Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử tại Việt Nam - Pdf 29

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ năm 1986, nhà nước ta bắt đầu thực hiện chương trình cải cách kinh tế toàn
diện, Việt nam đã từng bước mở cửa và hội nhập quốc tế. Lần lượt gia nhập khối
ASEAN vào tháng 7/1995, gia nhập APEC vào tháng 11/1998, và gia nhập tổ chức
thương mại thế giới WTO tháng 11/2006. Cùng với quá trình đổi mới, hội nhập của đất
nước, ngành Hải quan đứng trước thử thách rất lớn, đòi hỏi hiện đại hoá công tác quản
lý, bắt nhịp với tiến bộ không ngừng của Hải quan khu vực và thế giới. Trong những
năm gần đây, ngành Hải quan đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm đơn giản hóa thủ tục hải
quan cho phù hợp với thông lệ và tập quán thương mại quốc tế; tạo thuận lợi cho doanh
nghiệp trong quá trình làm thủ tục hải quan góp phần cải cách thủ tục hành chính, cũng
là giải quyết bài toán khó khăn về quản lý và giải quyết thủ tục hải quan hàng ngày tại
các Chi cục Hải quan. Một trong các biện pháp có tính chất quyết định, làm thay đổi về
cơ bản tư duy quản lý hành chính là triển khai thủ tục hải quan điện tử.
Thủ tục hải quan điện tử là phương pháp quản lý hải quan hiện đại dựa trên nền
tảng ứng dụng công nghệ thông tin và áp dụng quản trị rủi ro. Việc áp dụng quản trị rủi
ro trong thủ tục hải quan điện tử đã làm thay đổi cơ bản về phương thức quản lý, tạo
thuận lợi cho các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật, rút ngắn thời gian thông quan,
giảm các thủ tục giấy tờ, hạn chế việc tiếp xúc giữa doanh nghiệp và công chức hải
quan và quan trọng hơn nữa là tạo ra một môi trường làm việc minh bạch, hiệu quả và
hiện đại hơn.
Quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan đã được các nước tiên tiến trên thế giới
như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Singgapore… áp dụng từ lâu, nhưng tại Việt Nam thì đây là
một kỹ thuật nghiệp vụ hoàn toàn mới mẻ, cần phải nghiên cứu tìm ra những giải pháp
phù hợp để triển khai thành công tại Việt Nam. Chính vì những lý do đó mà tác giả lựa
chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử tại Việt
Nam” để nghiên cứu.
1
2. Tình hình nghiên cứu
Rủi ro và quản trị rủi ro đã được nhiều tác giả kinh điển trên thế giới nghiên cứu
như Willett Allan với tác phẩm The economic theory of risk and insurance

5. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những rủi ro mà ngành Hải quan gặp phải
trong quá trình hoạt động, điều hành và công tác quản trị rủi ro trong quy trình thủ tục
hải quan điện tử ở Việt Nam trong thời điểm hiện nay;
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn về mặt không gian là ngành Hải quan
Việt Nam, có học tập kinh nghiệm của các nước láng giềng; về mặt thời gian là giai
đoạn từ khi ban hành Luật Hải quan năm 2001 đến năm 2012, chủ yếu tập trung vào
giai đoạn 2007-2012, từ khi ban hành “Quy trình quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan
điện tử” của Tổng cục Hải quan.
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này sử dụng phương pháp làm việc tại bàn. Trong luận văn, thông tin
thứ cấp đóng một vai trò quan trọng. Thông tin thứ cấp được lấy từ các nguồn như sách
(bao gồm cả sách tái bản), báo, tạp chí, website, …
Ngoài ra, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp và kỹ năng nghiên cứu
như phương pháp hệ thống hóa, phương pháp thu thập và tổng hợp thông tin, phương
pháp phân tích và so sánh, … Các phương pháp này được kết hợp với nhau để rút ra
những kết luận phục vụ cho đề tài.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu thành ba chương:
Chương 1- Cơ sở lý luận chung về Quản trị rủi ro trong thủ tụ hải quan điện tử.
Chương 2- Thực trạng Quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử tại Việt Nam.
Chương 3 – Một số giải pháp nhằm hoàn thiện Quản trị rủi ro trong thủ tục hải
quan điện tử tại Việt Nam
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO
TRONG THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ
1.1Tổng quan về thủ tục hải quan điện tử
1.1.1 Khái niệm thủ tục hải quan điện tử

warehouse), hàng không được xuất (hoặc nhập) khẩu,… nghĩa vụ của chủ hàng là phải
nghiêm túc thực hiện các quyết định đó. Việc vi phạm các quyết định đó thuộc tội hình sự.
1.1.1.2Khái niệm thủ tục hải quan điện tử
Thủ tục hải quan điện tử được hiểu là những việc phải làm của người có hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu, có phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh hoặc của người
được ủy quyền theo quy định của Luật Hải quan và các luật khác có liên quan, được
thực hiện nhờ ứng dụng công nghệ thông tin thông qua việc sử dụng đường truyền
internet giúp tiết kiệm tối đa thời gian và chi phí.
Như vậy, “Thủ tục hải quan điện tử là thủ tục hải quan trong đó việc khai, tiếp
nhận, xử lý thông tin khai hải quan, trao đổi các thông tin khác theo quy định của pháp
luật về thủ tục hải quan giữa các bên có liên quan thực hiện thông qua Hệ thống xử lý
dữ liệu điện tử hải quan”
3
.
1.1.2 Sự ra đời của thủ tục hải quan điện tử
1.1.2.1 Hải quan thế giới với nhu cầu hiện đại hóa
Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế hiện nay, khi mà thách thức ngày càng
lớn, thương mại và đầu tư sẽ chảy vào những nơi được coi là hiệu quả và thuận lợi.
Đồng thời, thương mại và đầu tư sẽ rút khỏi những nơi bị coi là quan liêu, quản lý
không tốt và chi phí cao. Do đó, hệ thống và quy trình hải quan không được là một rào
cản đối với thương mại quốc tế và tăng trưởng. Thực hiện thủ tục hải quan hiệu quả và
hiệu lực có ảnh hưởng to lớn đến việc thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế nhờ môi
trường thương mại an toàn hơn. Để giải quyết những thách thức này hải quan thế giới
đã có những thay đổi căn bản nhằm hiện đại hóa hải quan, đó chính là cơ sở cho sự ra
đời và triển khai áp dụng thủ tục hải quan điện tử tại hàng loạt nước trên thế giới nhằm
vừa đảm bảo tạo thuận lợi thương mại vừa tăng cường thực thi pháp luật hải quan.
5
1.1.2.2 Hải quan thế giới với thương mại điện tử
Đặt nền móng cho sự ra đời của thủ tục hải quan điện tử còn là sự ra đời và phát
triển nhanh chóng của thương mại điện tử. Thương mại điện tử xuất hiện cùng với sự

như khai hải quan truyền thống. Kết quả phê duyệt và phản hồi của cơ quan hải quan
cũng được gửi trực tiếp cho doanh nghiệp mà không cần doanh nghiệp phải đến cơ
quan hải quan. Các công việc này giúp doanh nghiệp tiết kiệm được rất nhiều thời gian
đi lại và chờ đợi. Đây là lợi ích lớn nhất đối với doanh nghiệp
4 .

• Nhờ tiết kiệm thời gian đi lại và chờ đợi doanh nghiệp cũng tiết kiệm được chi
phí. Nhờ hệ thống tự động phân luồng tờ khai và áp dụng quản trị rủi ro trong thủ tục
hải quan điện tử doanh nghiệp còn tiết kiệm được rất nhiều chi phí nhờ việc giảm kiểm
tra thực tế các lô hàng.
• Khai hải quan điện tử là phù hợp với thông lệ quốc tế nên các doanh nghiệp
trong nước làm việc với các doanh nghiệp nước ngoài sẽ thuận lợi hơn. Việc thực thi
thủ tục hải quan điện tử giúp tăng độ minh bạch của các quyết định quản lý đối với
doanh nghiệp, giảm cơ hội để cán bộ hải quan đưa ra những quyết định tùy ý.
1.2Tổng quan về Quản trị rủi ro
1.1 Khái niệm quản trị rủi ro
1.1 Khái niệm chung về rủi ro
Rủi ro được Allan H. Willett định nghĩa: “rủi ro là sự không chắc chắn về tổn
thất”
1
. Rủi ro cũng được định nghĩa là: “rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất”
5
. Đặc biệt
Fank H.Knight lại có một quan điểm hoàn toàn khác về rủi ro khi coi “rủi ro là sự
không chắc chắn có thể đo lường được”
6
. Như vậy có thể thấy rủi ro là sự kiện không
1
7
may xảy ra luôn gắn liền với hoạt động và môi trường sống của con người.

đắm tầu v.v
- Nguyên nhân của rủi ro bao gồm do các yếu tố khách quan và chủ quan:
+ Rủi ro do các yếu tố khách quan là rủi ro xảy ra ngoài ý muốn của con người và
không thể lường trước hay kiểm soát được. Đây thường là những nguyên nhân xảy ra
từ môi trường tự nhiên như: động đất, cháy nổ, gió, mưa, bão lụt, hạn hán… rủi ro do
khủng hoảng kinh tế hoặc có nguồn gốc từ chính sách kinh tế và điều hành vĩ mô của
chính phủ;
+ Rủi ro do các yếu tố chủ quan là loại rủi ro do hành vi trực tiếp từ con người
hoặc từ các tổ chức kinh doanh. Ví dụ, hệ thống pháp luật luôn thay đổi, thể chế chính
trị không ổn định, quyết định một chính sách quản lý vĩ mô lệch hướng.
- Tác động môi trường vĩ mô gây nên rủi ro: rủi ro do điều kiện tự nhiên, rủi ro
chính trị, rủi ro kinh tế, rủi ro pháp luật, rủi ro văn hóa…
1.2 Khái niệm quản trị rủi ro
Rủi ro xuất hiện ở mọi nơi trong cuộc sống, luôn đe dọa cuộc sống của con
người. Do vậy con người luôn quan tâm và tìm cách đối phó với rủi ro nhằm ngăn
ngừa giảm thiểu rủi ro. Thuật ngữ “quản trị rủi ro” bắt đầu xuất hiện phổ biến từ những
năm 50 của thế kỷ trước, tuy nhiên khái niệm về nó đã từng được đề cập trước đó khá
lâu, vào năm 1916 trong tác phẩm của Henri Fayol, một nhà quản trị học nổi tiếng
người Pháp
7
. Tuy xuất hiện sớm như vậy, nhưng cho đến nay, quan niệm về quản trị
rủi ro vẫn chưa hoàn toàn thống nhất.
Quản trị rủi ro có thể hiểu một cách đơn giản là “quản trị các sự kiện không dự
đoán được, các sự kiện đã gây các hậu quả bất lợi”
8
.
9
Quản trị rủi ro theo quan điểm của Kloman, Haimes và các tác giả khác là việc
đối phó với những sự kiện bất lợi đối với mình hay nói cách khác đó là việc xử lý đối
với những nguy cơ rủi ro có thể xảy ra

phòng ngừa. Đây là công việc phức tạp, bởi không phải mỗi rủi ro chỉ là do một
nguyên nhân đơn nhất gây ra, mà thường do nhiều nguyên nhân, trong đó có những
nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân gần và nguyên nhân xa
Để tìm ra biện pháp phòng ngừa rủi ro một cách hữu hiệu thì cần phân tích rủi ro, tìm
ra các nguyên nhân, rồi tác động đến các nguyên nhân, thay đổi chúng, từ đó sẽ phòng
ngừa được rủi ro.
Nhận dạng được rủi ro là bước khởi đầu của quản trị rủi ro, nhưng rủi ro có rất
nhiều loại, một tổ chức không thể cùng một lúc kiểm soát, phòng ngừa tất cả mọi loại
rủi ro. Từ đó cần phân loại rủi ro, loại nào xuất hiện nhiều, loại nào xuất hiện ít, loại
nào gây ra hậu quả nghiêm trọng, còn loại nào ít nghiêm trọng hơn từ đó có biện
pháp quản trị rủi ro thích hợp. Để làm việc này cần tiến hành đo lường mức độ nghiêm
trọng của rủi ro đối với tổ chức. Để đo lường rủi ro, cần thu thập số liệu và phân tích,
đánh giá theo hai khía cạnh: Tần suất xuất hiện rủi ro và mức độ nghiêm trọng của rủi
ro. Trên cơ sở kết quả thu thập được, lập Ma trận đo lường rủi ro:
Bảng 1.1: Ma trận đo lường rủi ro
Tần suất xuất hiện
Mức độ nghiêm trọng
Cao Thấp
Cao I II
Thấp III IV
Trong đó:
− Tần suất xuất hiện rủi ro là số lần xảy ra tổn thất hay khả năng xảy ra biến cố
nguy hiểm đối với tổ chức trong một khoảng thời gian nhất định, ( thường là năm, quý,
tháng, …)
− Mức độ nghiêm trọng của rủi ro đo bằng những tổn thất, mất mát, nguy hiểm,…
Trên hình 1.1, ta thấy:
11
− Ô I tập trung những rủi ro có mức độ nghiêm trọng cao và tần suất xuất hiện cũng cao;
− Ô II tập trung những rủi ro có mức độ nghiêm trọng cao, nhưng tần suất xuất hiện
thấp;

1.3 Tài trợ rủi ro
Rủi ro có rất nhiều loại, rủi ro có thể xuất hiện ở mọi lúc mọi nơi, rủi ro có thể
đến với bất cứ ai, bất cứ tổ chức nào. Do đó dù phòng bị kỹ đến đâu, dù kiểm soát rủi
ro chặt chẽ cách nào thì cũng không thể né tránh, ngăn chặn hết tất cả mọi tổn thất.
Vậy một khi tổn thất xảy ra thì phải giải quyết bằng cách nào ? Trước hết cần theo dõi,
giám định tổn thất, xác định được chính xác những tổn thất về tài sản, về nguồn lực, về
giá trị pháp lý. Tiếp đó cần có những biện pháp tài trợ rủi ro thích hợp. Các biện pháp
này được chia thành hai nhóm:
- Chấp nhận rủi ro và lập quỹ dự phòng để bù đắp tổn thất nếu rủi ro xảy ra.
- Chuyển giao rủi ro: chuyển tài sản hoặc hoạt động có rủi ro đến cho người khác,
tổ chức khác; chuyển rủi ro thông qua con đường ký hợp đồng với người khác, tổ chức
khác trong đó có quy định chỉ chuyển giao rủi ro.
1.3Công ước Kyoto về quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử
1.1 Sự cần thiết của quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử
1.3.1.1 Khái niệm quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử
Trong thực thi kiểm soát biên giới, mỗi cơ quan Hải quan đều đưa ra những biện
pháp, quy định dựa trên sự hiểu biết, thông tin và kinh nghiệm nhằm phát hiện, ngăn
chặn những hành vi bất hợp pháp. Đây được hiểu là cách làm “truyền thống” của Hải
quan. Việc áp dụng này đã hình thành nên các hình thức kiểm tra rủi ro mang tính thủ
công, đáp ứng các yêu cầu nào đó trong nỗ lực kiểm soát của cơ quan Hải quan.
Thời gian gần đây, mức độ phức tạp, tốc độ và lưu lượng thương mại quốc tế
đang tăng lên do tác động bởi tiến bộ khoa học kỹ thuật đã làm cách mạng hoá các
13
thông lệ thương mại toàn cầu, làm ảnh hưởng một cách đáng kể đến phương pháp quản
lý của Hải quan. Các cơ quan Hải quan đã chuyển đổi phương thức quản lý trong các
lĩnh vực hải quan bằng cách áp dụng một loạt các kỹ thuật quản trị rủi ro, những kỹ
thuật tiên tiến của công nghệ thông tin, hướng các nguồn lực vào các lĩnh vực có nguy
cơ rủi ro, đồng thời qua đó hỗ trợ việc tối đa hoá tính hiệu quả và hiệu lực của công tác
hải quan nhằm tạo thuận lợi hơn nữa cho thương mại. Một phương pháp luận về quản
lý hải quan hiện đại, trong đó cách tiếp cận mang tính hệ thống, logic và dựa trên quan

xử lý cũng như gắn rủi ro với tác động của nó.
1.3.1.2 Sự cần thiết của quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử
Quản trị rủi ro đóng vai trò quan trọng trong các lĩnh vực nghiệp vụ hải quan nói
chung và thủ tục hải quan điện tử nói riêng. Quản trị rủi ro tạo ra định hướng giải pháp
duy nhất trước yêu cầu quản lý hải quan hiện nay là vừa phải đảm bảo tạo thuận lợi cho
thương mại vừa phải quản lý tốt, duy trì tốt kiểm soát hải quan.
Quản trị rủi ro trong Thủ tục hải quan điện tử giúp cơ quan hải quan thực hiện tốt
chức năng quản lý của mình, nhờ kỹ thuật quản trị rủi ro cơ quan hải quan có thể duy
trì tốt kiểm soát hải quan, nâng cao kết quả việc ngăn chặn trốn thuế, chống buôn lậu
và gian lận thương mại trong công tác quản lý hải quan.
Quản trị rủi ro trong Thủ tục hải quan điện tử giúp cơ quan hải đảm bảo được
thuận lợi cho thương mai nhờ giảm chi phí thông quan và tăng tốc độ thông quan, giảm
tắc nghẽn hàng hóa tại các cửa khẩu.
Việc cùng áp dụng kỹ thuật quản trị rủi ro trong nhiều nội dung nghiệp vụ khác
nhau mang đến lợi ích ở tất cả các cấp:
− Cấp chiến lược: Thông qua việc đánh giá các nguồn thông tin, dữ liệu toàn
diện, ngành Hải quan có thể xác định được nhiều lĩnh vực công việc có độ rủi ro thấp
và chỉ can thiệp tới khi xét thấy cần thiết nhờ vào sự xét đoán và kinh nghiệm thực tiễn
của mình, lấy đó làm căn cứ xây dựng kế hoạch, chiến lược của Ngành;
15
− Cấp chiến thuật: Áp dụng kỹ thuật quản trị rủi ro vào thực tiễn như việc xác
định mức độ kiểm tra một chủ hàng hoặc cách thức triển khai lực lượng và trang thiết
bị làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch ở qui mô cấp Cục, vùng;
− Cấp tác nghiệp: Vận dụng để quyết định, xử lý các tình huống tức thời trong
thực tiến quản lý. Như quyết định kiểm tra hàng hóa hoặc hành khách xuất nhập cảnh.
Quản trị rủi ro có mối quan hệ hết sức đặc biệt với các công tác nghiệp vụ hải quan
như công tác thông tin tình báo, qui trình xử lý thông quan hàng hóa, công tác kiểm tra
sau thông quan, công tác điều tra chống buôn lậu. Do đặc điểm của kỹ thuật quản trị rủi
ro là luôn phải kết hợp với những chu trình làm việc đan xen, kế tiếp nhau liên tục, mọi
thao tác của cán bộ đều được qui định sẵn và ghi nhận lại đầy đủ nên đây là một công cụ

13
.
Những thay đổi căn bản trong Công ước sửa đổi so với Công ước năm 1973 bao
gồm: (I)Công ước quy định áp dụng tối đa công nghệ thông tin; (II) Công ước quy định
áp dụng kỹ thuật tiên tiến như quản lý rủi ro, kiểm tra trên cơ sở kiểm toán, các biện
pháp đảm bảo và trao đổi thông tin trước khi hàng đến cho phép giải quết được mâu
thuẫn giữa đảm bảo tăng cường kiểm soát hải quan và tạo thuận lợi thương mại; (III)
Công ước yêu cầu tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa hải quan và doanh nghiệp
nhằm tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp tuân thủ pháp luật và ngược lại doanh
nghiệp cam kết cộng tác chặt chẽ với hải quan trong lĩnh vực kiểm soát và tăng cường
pháp luật; (IV) Công ước có cấu trúc liên kết tạo ra hệ thống công cụ pháp lý logic và
gắn kết giữa Thân, Phụ lục tổng quát và 10 Phụ lục chuyên đề; (V) Công ước có mức
độ ràng buộc cao đối với các thành viên Công ước, quy định cơ chế bảo lưu chặt chẽ,
yêu cầu các bên tham gia tối thiểu phải chấp nhận Thân và Phụ lục tổng quát và không
được phép bảo lưu với chuẩn mực và chuẩn mực chuyển tiếp. Bảo lưu chỉ được phép
với khuyến nghị thực hành của phụ lục chuyên đề nhưng phải nêu lý do và phải xem
xét bảo lưu định kỳ 3 năm một lần; (VI) Cơ chế sửa đổi và bổ sung thông qua Ủy ban
quản lý Công ước bao gồm các bên tham gia giúp Công ước vận động linh hoạt và luôn
phù hợp với thực tiễn của thương mại; (VII) Công ước cho phép thời gian quá độ là 3
17
năm với chuẩn mực và 5 năm với chuẩn mực chuyển tiếp kể từ khi Công ước có hiệu
lực đối với bên tham gia.
Sau khi được sửa đổi, bổ sung, Công ước Kyoto được công nhận là cẩm nang
cho thủ tục hải quan hiện đại và hiệu quả trong thế kỷ 21. Công ước Kyoto sửa đổi
mang đến một bộ nguyên tắc toàn diện, thống nhất, đơn giản, hiệu quả và dễ dự đoán
về thủ tục hải quan. Công ước Kyoto sửa đổi hướng dẫn cho cơ quan Hải quan về cách
thức ứng dụng và triển khai công nghệ thông tin đối với quá trình thông quan, giúp họ
triển khai áp dụng thủ tục hải quan điện tử.
1.3.2.2 Công ước Kyoto hướng dẫn quy trình quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan
điện tử

thể xảy ra và hậu quả;+) Xác định tỉ lệ rủi ro cho từng loại rủi ro trên;+) Tách riêng
những rủi ro có tỉ lệ thấp và có thể chấp nhận được ra khỏi những rủi ro có tỉ lệ cao; +)
Nắm bắt được những dữ liệu sẽ dùng cho việc đánh giá ở bước 4;
Cuối bước 3, cần xây dựng được các tài liệu sau:
− Định nghĩa, nhận xét về các loại rủi ro;
− Tỉ lệ khả năng có thể xảy ra và hậu quả của các loại rủi ro đã được nhận biết;
− Tỉ lệ cụ thể của tất cả các cấp độ cho từng loại rủi ro đã được nhận biết;
Bước 4: Đánh giá và xếp loại rủi ro
Tại bước này có 2 mục tiêu chính:+) Nhận biết rủi ro nào có thể và không thể
chấp nhận được;+) Ưu tiên cho những rủi ro không chấp nhận được.
Cần chú ý rằng, trong hầu hết các trường hợp, rủi ro ở mức “Trung bình” hoặc
“Cao” thường được xem như là không thể chấp nhận. Cũng như vậy, rủi ro ở mức
“Thấp” được xem như có thể chấp nhận và sẽ được xử lý theo nhiều cách.
Cuối bước 4 ta có được các tài liệu gồm:
− Rủi ro đã được phân loại thành “ Có thể chấp nhận” và “ Không thể chấp nhận”;
− Ưu tiên cho các rủi ro không thể chấp nhận;
− Lập kế hoạch cập nhật cho dự án ( nếu được yêu cầu);
Bước 5: Xử lý rủi ro
Sau khi tiến hành phân loại, đánh giá, và ưu tiên các loại rủi ro khác nhau có liên
quan đến các hoạt động, chúng ta cần xác định phương pháp phù hợp để xử lý rủi ro.
Cách xử lý rủi ro có thể bao gồm: Tránh rủi ro; Chấp nhận rủi ro; Giảm thiểu rủi ro;
Chuyển giao rủi ro; Chấp nhận và giữ lại rủi ro.
Cuối bước 5 cần làm rõ các vấn đề sau:
− Những cách xử lý đối với những rủi ro được ưu tiên và không thể chấp nhận nhất;
20
− Các cách xử lý giành riêng cho các rủi ro;
− Hoàn thành bản Kế hoạch xử lý rủi ro;
− Hoàn thành Kế hoạch hành động xử lý rủi ro, bao gồm cả việc thực hiện chỉ dẫn.
Bước 6: Theo dõi đánh giá lại và đo lường mức độ tuân thủ
Quá trình theo dõi đánh giá lại là những chức năng liên tục phát triển của quá

1.4.1.1 Tình hình áp dụng quản trị rủi ro của hải quan Hoa Kỳ
Văn phòng liên lạc tình báo và điều tra (Office of Intelligence and Investigative
Liaison – OIIL) là đơn vị cấp Cục thuộc Cao ủy Hải quan Hoa kỳ. Đơn vị này đảm
nhận nhiệm vụ xác định trọng điểm và áp dụng QTRR trong phạm vi toàn ngành.
Thông qua việc công tác này OIIL hỗ trợ tất cả đối với các hoạt động trên các tuyến
vận tải: Hàng không, đường bộ và đường biển.
Cách tiếp cận của OIIL đối với vấn đề xác định trọng điểm và QTRR là phối
hợp đồng thời 3 cấu phần: thông tin điện tử gửi đến trước, phương pháp xác định trọng
điểm phân lớp và hợp tác với các đối tác.
- Thứ nhất, Thông tin điện tử gửi đến trước cơ quan Hải quan và Phòng vệ Biên
giới Hoa kỳ (CBP) nhận được (Tàu biển-24h trước khi cập cảng, Tàu hỏa-2h trước khi
đến, Xe tải-1h trước khi đến hoặc 30 phút đối với những đối tượng tham gia Chương
trình thương mại tự do và an toàn (FAST) và Hàng không là 4h trước khi hạ cánh hoặc
cất cánh tới địa điểm nước ngoài lân cận.
- Thứ hai, phương thức tiếp cận xác định trọng điểm phân lớp bao gồm sự tham
gia của Sáng kiến an ninh Công ten nơ (CSI) và Trung tâm xác định trọng điểm quốc
gia (NTC) và các đơn vị xác định trọng điểm tại địa phương.
- Thứ ba, bao gồm sự tham gia của các đối tác gồm các cơ quan quản lý như
Doanh nghiệp ưu tiên (AEO) và Chương trình cộng tác Hải quan-Doanh nghiệp chống
22
khủng bố (C-TPAT), các cơ quan của nhà nước như Bộ Năng lượng, cơ quan Phòng
chống Ma túy…và các đối tác nước ngoài.
Văn phòng liên lạc tình báo và điều tra có các nhiệm vụ sau:
- Quản lý, điều hành trung tâm xác định trọng điểm quốc gia (NTC) bao gồm:
điều phối và hỗ trợ tất cả các hoạt động chống khủng bố của Hải quan Hoa Kỳ; hỗ trợ
và đáp ứng các yêu cầu từ các hoạt động tác nghiệp; thực hiện xác định trọng điểm
theo chiến thuật để xác định các đối tượng cần xử lý; phát triển các nguyên tắc của Hệ
thống xác định trọng điểm tự động; hỗ trợ các chiến dịch dựa trên thông tin tình báo.
- Vận hành hệ thống xác định trọng điểm tự động (ATS): Là công cụ hỗ trợ
quyết định sử dụng thông tin từ các nguồn cơ sở dữ liệu để thực hiện việc phân tích

xác cao
Hệ thống quản lý rủi ro được thiết kế để xác định và phân tích các điểm rủi ro ở
cả ba giai đoạn thông quan, trong từng quy trình thủ tục hải quan, trong các thông tin
hồ sơ hải quan của hàng hóa. Đồng thời, việc phân tích rủi ro cũng được thực hiện theo
từng cấp, với từng phạm vi thông tin phù hợp là cấp Tổng cục, cấp vùng và cấp cửa
khẩu. Hải quan Trung Quốc sử dụng các phương pháp phân tích khác nhau, cùng với
sự hỗ trợ tối đa của các công cụ công nghệ thông tin, để đưa ra các kết quả có tính
trọng điểm và đạt hiệu quả cao.
Kiểm soát rủi ro cũng là một mắt xích quan trọng trong quản lý rủi ro của Hải
quan Trung Quốc. Bằng nghiệp vụ kiểm soát rủi ro, Hải quan sẽ áp dụng các biện pháp
phù hợp để ngăn ngừa hoặc kiểm soát các rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện các
thủ tục hải quan.
Nguyên tắc của kiểm soát rủi ro là: phân lớp để kiểm soát, tối thiểu hóa sự can
thiệp từ bên ngoài, phù hợp với thực tế, và ứng dụng công nghệ thông tin. Do đó, Hải
quan áp dụng các phương pháp kiểm soát phù hợp với từng đối tượng và từng loại rủi
ro, như: loại bỏ rủi ro, chuyển giao rủi ro, ngăn ngừa rủi ro…
24
Thông qua kiểm soát rủi ro, Hải quan Trung Quốc xây dựng các tiêu chí rủi ro
để đưa vào hệ thống thông quan điện tử (trong năm 2010, Hải quan Thượng Hải đã có
83 lần xem xét và đánh giá lại các tiêu chí rủi ro; điều chỉnh 102 nghìn tiêu chí; bổ
sung 61 nghìn tiêu chí; và loại bỏ 41 nghìn tiêu chí. Trên hệ thống thủ tục hải quan,
thường xuyên duy trì 22 nghìn tiêu chí rủi ro trực tuyến).
Bằng cách áp dụng các tiêu chí rủi ro trên hệ thống thông quan điện tử, Hải
quan Trung Quốc đã tiến hành tự động hóa nhiều nội dung kiểm tra và xây dựng các
chỉ dẫn nghiệp vụ cho công chức hải quan thực hiện trong khi làm thủ tục hải quan cho
doanh nghiệp. Dựa trên các chỉ dẫn, tùy trường hợp cụ thể, công chức hải quan sẽ buộc
phải thực thi theo đúng quy trình đã định (nếu là chỉ dẫn bắt buộc) hoặc tự quyết định
biện pháp nghiệp vụ phù hợp (nếu là chỉ dẫn định hướng).
Ngoài ra, Hải quan Trung Quốc quản lý trọng điểm trước hết theo đối tượng
doanh nghiệp. Mỗi đối tượng doanh nghiệp được phân loại và có quy định về chế độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status