-1-
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ THẨM ĐỊNH RỦI RO TÀI CHÍNH
TRONG TÍN DỤNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Dự án đầu tư và phân loại dự án đầu tư
1.1.1. Khái niệm dự án đầu tư
Ngân hàng thế giới (World Bank) - một định chế tài chính đa quốc gia rất nổi
tiếng trong lĩnh vực tài trợ dự án ở khắp nơi trên thế giới đã đưa ra định nghĩa như
sau về dự án: “Dự án là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với
nhau được hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian
nhất định”.
Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (ISO 8402) thì đưa ra định nghĩa: “Dự án là một
quá trình bao gồm các hoạt động được phối hợp thực hiện và quản lý trong một giai đoạn
xác định nhằm đạt được một mục tiêu cụ thể trong điều kiện hạn chế về nguồn lực”.
Ở nước ta hiện nay, theo quy chế quản lý đầu tư và xây dựng do Chính phủ
Việt Nam ban hành thì dự án được hiểu như sau: Dự án là một tập hợp những đề
xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo cơ sở vật chất
nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất
lượng sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định.
Từ các định nghĩa trên đây chúng ta có thể rút ra được các yếu tố cơ bản sau
đây hình thành nên một dự án đầu tư:
- Các chính sách, giải pháp và đề xuất về việc bỏ vốn, chi phí hay nguồn
lực phải được hoạch định, lập kế hoạch, tính toán cụ thể.
- Các mục tiêu mà dự án cần phải đạt được là mục tiêu tăng trưởng, cải
tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ.. và/hoặc lợi ích kinh tế xã hội.
- Dự án phải được hoàn thành trong một khoảng thời gian xác định.
-2-
1.1.2. Các loại hình dự án đầu tư
1.2.1. Ý nghĩa và vai trò của tín dụng ngân hàng đối với dự án đầu tư
Tín dụng là một chức năng cơ bản của ngân hàng, vì vậy trên cơ sở tiếp cận
theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng được hiểu là một giao dịch về
tài sản (tiền tệ hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài
chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó
bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất
định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi
vay cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với nhau hoặc
giữa các tổ chức tín dụng với các tổ chức kinh tế, cá nhân khác. Đây là hình thức
chủ yếu chiếm vị trí đặc biệt trong nền kinh tế.
a. Ý nghĩa của tín dụng ngân hàng đối với dự án đầu tư
- Trước hết đó là loại đầu tư có hoàn trả trực tiếp, do vậy nó thúc đẩy việc
sử dụng vốn đầu tư tiết kiệm và có hiệu quả.
- Là hình thức đầu tư linh họat có thể xâm nhập vào nhiều ngành nghề với
những quy mô lớn, vừa và nhỏ, do vậy nó cho phép thỏa mãn nhiều nhu cầu đầu tư
xây dựng cơ bản, đổi mới trang thiết bị, thay đổi dây chuyền công nghệ...
- Đầu tư qua tín dụng là đầu tư bằng nguồn vốn tiết kiệm và tích lũy trong
xã hội, vì vậy nó cho phép khai thác và sử dụng triệt để các nguồn vốn trong xã hội
để tận dụng và khai thác các tiềm năng về lao động,
đất đai, tài nguyên thiên nhiên
nhằm phát triển và mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.
b. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với dự án đầu tư
Tín dụng dự án đầu tư nói riêng và tín dụng nói chung là hình thức cấp tín
dụng góp phần đem lại lợi nhuận cho hoạt động ngân hàng. Ngân hàng cần nhận
thức rõ rằng tín dụng dự án đầu tư là một loại sản phẩm quan trọng cung cấp cho
khách hàng nhằm mục đích đem lại lợi nhuận. Việc nhận thức tín dụng như là một
sản phẩm tiêu thụ nhằm mục đích sinh lợi giúp cho ngân hàng thấy được trách
-4-
dụng vốn, các nhà đầu tư có thể chủ động hơn trong việc sử dụng theo tiến độ xây
dựng, sản xuất kinh doanh, vốn chưa sử dụng chưa phải chịu lãi vay, có thể trả nợ
trước hạn và thậm chí không phải bị phạt, có thể thương lượng lại các điều khoản
một cách trực tiếp với người cho vay.
+ Thời hạn của các khoản vay dự án thường ngắn hơn thời hạn của các trái
phiếu, do đó có thể có lợi cho doanh nghiệp ở những thời kỳ lãi suất cao.
+ Đối với vay đầu tư dự án người đi vay không phải tốn chi phí đăng ký,
chi phí bảo lãnh và chi phí bán chứng khoán ra thị trường. Vì vậy trong một số
trường hợp chọn con đường đi vay sẽ có chi phí thấp hơn phát hành trái phiếu.
1.2.2. Vai trò của thẩm định tín dụng dự án đầu tư
Hoạt động tín dụng đa dạng nhưng rủi ro của nó cũng được thể hiện ở nhiều
mặt với nhiều mức độ khác nhau. Riêng về lĩnh vực cho vay đối với các tổ chức
kinh tế được chia thành các khâu liên kết trong dây chuyền tín dụng, từ khâu quyết
định cho vay, giải ngân đến khâu thu nợ. Chất lượng của các khoản tín dụng được
đảm bảo khi quyết định cho vay là đúng đắn, mà một quyết định là đúng đắn khi các
yếu tố liên quan đã được thẩm định đầy đủ rõ ràng.Vì thế thẩm định tín dụng không
chỉ là một khâu trong quá trình hoạt động tín dụng mà còn là điều kiện tiên quyết,
một yếu tố không thể thiếu tính cân nhắc của ngân hàng.
a. Khái niệm
Thẩm định tín dụng dự án đầu tư là việc tổ chức thu thập và xử lý thông tin
một cách khách quan, toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến tính
khả thi của dự án đầu tư làm căn cứ để quyết định cho vay.
b. Vai trò của thẩm định tín dụng dự án đầu tư
Thẩm định tín dụng dự án đầu tư có ý nghĩa quan trọng, được coi là giai
đoạn khởi đầu cho quá trình đầu tư tín dụng. Qua thẩm định có thể đánh giá một
cách khách quan về sự cần thiết, tính khả thi và hiệu quả của dự án, nhờ đó có biện
pháp để quản lý tốt quá trình cho vay, thu nợ nhằm hạn chế các rủi ro, nâng cao
hiệu quả đầu tư tín dụng. Mặt khác, thông qua thẩm định có thể tư vấn cho đơn vị
-6-
vay vốn có phương hướng và biện pháp xử lý các vấn đề liên quan đến dự án một
Một dự án đầu tư phải được thẩm định đầy đủ các phương diện: Thị trường -
Kỹ thuật - Nhân sự và quản lý - Tài chính - Kinh tế - Xã hội. Từ các phương diện
thẩm định này có thể phân chi thành các quan điểm thẩm định như: Quan điểm tài
chính - Quan điểm kinh tế - Quan điểm phân phối thu nhập và Quan điểm nhu cầu
cơ bản.
Ngoài việc phân chia theo các quan điểm thẩm định như trên, dự án còn có
thể được thẩm định theo các quan điểm của các cá nhân và tổ chức như : Chủ đầu
tư, ngân hàng và các định chế tài chính khác, cơ quan quản lý ngân sách hay quốc gia.
Việc thẩm định dự án theo các quan điểm khác nhau là rất quan trọng vì
chúng cho phép các nhà thẩm định xác định xem các thành viên có liên quan tới dự
án thấy có đáng tài trợ, đáng tham gia hay thực hiện dự án hay không. Nếu kết quả
dự án là hấp dẫn đối với chủ đầu tư nhưng không hấp dẫn đối với các tổ chức tài
chính hay các cơ quan quản lý ngân sách của chính quyền thì dự án có thể gặp khó
khăn trong khâu xét duyệt hoặc tìm nguồn tài trợ. Ngược lại, nếu dự án là có lợi
theo quan điểm của ngân hàng hay của cơ quan quản lý ngân sách nhưng không có
lợi cho chủ đầu tư thì dự án có thể gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện.
Nói tóm lại, để đảm bảo cho việc phê chuẩn và thực hiện thành công một dự án cần
hấp dẫn đối với tất cả các nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan tới dự án.
Dưới đây là bảng biểu diễn các quan điểm thẩm định của các chủ thể tham
gia vào dự án:
Quan điểm thẩm định Tài chánh
Kinh tế
xã hội
Phân phối
thu nhập
Nhu cầu cơ
bản
Ngân hàng + - + -
Chủ sở hữu + - + -
Cơ quan ngân sách + - + -
-9-
- Quan điểm của cơ quan quản lý ngân sách (Government Budget Point of
View):
Đối với cơ quan quản lý ngân sách, một dự án ra đời có thể cần được ngân
sách trợ giá hay trợ cấp đối với các sản pẩhm đầu ra hay sử dụng yếu tố đầu vào của
dự án và ngân sách cũng có thể thu được từ dự án các khoản phí và thuế trực tiếp
hay gián tiếp. Do đó, dòng tiền theo quan điểm này có thể diễn tả như sau:
C = Phí, thuế trực tiếp và gián tiếp - Trợ giá, trợ cấp trực tiếp và gián tiếp
- Quan điểm của nền kinh tế (Economic Point of View):
Khi sử dụng phân tích kinh tế để tính toán mức sinh lợi của dự án theo quan
điểm của toàn quốc gia, các nhà phân tích sử dụng “giá cả kinh tế” để xác định giá
trị thực của các yếu tố nhập lượng và xuất lượng của dự án. Những giá cả kinh tế
này có tính đến thuế và trợ cấp. Ngoài ra còn phải tính đến các ngoại tác tích cực và
tiêu cực mà dự án gây ra. Một số dự án thuộc lĩnh vực công như: bệnh viện, trường
học, công viên, cơ sở hạ tầng, đường giao thông miễn phí…, thẩm định dự án về
mặt tài chính có rất ít hoặc không có ý nghĩa mà chủ yếu là thẩm định về mặt kinh
tế. Lợi ích ròng của dự án theo quan điểm nền kinh tế có thể diễn tả như sau:
D = Tổng lợi ích kinh tế - Tổng chi phí kinh tế
- Quan điểm phân phối thu nhập (Social Distribution Point of View):
Theo quan điểm này, nhà thẩm định tính toán lợi ích tài chính ròng mà dự án
mang lại cho những nhóm đối tượng khác nhau khi họ bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc
gián tiếp bởi dự án sau khi đã trừ chi phí cơ hội của họ.
Thẩm định phân phối thu nhập được xây dựng trên cơ sở của thẩm định kinh
tế và tài chính có tính đến các ngoại tác do dự án mang lại làm thay đổi thu nhập
của các đối tượng khác nhau trong xã hội.
- Quan điểm nhu cầu cơ bản (Basic Needs Point of View):
Theo quan điểm này, các nhà thẩm định quy ra một lợi ích ngoại tác khi dự
án tạo ra được một sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ đáng khuyến khích như giáo
dục, y tế hay dinh dưỡng và trong trường hợp đó, nhà thẩm định sẽ cộng thêm một
-10-
khác nhau được dùng để đánh giá kết quả dự kiến của các dự án đầu tư nhưng trên
thực tế có ba chỉ tiêu được sử dụng nhiều nhất trong thẩm định dự án đầu tư đại
diện cho các tiêu chuẩn hiệu quả về mặt tuyệt đối, tương đối và thời gian, đó là các
tiêu chuẩn: hiện giá ròng - NPV; tiêu chuẩn tỷ suất sinh lời nội bộ - IRR và tiêu
chuẩn thời gian hoàn vốn đầu tư.
a. Tiêu chuẩn hiện giá ròng – NPV
- Đây là chỉ tiêu cơ bản dùng để đánh giá hiệu quả của một dự án đầu tư vì
nó thể hiện giá trị tăng thêm mà dự án mang lại cho công ty. NPV là tổng hiện giá
ngân lưu ròng của dự án với suất chiết khấu thích hợp. NPV được sử dụng rộng rãi
trong thẩm định hiệu quả tài chính dự án.
∑
=
+
=
n
t
t
t
r
NCF
NPV
0
)1(
Trong đó:
NCF
t
là ngân lưu ròng năm thứ t;
r là suất chiết khấu của dự án;
n là tuổi thọ của dự án;
t
t
IRR
NCF
NPV
0
0
)1(
IRR chính là tỷ suất sinh lời thực tế của dự án đầu tư. Vì vậy một dự án được
chấp nhận khi tỷ suất sinh lời thực tế của nó (IRR) bằng hoặc cao hơn tỷ suất sinh
lời yêu cầu (suất chiết khấu).
Sử dụng chỉ tiêu IRR để quyết định có nên đầu tư dự án hay không nói chung
có ưu điểm là có tính đến thời giá tiền tệ, có thể tính IRR mà không cần biết suất
chiết khấu, tính đến toàn bộ ngân lưu. Tuy vậy, phương pháp này có nhược điểm là
có thể một dự án có nhiều IRR khi dòng ngân lưu đổi dấu nhiều lần.
Cùng với NPV, chỉ tiêu IRR được sử dụng rộng rãi trong đánh giá hiệu quả
tài chính dự án đầu tư.
c. Tiêu chuẩn thời gian hoàn vốn – PP – Payback Period
Thời gian hoàn vốn là thời gian để ngân lưu tạo ra từ dự án đủ bù đắp chi phí
đầu tư ban đầu. Cơ sở để chấp nhận dự án dựa trên tiêu chuẩn thời gian hoàn vốn là
thời gian hoàn vốn phải thấp hơn hoặc bằng thời gian hoàn vốn yêu cầu hay còn gọi
là ngưỡng thời gian hoàn vốn.
-13-
Có hai phương pháp tính thời gian hoàn vốn là thời gian hoàn vốn không
chiết khấu và thời gian hoàn vốn có chiết khấu.
- Phương pháp thời gian hoàn vốn không chiết khấu.
1
0
+
I
PV
PI =
Chỉ tiêu PI cũng có những ưu nhược điểm như chỉ tiêu NPV. Tuy nhiên chỉ
tiêu NPV là số đo tuyệt đối của lợi nhuận hay của cải gia tăng từ dự án, trong khi PI
là số đo tương đối biểu thị lợi nhuận tạo ra trên một đồng vốn đầu tư.
-14-
1.3.2. Rủi ro tài chính và sự cần thiết phải phân tích rủi ro tài chính trong
tín dụng dự án đầu tư
a. Rủi ro tài chính trong tín dụng dự án đầu tư
Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn và được định
nghĩa như là sự khác biệt giữa giá trị thực tế và giá trị kỳ vọng khi đánh giá một chỉ
tiêu nào đó. Giá trị kỳ vọng chính là giá trị trung bình có trọng số của một biến nào
đó, chính là xác suất xảy ra giá trị của biến đó. Nói đến rủi ro tức là nói đến quan hệ
giữa giá trị của một biến nào đó so với kỳ vọng của nó.
Như vậy, rủi ro đối với các chỉ tiêu của dự án đầu tư (như là NPV, IRR...)
chính là sự sai biệt của giá trị thực tế so với giá trị kỳ vọng của các chỉ tiêu này. Với
cách tiếp cận đó chúng ta có thể thấy rằng việc thẩm định rủi ro các chỉ tiêu tài
chính của dự án đầu tư cần thiết phải tính đến sự biến động của các biến rủi ro ảnh
hưởng dẫn đến sự sai biệt giữa giá trị kỳ vọng và giá trị thực tế của các chỉ tiêu tài
chính của dự án. Đây chính là mấu chốt của việc đánh giá mức độ rủi ro tài chính
của dự án.
Có nhiều biến rủi ro ảnh hưởng ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của dự án,
trong đó các biến thường tác động nhiều nhất là sự thay đổi của giá bán, sản lượng
tiêu thụ, thay đổi giá cả nguyên vật liệu, yếu tố lạm phát, tỷ giá hối đoái, công suất
hoạt động...
b. Sự cần thiết phải thẩm định rủi ro tài chính dự án đầu tư
Người ta thường nói: “có một điều chắc chắn là không có gì chắc chắn cả”.
Mặc dù trước khi ra quyết định cho vay, ngân hàng đã tiến hành thẩm định các yếu
động của giá bán sản phẩm đến chỉ tiêu NPV của dự án.
+ Phân tích độ nhạy hai chiều: Phân tích sự thay đổi của hai biến rủi ro
cùng lúc để đánh giá mức độ ảnh hưởng đến kết quả dự án. Ví dụ như phân tích
-16-
đồng thời sự biến động của chi phí nguyên vật liệu và giá bán ảnh hưởng đến chi
tiêu NPV hay IRR của dự án.
- Ưu và nhược điểm của phương pháp phân tích độ nhạy:
Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản và dễ dàng áp dụng. Về kỹ thuật
phân tích, nhờ có Microsoft Excel, những người thường xuyên sử dụng bảng tính
như trong thẩm định dự án dễ dàng sử dụng kỹ thuật này bằng lệnh Table trong
thanh công cụ Data.
Tuy nhiên nhược điểm lớn nhất của phân tích độ nhạy là chỉ xem xét từng
tham số trong khi kết quả lại chịu tác động của nhiều tham số cùng một lúc và
không trình bày được xác suất xuất hiện của các tham số và xác suất xảy ra của các
kết quả. Phân tích độ nhạy là loại phân tích “tất định” ở trạng thái tĩnh. Mỗi lần thử
chỉ xem xét sự thay đổi của một biến (đối với phân tích độ nhạy hai chiều là hai
biến) và giả định các biến còn lại là không đổi. Tuy nhiên trong thực tế rất khó xảy
ra trường hợp lý tưởng như vậy. Do đó nó không đưa ra một quy tắc rõ ràng giúp
các nhà thẩm định đưa ra quyết định chấp nhận hay loại bỏ dự án. Phân tích độ nhạy
chỉ giúp “xem và hình dung” mà không đưa ra một kết quả rằng dự án có đáng được
thực hiện hay không về mặt tài chính để làm cơ sở ra quyết định tín dụng. Điều này
đòi hỏi phải có một mô hình phân tích sự thay đổi đồng thời của nhiều tham số.
b. Phương pháp phân tích tình huống (Scenario Analysis):
- Nội dung: Phân tình huống hay còn gọi là phân tích kịch bản giúp xem
xét sự thay đổi dòng ngân lưu của một tổ hợp các biến có mối tương quan nhau.
Phân tích tình huống dựa trên quan điểm các biến có tương quan lẫn nhau và biến
động theo chiều hướng thuận lợi hay bất lợi cho dự án. Theo đó một tập hợp của
nhiều biến rủi ro được chọn do được đánh giá là mang nhiều rủi ro nhất và được sắp
đặt theo các tình huống: lạc quan, trung bình và bi quan. Mục đích là xem xét kết
quả của dự án trong các tình huống tốt nhất (ví dụ giá bán cao nhất, chi phí thấp
một tổ hợp của các giả định và các kết quả) để tìm ra một chiến lược chơi và đi đến
chiến thắng.
-18-
Phân tích mô phỏng được ứng dụng trong lĩnh vực tài chính là sự mở rộng tự
nhiên của phương pháp phân tích độ nhạy và phân tích tình huống. Thực chất của
phương pháp phân tích mô phỏng Monte Carlo là lấy một cách ngẫu nhiên các giá
trị có thể có của các biến ngẫu nhiên ở đầu vào và tính ra một kết quả thực nghiệm
của đại lượng cần phân tích. Quá trình đó lặp lại nhiều lần để có một tập hợp của
các kết quả thử nghiệm, tính toán thống kê các kết quả đó để có các đặc trưng thống
kê cần thiết của kết quả cần phân tích.
Với sự phát triển của máy tính, mô phỏng được thực hiện nhanh chóng và
chính xác nhiều bài toán phức tạp trong kinh tế cũng như nhiều lĩnh vực nghiên cứu
khác. Crystal Ball là một điển hình. Đó là một phần mềm mô phỏng đầy sức mạnh,
tạo sự nhanh chóng và thuận lợi trong việc thực hiện các bảng tính và tiến hành các
phân tích rủi ro theo mô hình xác suất. Hàng chục ngàn lần mô phỏng chỉ được thực
hiện trong vài mươi giây đồng hồ.
d. Kỹ thuật phân tích mô phỏng theo phương pháp Monte Carlo
Kỹ thuật phân tích mô phỏng theo phương pháp Monte Carlo được thực hiện
thông qua chương trình Crystal Ball. Đây là một trong những chương trình dự báo
và phân tích rủi ro thân thiện với người sử dụng theo xu hướng sử dụng đồ thị, giúp
loại trừ yếu tố bất định khi ra quyết định, được xây dựng và vận hành trên nền tảng
của Microsoft Excel - một công cụ phân tích quen thuộc với những nhà thẩm định
tài chính. Thông qua sức mạnh mô phỏng, Crystal Ball đã trở thành công cụ hiệu
quả trong tay những người ra quyết định, giúp cho chủ đầu tư và nhà tài trợ có thể
trả lời câu hỏi như: khả năng đạt mức lợi nhuận kỳ vọng là bao nhiêu, làm thế nào
để gia tăng lợi nhuận của dự án, rủi ro (về mặt tài chính) của dự án là gì, khả năng
dự án kết thúc đúng thời hạn là bao nhiêu…
Khi chạy mô phỏng, Crystal Ball sử dụng phương pháp Monte Carlo để phát
ra các số ngẫu nhiên cho các biến rủi ro (Crystal Ball gọi là các ô giả thiết –
Assumption cells), tuân theo các khả năng của đời sống thực. Mỗi tập số ngẫu nhiên
phát…Các biến này được khai báo ở bảng thông số. Các ô giả thiết ô dữ kiện ban
đầu nên phải là ô không chứa các công thức tính toán.
-20-
+ Bước 3: Định nghĩa các ô giả thiết.
Bước này gồm hai nội dung:
•
Xác định các phân phối xác suất cho các biến nhạy cảm. Các phân phối
xác suất thông thường nhất là phân phối xác suất chuẩn; phân phối xác suất tam
giác; phân phối xác suất đều và phân phối xác suất bậc thang. Crystal Ball liệt kê tối
đa 17 loại phân phối xác xuất trong bảng phân phối xác xuất.
•
Xác định các tham số (miền các lựa chọn) cho phân phối xác suất của
các biến này. Việc xác định các tham số của phân phối xác suất của biến rủi ro
thông qua dãy dữ liệu lịch sử của biến đó. Chẳng hạn, để xác định 2 tham số là độ
lệch chuẩn và giá trị trung bình của phân phối xác xuất chuẩn của biến lạm phát,
Crystal Ball căn cứ vào dãy dữ liệu quá khứ của tỷ lệ lạm phát để tính toán và gắn
các tham số này cho phân phối xác suất được lựa chọn.
+ Bước 4: Xác định và định nghĩa tương quan giữa các biến (Correlated
Assumption). Việc xác định và định nghĩa các biến có tương quan gồm hai nội dung
là xác định các biến có tương quan đồng biến hay nghịch biến và xác định độ mạnh
của tương quan (hệ số tương quan). Trong Crystal Ball, các giả thiết thường được
tính độc lập nhau. Crystal Ball phát ra các số ngẫu nhiên đối với mỗi giả thiết mà
không quan tâm đến việc các số ngẫu nhiên được phát ra sao đối với các giả thiết
khác. Tuy nhiên tình trạng phụ thuộc nhau thường xảy ra giữa các biến trong hệ
thống được mô hình hóa. Tính năng các giả thiết có tương quan trong Crystal Ball
cho phép sử dụng các hệ số tương quan để định nghĩa sự phụ thuộc giữa các giả
thiết. Crystal Ball sau đó sẽ dùng các hệ số tương quan để sắp xếp lại các số được
phát ra ngẫu nhiên để tạo ra các tương quan mong muốn. Giá trị của hệ số tương
quan nằm trong khoảng từ -1 đến 0 đối với tương quan nghịch biến và từ 0 đến +1
đối với tương quan đồng biến.
và biểu diễn khoảng chắc chắn cho dự báo là khả năng đạt được các giá trị dự báo
trong một khoảng xác định nào đó.
•
Đồ thị độ nhạy (Sensitivity Chart): Crystal Ball sẽ xếp hạng các giả thiết
theo mức độ ảnh hưởng của chúng đến kết quả phân tích thông qua đồ thị độ nhạy.
Đồ thị độ nhạy giúp nhanh chóng và dễ dàng đánh giá mức độ ảnh hưởng của các ô
-22-
giả thiết lên một ô dự báo bất kỳ nào đó. Đồ thị độ nhạy sẽ biểu diễn các hạng này
bằng đồ thị cột và chỉ ra rằng giả thiết nào là quan trọng nhất và ít quan trọng nhất
đối với kết quả phân tích.
Crystal Ball tính độ nhạy bằng cách tính thứ tự hệ số tương quan hạng giữa
các giả thiết và các dự báo với nhau trong khi đang chạy mô phỏng. Hệ số tương
quan cung cấp một đại lượng có nghĩa để đo mức độ các giả thiết và dự báo thay đổi
cùng nhau. Nếu một giả thiết và một dự báo có tương quan cao có nghĩa là giả thiết
đó có ảnh hưởng lớn đến dự báo thông qua cả độ không chắn chắn và độ nhạy mô
hình của nó. Hệ số dương chỉ ra rằng giả thiết tăng sẽ liên quan đến dự báo tăng, hệ
số âm diễn tả điều ngược lại. Hệ số tương quan có trị số tuyệt đối càng lớn thì mối
quan hệ càng mạnh. Trên cơ sở đó ta có thể đánh giá được mức độ ảnh hưởng của
các biến nhạy cảm đến kết quả cần phân tích để có thể đưa ra giải pháp quản lý rủi
ro thích hợp.
•
Đồ thị phủ (Overlay Chart): Cho phép xem xét các tính chất tương đối của
các dự báo trong cùng một đồ thị. Đồ thị phủ tập hợp các số liệu tần suất từ các dự
báo được lựa chọn vào cùng một chỗ để có thể rút ra các nhận xét về sự khác nhau
hay giống nhau giữa chúng.
•
Đồ thị xu hướng (Trend Chart): Cho phép xem khoảng chắc chắn của tất
cả các dự báo trên một đồ thị duy nhất, tóm tắt và hiển thị thông tin từ nhiều dự báo,
giúp dễ dàng phát hiện và phân tích các xu hướng có thể tồn tại giữa các dự báo có
liên quan nhau.
-24-
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH RỦI RO
TÀI CHÍNH TRONG TÍN DỤNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2.1. Khái quát công tác thẩm định tín dụng dự án đầu tư tại các ngân
hàng thương mại Việt Nam
2.1.1. Sơ lược quá trình phát triển của công tác thẩm định tín dụng dự
án đầu tư tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Trước đây trong nền kinh tế tập trung bao cấp, hệ thống ngân hàng Việt Nam
là ngân hàng một cấp và cho đến cuối năm 1987 vẫn chưa có ngân hàng thương
mại. Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng huy động và chức năng cho vay,
việc cho vay còn theo cơ chế ban cho, các đơn vị vay vốn chủ yếu là thành phần
kinh tế quốc doanh.
Đặc biệt, trong lĩnh vực cho vay đối với các công trình xây dựng cơ bản, các
dự án đầu tư thì việc cho vay của ngân hàng thực hiện theo kế hoạch được duyệt,
ngân hàng ít quan tâm đến tính khả thi cũng như hiệu quả của dự án.
Mặt khác, việc cho vay trung dài hạn đối với các dự án đầu tư để cải tiến kỹ
thuật, mở rộng sản xuất, ngân hàng cũng chưa có những quy định hoặc những
hỗ trợ phát triển thực hiện. Như vậy định hướng ưu tiên đẩy mạnh xuất khẩu của
chính phủ một mặt có tác động thuận lợi đến hoạt động đầu tư của các ngân hàng
trong lĩnh vực xuất khẩu, đồng thời cũng là một thách thức lớn vì các ngân hàng
thương mại sẽ phải đối mặt với việc chuyển dời vốn của các doanh nghiệp xuất
khẩu lớn sang quỹ hỗ trợ phát triển, thị phần cho vay của các ngân hàng thương mại
chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng.