhiều
vụ đình công, thiếu hụt lao động có tay nghề, nhiều lĩnh vực đầu tư thu hồi vốn nhanh, hấp
dẫn đã bão hoà. Cơ sở hạ tầng, năng lượng, dịch vụ kỹ thuật, nguồn nhân lực chưa đáp ứng
được yêu cầu của các nhà đầu tư. Khả năng hấp thụ vốn FDI do vậy đã đến mức ‘bão hòa’.
Mặt khác, trong những năm gần đây, thị trường tài chính ở Việt Nam đã phát triển khá
mạnh và đầu tư nước ngoài gián tiếp (FPI) cũng gia tăng nhanh, dòng vốn FPI ròng ước đạt
khoảng 6 tỷ USD năm 2007, chiếm 50% tổng lượng vốn nước ngoài chảy vào Việt Nam1.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status