LỜI MỞ ĐẦU
Sự phát triển và hội nhập của Việt Nam trong những năm gần đây
không chỉ được nhận thấy ở tốc độ phát triển kinh tế mà còn có thể nhận thấy
được trong phong cách phong cách tiêu dùng, thanh toán của người dân Việt
Nam. Đó là việc ngày càng có nhiều khách hàng sử dụng các phương tiện
thanh toán không dùng tiền mặt, đặc biệt là thẻ. Thẻ xuất hiện ngày càng
nhiều và đa dạng, không chỉ ở thành thị mà còn cả ở nông thôn.
Dịch vụ thẻ là một dịch vụ ngân hàng độc đáo, hiện đại, ra đời và phát
triển dựa trên sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật. Với những tính
năng ưu việt, cung cấp nhiều tiện ích cho khách hàng, dịch vụ thẻ đã nhanh
chóng trở thành dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt phổ biến và được ưa
chuộng hàng đầu trên thế giới. Và nay, thẻ cũng đang dần khẳng định vị trí
của mình trong hoạt động thanh toán tại Việt Nam.
Từ năm 1995, thẻ ngân hàng bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam với những
sản phẩm thẻ đầu tiên do Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phát hành. Đến
nay, tại Việt Nam đã có hơn 20 ngân hàng phát hành thẻ thanh toán, với mức
tăng trưởng bình quân 300%/năm và các sản phẩm ngày càng phong phú, đa
dạng hơn. Đặc biệt, kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của
WTO, nền kinh tế ngày càng phát triển và hội nhập tạo tiền đề thuận lợi cho
lĩnh vực thẻ tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn.
Tuy nhiên, một số vấn đề đặt ra là: Liệu sự tăng trưởng mạnh mẽ của thị
trường thẻ trong những năm qua có quá “nóng” không? Thực chất sự phát
triển ấy có đạt được cân bằng giữa số lượng và chất lượng không? Và hình
thức thanh toán này trong thời gian qua đã đóng góp vào sự phát triển của nền
kinh tế như thế nào? Đã thực sự góp phần làm giảm lượng tiền mặt lưu thông
trong nền kinh tế chưa? Trong giai đoạn lạm phát tăng cao như hiện nay thẻ
ngân hàng có góp phần trong việc làm giảm lạm phát hay không?
Trên cơ sở nhận thức tầm quan trọng, tính hấp dẫn cũng như sự cần
thiết của dịch vụ thẻ tại Việt Nam cũng như tại NHNT Việt Nam, trong thời
bất kì tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
có ghi: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để
cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.”.
1.1.2.Chức năng của NHTM
Hệ thống NHTM ngày nay tiếp tục phát triển không ngừng. Theo đó,
các sản phẩm của NHTM cũng ngày càng đa dạng hơn, phức tạp hơn nhằm
phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, NHTM vẫn mang những
chức năng chính, thể hiện rõ nhất đặc trưng của nó:
1.1.2.1.Trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với 2 loại cá nhân và tổ
chức trong nền kinh tế , đó là: (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt
chi tiêu, họ là những người cần bổ sung vốn; và (2) các cá nhân và tổ chức
thặng dư trong chi tiêu, họ có tiền để tiết kiệm. Như vậy, làm thế nào để tiền
từ nhóm thứ (2) chuyển sang nhóm thứ (1)?
Để giải quyết vấn đề này cần có cơ chế chuyển giao vốn trong nền kinh
tế thị trường
- Chuyển giao trực tiếp từ người thừa vốn sang người thiếu vốn dưới hình
thức Tín dụng Thương mại.
- Chuyển giao gián tiếp từ nơi thừa đến nơi thiếu dưới hình thức tín dụng ngân
hàng thông qua một trung gian tài chính, chính là Ngân hàng Thương mại.
Tuy nhiên, do sự không phù hợp về không gian, quy mô…, quan hệ
chuyển giao trực tiếp có phần bị cản trở, và tất yếu dẫn đến sự ra đời của các
trung gian tài chính – chính là các NHTM.
Khi thực hiện chức năng này, Ngân hàng đóng vai trò là người trung
gian giữa bên đi vay và bên cho vay, tập hợp những người tiết kiệm và đầu tư,
thu hút lượng tiền nhàn rỗi ở khắp nơi trong nền kinh tế hình thành một nguồn
Theo quan điểm hiện đại, đại lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận: tiền
giấy trong lưu thông, số dư trong TKTG giao dịch của khách hàng tại các
ngân hàng, và tiền gửi trên các tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ
hạn.
Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tìa khoản tiền gửi của khách hàng
tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng hoá, dịch vụ. Do đó, bằng việc
cho vay các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán. Toàn bộ hệ thống
ngân hàng cũng tạo ra phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi được mở
rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay.
Năng lực của hệ thống NHTM trong việc tạo tiền không những đáp ứng
nhu cầu tồn tại và phát triển của bản thân hệ thống NHTM - tăng cường
nguồn vốn để hoạt động - mà còn chứa đựng một ý nghĩa to lớn. Vì chức năng
“tạo tiền” của NHTM chỉ thực hiện được nếu vốn mà NHTM huy động đã
cho vay được và số tiền vay đó phải luân chuyển được trong hệ thống NHTM,
do đó nếu NHTM không tạo được tiền có nghĩa là NHTM không tạo được
điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất. Hậu quả là sản xuất không được
thực hiện, nguồn tích luỹ từ lợi nhuận và các nguồn khác bị hạn chế, các đơn
vị sản xuất lại còn có khả năng gánh chịu tình trạng ứ đọng vốn do thừa vốn
(tạm thời). Còn khi NHTM tăng cường tín dụng, khối lượng tín dụng có xu
hướng tăng, kéo theo xu hướng tăng khối lượng tiền tệ cung ứng cho nền kinh
tế. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng, lượng tiền
gửi mà ngân hàng tạo ra chịu sự tác động trực tiếp của các nhân tố như tỷ lệ
dự trữ bắt buộc, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt qua ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi
không phải là tiền gửi thanh toán…
1.1.3.Các hoạt động cơ bản của NHTM
Nhận tiền gửi
Cho vay
Bảo lãnh
Cho thuê thiết bị trung và dài hạn
Thị trường thẻ thế giới hiện nay đang lưu hành rất nhiều loại thẻ. Theo
từng tiêu thức khác nhau thẻ được chia thành nhiều loại. Tuy nhiên việc phân
loại chỉ mang tính tương đối, chủ yếu để thuận tiện cho công tác phân tích. Có
thể phân loại thẻ dựa trên một số tiêu thức sau:
1.2.2.1.Theo đặc tính kỹ thuật
Theo tiêu thức này thẻ gồm các loại sau:
- Thẻ khắc chữ nổi ( Embossed Card): là loại thẻ mà trên bề mặt của thẻ được
khắc chữ nổi toàn bộ các thông tin cần thiết về chủ thẻ cũng như tài khoản.
Ngày nay, loại thẻ này không còn được sử dụng vì tính chất thô sơ, dễ bị làm
giả.
-Thẻ băng từ ( Magnetic Card): là loại thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật từ
tính, những thông tin của thẻ và chủ thẻ được mã hoá trên bề mặt băng từ ở
mặt sau của thẻ. Hiện nay loại thẻ này đang được sử dụng phổ biến.
- Thẻ thông minh (Smart Card): là loại thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật vi
xử lý tin học, trên thẻ có gắn một con chíp điện tử có cấu trúc như một máy
tính hoàn hảo. Vì vậy thẻ thông minh còn được gọi là thẻ Chíp. Đây là thế hệ
thẻ mới nhất, tân tiến nhất hiện nay với độ an toàn, bảo mật cao.
1.2.2.2.Theo tính chất thanh toán
- Thẻ ghi nợ (Debit Card)- thẻ loại A: là loại thẻ mà chủ thẻ được chi tiêu
trong phạm vi số dư TKTG thanh toán của mình tại NHPH thẻ. Để sử dụng
thẻ này, chủ thẻ phải có 1 TKTG tại ngân hàng. Khi rút tiền tại máy ATM hay
thanh toán tại các ĐVCNT, giá trị của những giao dịch này lập tức được trừ
vào số dư TKTG của chủ thẻ. Do đó, chủ thẻ không phải mở tài khoản đảm
bảo thanh toán thẻ mà sử dụng dựa trên số dư TKTG hoặc hạn mức thấu chi
mà ngân hàng cho phép.
Thẻ ghi nợ gồm 2 loại sau:
+ Thẻ online: là loại thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch ngay lập tức
được khấu trừ vào TKTG của chủ thẻ.
- Thẻ quốc tế (International Card): là loại thẻ không chỉ dùng được tại
quốc gia nó được phát hành mà còn sử dụng được trên phạm vi quốc tế.
1.2.3.Các chủ thể tham gia dịch vụ thẻ của NHTM
1.2.3.1.Ngân hàng phát hành
Ngân hàng phát hành là ngân hàng phát hành thẻ cho các khách hàng có
kết quả thẩm định do chính ngân hàng đó thẩm định đạt yêu cầu, và là ngân
hàng tạo sao kê cho chủ thẻ và quyết toán cho chủ thẻ.
Ngân hàng phát hành có thể liên kết với một tổ chức tài chính tín dụng
khác trong việc phát hành thẻ, để xâm nhập thị trường mới, mở rộng đối
tượng khách hàng. Đó là một cách tận dụng những ưu thế của bên thứ ba về
kinh nghiệm, khả năng am hiểu và xâm nhập thị trường, và vị trí địa lý. Các
ngân hàng tham gia vào việc phát hành này gọi là ngân hàng đại lý.
Mọi khâu tổ chức thực hiện các công việc chính trong quá trình phát
hành thẻ như như quyết định hạn mức tín dụng cho khách hàng, ký kết hợp
đồng và in thẻ đều do ngân hàng phát hành thực hiện, các ngân hàng đại lý chỉ
tham gia vào một phần của quá trình này hành như: nhận đơn xin phát hành
thẻ của khách hàng, hoặc có thể tham gia vào quá trình thẩm định tài chính
của khách hàng dựa trên kinh nghiệm và mối quan hệ sẵn có. Do đó, ngân
hàng phát hành là ngân hàng chịu trách nhiệm chính trong mọi khâu phát
hành thẻ nên đòi hỏi ngân hàng đó phải uy tín lớn, có tiềm lực tài chính mạnh
để có khả năng đầu tư về mọi mặt.
1.2.3.2.Chủ thẻ:
Chủ thẻ là cá nhân hoặc người được uỷ quyền (nếu thẻ do công ty uỷ
quyền sử dụng) có tài khoản tại ngân hàng và được ngân hàng phát hành thẻ.
Tên của chủ thẻ được ghi rõ trên thẻ và được sử dụng thẻ theo các điều khoản
đã ký kết với ngân hàng trong hợp đồng sử dụng thẻ.
Chủ thẻ có 2 kiểu: chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ. Do một tài khoản
thanh toán có thẻ lập 2 thẻ: thẻ chính, thẻ phụ. Hai chủ thẻ đều có quyền thực
hiện các giao dịch thanh toán bằng thẻ, và đều có trách nhiệm thanh toán các
tương đối lớn. Đổi lại khi trở thành một ĐVCNT của ngân hàng, nó sẽ được
ngân hàng cung cấp các thiết bị, máy đọc thẻ POS, ngoài ra các nhân viên sẽ
được ngân hàng đào tạo, hướng dẫn các nghiệp vụ thanh toán hàng hoá, dịch
vụ bằng thẻ cho khách hàng tại đơn vị.
1.2.4.Vai trò của dịch vụ thẻ trong việc phát triển kinh tế - xã hội
1.2.4.1.Đối với ngân hàng
a) Vai trò của thẻ đối với hoạt động huy động vốn của NHTM
Với thẻ ghi nợ, là loại thẻ phát hành dựa trên cơ sở tài khoản tiền gửi mở
tại ngân hàng. Do đó số lượng thẻ phát hành càng nhiều thì số tài khoản tiền
gửi càng tăng, thông qua đó vốn của ngân hàng cũng tăng một khoản tương
ứng. Với thẻ tín dụng, nó cũng là một loại hình tín dụng, là một hình thức đầu
tư nhưng lại có tác dụng làm tăng vốn huy động của ngân hàng. Mặt khác
trong quy chế phát hành, thanh toán thẻ tín dụng, các ĐVCNT đều phải có tài
khoản tại ngân hàng. Mỗi giao dịch phát sinh, ĐVCNT gửi hoá đơn thanh
toán đến ngân hàng và ngân hàng sẽ căn cứ vào đó để ghi có tài khoản tiền
gửi của ĐVCNT. Chính điều này làm tăng số dư tài khoản và tồn quỹ của
ngân hàng. Đến ngày thanh toán theo định kỳ, chủ thẻ sẽ thanh toán toàn bộ
khoản tín dụng làm cho tồn quỹ của ngân hàng sẽ tăng lên trên thực tế. Đây là
một hình thức huy động vốn của ngân hàng vừa là NHPH, vừa là NHTT.
b) Vai trò của thẻ đối với công tác tín dụng của NHTM
Với hình thức thẻ tín dụng, ngân hàng còn có thể thực hiện các khoản cho
vay theo hạn mức tín dụng nhất định, cho phép chủ thẻ chi tiêu trong hạn mức
ấy. Sau đó theo định kỳ, ngân hàng sẽ gửi hoá đơn thanh toán cho chủ thẻ.
Nếu chủ thẻ trả đầy đủ ngay thì sẽ không phải trả lãi. Tuy nhiên trên thực tế
chủ thẻ chỉ trả một khoản đủ để duy trì hạn mức. Phần còn lại họ sẵn sàng
chịu lãi nếu mức lãi suất tương đối thấp. Như vậy, với hình thức phát hành thẻ
tín dụng, ngân hàng đã mở rộng hoạt động cho vay, đặc biệt là cho vay tiêu
dùng. Đây là hoạt động tín dụng và đầu tư an toàn, nhanh chóng và hiệu quả
do khoản vay này dựa vào uy tín hoặc khả năng tài chính cao của chủ thẻ.
thu được lợi nhuận lớn từ hoạt động thu phí thanh toán thẻ. Bên cạnh đó,
riêng với thẻ ghi nợ, khi thanh toán thì khách hàng sử dụng chính số dư trong
tài khoản của mình ở ngân hàng, nên ngân hàng không phải bỏ vốn kinh
doanh mà vẫn thu được lợi nhuận. Đối với thẻ tín dụng, ngân hàng phải ứng
trước cho khách hàng nhưng trong một thời gian ngắn đã thu hồi được số vốn
bỏ ra một cách an toàn, thuận tiện. Với các giao dịch thanh toán tại các
ĐVCNT thì ngân hàng sẽ không thu phí giao dịch của chủ thẻ. Tuy nhiên,
ngân hàng vẫn đảm bảo một nguồn thu hợp lý từ hoạt động này vì trong hợp
đồng giữa ngân hàng và ĐVCNT có quy định một mức phí nhất định đối với
ĐVCNT tính trên giá trị mỗi giao dịch mà chủ thẻ thanh toán tại ĐVCNT.
Đặc biệt, hàng năm ngân hàng còn thu nhập lớn từ khoản phí thường niên
do chủ thẻ chi trả cho việc sở hữu thẻ của ngân hàng. Khoản thu lớn nhất của
ngân hàng khi tham gia thanh toán thẻ là phần chiết khấu thương mại mà ngân
hàng được hưởng do thanh toán hộ các tổ chức phát hành. Một nguồn thu nữa
ngoài phí phát hành và thanh toán thẻ là các khoản thu từ phí tra soát, phí cấp
lại thẻ, phí tăng mức tín dụng tạm thời… Khoản thu này không cố định nhưng
cũng tạo ra nguồn thu đáng kể cho ngân hàng. Tất cả các khoản thu nhập từ
nghiệp vụ thẻ có thể đem đến cho ngân hàng một tỷ suất sinh lời lên đến
20% /năm tính trên tổng các khoản thu từ dịch vụ. Vì thế mà thị trường thẻ
hết sức sôi động và có tính cạnh tranh cao. Các ngân hàng bằng cách này hay
cách khác đều háo hức nhảy vào thị trường thẻ.
e) Vai trò của thẻ đối với một số hoạt động khác của NHTM
Dịch vụ thẻ đã góp phần đa dạng hoá danh mục sản phẩm dịch vụ của ngân
hàng, do đó hạn chế được những rủi ro trong kinh doanh theo nguyên tắc “
không bỏ tất cả trứng vào một giỏ”. Với những tiện ích mà thẻ mang lại cho
người sử dụng, thanh toán thẻ đang là phương thức thanh toán phổ biến và rất
được ưa chuộng nên làm tăng tính hấp dẫn của ngân hàng. Chất lượng dịch vụ
thẻ càng cao thể hiện trình độ kỹ thuật, công nghệ càng hiện đại, khả năng
đáp ứng nhu cầu của khách hàng càng lớn, càng được khách hàng đánh giá
chủ thẻ có thể dễ dàng mang theo người để sử dụng. Khi thanh toán tại các
ĐVCNT, chủ thẻ chỉ cần xuất trình thẻ và ký vào hoá đơn thì coi như việc
mua bán đã hoàn tất. Với thẻ ghi nợ, khách hàng tự thực hiện giao dịch với
ngân hàng thông qua các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc tại các ĐVCNT.
Được hưởng nhiều dịch vụ đi kèm:
Hiện nay, các tổ chức thẻ quốc tế đang ngày càng đa dạng hoá loại hình
phục vụ của mình nhằm đem lại độ thoả dụng cao nhất cho khách hàng.
Chẳng hạn như chủ thẻ sẽ được hưởng các dịch vụ bảo hiểm, đặt vé máy bay,
thanh toán hoá đơn tiền điện, nước, điện thoại hoặc các dịch vụ chăm sóc sức
khoẻ…
1.2.4.3.Đối với ĐVCNT
Tăng doanh số bán hàng do thu hút được nhiều khách hàng và hầu hết các
khách hàng có mức chi tiêu cao.
Chấp nhận thanh toán bằng thẻ là cung cấp cho khách hàng một phương
thức thanh toán hiện đại, nhanh chóng, tiện lợi và khách hàng thấy rõ được
tính chuyên nghiệp trong thanh toán của cơ sở kinh doanh. Do đó khả năng
thu hút khách hàng sẽ tăng lên. Mặt khác, những khách hàng thanh toán bằng
thẻ, nhất là thẻ tín dụng quốc tế thường là những người có mức chi tiêu cao,
một khi thanh toán bằng thẻ họ luôn có sẵn tiền trong tài khoản và dễ dàng chi
tiêu theo ý thích.
Tiết kiệm chi phí ,dễ quản lý: Với việc chấp nhận thanh toán bằng thẻ,
ĐVCNT có khả năng giảm các khoản chi phí về tiền mặt như kiểm đếm,
bảo quản, nộp vào tài khoản ngân hàng… Chỉ với vài thao tác đơn giản, là
đã thu được tiền mà không phải trả lại tiền thừa và nạp luôn vào tài khoản
ngân hàng. Tiết kiệm được rất nhiều thời gian, do đó giảm được chi phí
nhân công cho ĐVCNT…
An toàn: tránh được rủi ro tiền giả và nguy cơ bị trộm, cướp tiền mặt hay
séc tại đơn vị cung cấp hàng hoá, dịch vụ.
Tăng vòng quay vốn: Khi dữ liệu về giao dịch thanh toán được truyền tới
đào tạo nhân lực, thu hút nhân tài thì ngân hàng đó sẽ chiếm được lợi thế
trong kinh doanh thẻ.
1.3.1.2.Năng lực tài chính và tình độ kỹ thuật công nghệ của ngân hàng
Dịch vụ thẻ là một dịch vụ ngân hàng hiện đại, nó gắn liền với sự phát
triển của kỹ thuật công nghệ. Mọi khâu trong quy trình kinh doanh thẻ đều
cần có những công nghệ hiện đại, từ sản xuất thẻ đến việc lắp đặt những thiết
bị hiện đại phục vụ cho hoạt động thanh toán thẻ như các thiết bị đầu cuối,
máy ATM, máy đọc thẻ (POS). Trong ngành kinh doanh thẻ, những ngân
hàng nào có được những sản phẩm thẻ tốt, nhiều tiện ích và an toàn thì mới
được khách hàng ưa chuộng và tin tưởng sử dụng. Và để có được những công
nghệ hiện đại , ngân hàng thực sự cần có một nguồn tài chính lớn. Có làm
được như vậy thì mới có thể cạnh tranh được trong môi trường khoa học công
nghệ phát triển như vũ bão hiện nay.
1.3.1.3.Định hướng phát triển của ngân hàng
Định hướng của ngân hàng cũng là một yếu tố quan trọng trong phát
triển dịch vụ thẻ. Với những hoạt động cơ bản giống nhau nhưng mỗi ngân
hàng có một hướng phát triển khác nhau dựa trên những thế mạnh riêng có
của mình. Và bản thân mỗi ngân hàng trong những thời kỳ khác nhau sẽ có
những mục tiêu khác nhau. Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ sẽ được
mở rộng khi ngân hàng chú trọng đến dịch vụ thẻ. Ngân hàng phải xây dựng
cho mình một chương trình mang tính chiến lược triển khai trong một thời
gian dài dựa trên cơ sở điều tra, khảo sát các đối tượng khách hàng mục tiêu,
môi trường cạnh tranh…và dựa vào nội lực của chính mình.
1.3.2.Nhân tố bên ngoài ngân hàng
1.3.2.1.Môi trường dân cư
Thói quen tiêu dùng của dân cư ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của thẻ.
Thị trường thẻ chỉ thực sự phát triển khi người dân nhân thấy tính ưu việt khi
tiêu dùng bằng thẻ so với tiêu dùng bằng tiền mặt. Bên cạnh đó trình độ dân
trí cũng đóng một vai trò quan trọng. Thẻ là sản phẩm của công nghệ hiện đại,
được gắn với các băng từ hay các chíp điện tử mang những thông tin cần
thiết, và không có khả năng thanh toán tự động nếu nó không được đưa vào
máy đọc tại các ĐVCNT, máy ATM và hệ thống máy tính kết nối với các
trung tâm phát hành và thanh toán thẻ. Như vậy, môi trường công nghệ càng
phát triển thì thẻ càng được gia tăng tiện ích, tăng tính bảo mật, do đó sẽ thu
hút đông đảo người dân tham gia sử dụng dịch vụ thẻ.
1.3.2.5.Môi trường pháp lý
Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ của các ngân hàng phụ thuộc rất
nhiều vào môi trường pháp lý của mỗi quốc gia. Môi trường pháp lý là hàng
rào nghiêm ngặt bảo vệ lợi ích của các bên tham gia dịch vụ thẻ, nhưng cũng
là yếu tố ngăn cản sự phát triển của dịch vụ thẻ nếu không có sự thống nhất
giữa các văn bản điều chỉnh. Một hành lang pháp lý thống nhất sẽ tạo cho các
ngân hàng sự chủ động khi tham gia vào thị trường thẻ cũng như việc đề ra
các chiến lược kinh doanh của mình. Qua đó củng cố nền tảng vững chắc cho
phát triển dịch vụ thẻ trong tương lai.
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG DỊCH VỤ THẺ TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG
CHI NHÁNH THĂNG LONG
2.1.TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG CHI NHÁNH
THĂNG LONG
Tên đầy đủ: Ngân hàng Ngoại thương Chi nhánh Thăng Long
Tên tiếng Anh: Vietcombank Thanglong Branch
Địa chỉ: Số 98, đường Hoàng Quốc Việt, quận Cầu Giấy, Hà Nội
2.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển của NHNT Chi nhánh Thăng Long
Là một trong những ngân hàng thành lập đầu tiên của Việt Nam, Ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam với bề dày lịch sử hơn 40 năm hiện đang là một
trong những ngân hàng hàng đầu Việt Nam về mọi mặt. Trong quá trình phát
triển của mình NHNT có chi nhánh ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước
bao gồm cả chi nhánh cấp một, chi nhánh cấp hai và hệ thống các phòng giao
yếu dựa vào các nghiệp vụ mà phòng đảm nhận.
- Các phòng nghiệp vụ tại trụ sở chính
Để triển khai thực hiện đề án hiện đại hóa ngân hàng theo đúng tiến độ
quy trình của NHNT Việt Nam , cơ cấu tổ chức chi nhánh Thăng Long có 4
phòng ban đảm nhiệm các nội dung hoạt động khác nhau. Có thể trình bày sơ
đồ tổ chức của NHNT Chi nhánh Thăng Long như sau:
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức của NHNT Chi nhánh Thăng Long
- Các Phòng giao dịch
+ Phòng giao dịch Kim Liên - Ô chợ dừa.
+ Phòng giao dịch Lê Văn Lương.
2.1.2.2. Về nhân sự
- Cán bộ CNV ký HĐ chính thức tại chi nhánh: 65 người
- Cán bộ CNV thử việc: 10 người
Tổng cộng 75 cán bộ CNV. Trong đó:
+ Ban Giám đốc: 2 người ( 01 Giám đốc và 01 phó Giám đốc)
+ Các Trưởng, Phó phòng : 11 người
+ Cán bộ: 62 cán bộ
- Về trình độ: Hầu hết nhân sự của NHNTTL đều có trình độ từ Đại học trở
lên, cụ thể: Thạc sĩ có 06 người, đại học có 61 người, chiếm gần 90%; cao
đẳng 4 người, trung cấp 4 người.
BAN GIÁM ĐỐC
Phòng
Quan hệ
khách
hàng
Phòng
Kế toán
– thanh
toán và
Bảng 2.1: Cơ cấu huy động theo loại tiền
Đơn vị: tỷ VND,triệu USD
Chỉ tiêu Năm2005 Năm 2006 2006/2005 Năm 2007 2007/2006