Kế hoạch quản lý môi trường khoáng sản - Pdf 29

LỜI MỞ ĐẦU
Những năm qua, ngành khai thác và chế biến khoáng sản ở nước ta phát
triển khá mạnh, đặc biệt là ngành Công nghiệp khai thác mỏ là ngành kinh tế tạo
ra nhiều sản phẩm đáp ứng yêu cầu phát triển của nhiều ngành kinh tế khác, giữ
vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển KT-XH của mỗi quốc gia. Tuy
nhiên, công nghiệp (CN) khai khoáng đang đứng trước nhiều thách thức: khai
thác, sử dụng chưa có hiệu quả làm cho tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, tác
động xấu tới cảnh quan và hình thái môi trường, gây ô nhiễm nguồn nước,
không khí, đất đai, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và sự phát triển của nhiều
ngành kinh tế khác. Các cơ quan quản lý Nhà nước về khoáng sản, các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoáng sản luôn muốn tìm ra những phương
pháp cũng như các đề án trao đổi kinh nghiệm nhằm phát huy những mặt tích
cực và đưa ra những định hướng, giải pháp tích cực nhằm nâng cao năng lực
quản lý tài nguyên khoáng sản và hoạt động khoáng sản vì lợi ích quốc gia và sự
phát triển bền vững của ngành khai thác khoáng sản ở Việt Nam.
Nằm ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên
khoáng sản phong phú, đa dạng, là nguồn nguyên liệu, tiềm năng quý của quốc
gia. Chính vì thế mà Việt Nam luôn là nơi các nhà tài trợ khoáng sản chọn là
trong những dự án hàng đầu để đầu tư. Tuy nhiên các nhà tài trợ cũng luôn có
yêu cầu riêng của mình đối với vấn đề bảo vệ môi trường trong các dự án, cũng
như các yêu cầu của luật bảo vệ môi trường, các nhà tài trợ đòi hỏi phải có đánh
giá tác động của môi trường tới các dự án khi mà họ tài trợ chính thức.
Trong khi đánh giá tác động môi trường các nhà tài trợ đòi hỏi phải có kế
hoạch quản lý môi trường. Nội dung kế hoạch quản lý môi trường được xây
dựng trên cơ sở phân tích, đánh giá những tác động tiêu cực do dự án gây ra và
được thể hiện dưới hình thức một kế hoạch tổng thể trong việc tổ chức thực hiện
các giải pháp bảo vệ môi trường nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực đã
được phân tích, đánh giá. Chính vì vậy, xây dựng một kế hoạch quản lý môi
trường các ngành công nghiệp nói chung và khai thác khoáng sản nói riêng
chính là tiền đề, công cụ cần thiết để đáp ứng các yêu cầu khác nhau về bảo vệ
môi trường của các dự án. Xuất phát từ mục tiêu và tầm quan trọng trong việc

Tu, Đèo Nai, Cọc Sáu). Suối Vàng Danh và sông Mông Dương, gắn với việc
phát triển các mỏ than hầm lò nổi tiếng Vàng Danh (Uông Bí) và Mông Dương
(Mông Dương-Khe Chàm) cũng đã bị thay đổi (nhưng không phải vì khai thác
than hầm lò, mà chủ yếu vì khai thác than lộ thiên). Trước đây, con suối chảy từ
mỏ Vàng Danh ra Uông Bí từng là nguồn cung cấp nước cho cả thành phố Hải
Phòng vì nước trong và sạch. Ở vùng than Uông Bí, không ai quên câu ca dao từ
thời Pháp “nước Vàng Danh, canh Hải Phòng”.
Ngày nay, khi khu mỏ Vàng Danh (trước đây, Liên Xô chỉ thiết kế khai
thác bằng công nghệ hầm lò với công suất tối đa có 1,8 tr.t/năm) nay được mở
rộng ra bằng các công nghệ khai thác than lộ thiên, tổng công suất các mỏ than
đã lên tới gần 5 triệu tấn/năm, thì nước suối Vàng Danh đã không thể dùng để
dẫn về Hải Phòng. Lớn hơn suối Vàng Danh là con sông Mông Dương (hợp lưu
của nhiều con suối xuất phát từ khai trường của những mỏ than lộ thiên trong
[2]
vùng). Trước đây, người Pháp đã dùng con sông này làm đường thủy chở than
Mông Dương ra biển để xuất khẩu. Ngày nay, con sông này đã bị loại ra khỏi
danh sách các tuyến vận tải thủy.Ô nhiễm môi trường giống như một căn bệnh
nan y khó chữa. Trong khi đó, ngành than vẫn chưa có một chiến lược tổng thể
để giảm thiểu các tiêu cực đến môi trường. Các giải pháp đang được triển khai
về bảo vệ môi trường chỉ mang tính đối phó. Viancomin chỉ tập trung xử lý phần
“ngọn” của căn bệnh nan y này theo kiểu “công tử Bạc Liêu”. Kết quả của
những giải pháp thuộc về “phần ngọn” thường thể hiện nhanh, đáp ứng được
cho việc tổng kết hay báo cáo thành tích, nhưng nguy cơ về môi trường hay
nguy cơ về tai nạn lao động thì vẫn như cũ. Rất tiếc, những giải pháp kỹ thuật cơ
bản có liên quan đến bảo vệ môi trường và đảm bảo an toàn cho công nhân mỏ
đã và đang tiếp tục bị vi phạm. Việc cải thiện môi trường chủ yếu nhờ các giải
pháp mang tính tổ chức và quản lý của các cơ quan cấp trên và của chính quyền
địa phương. Tuy nhiên, các giải pháp đó chỉ mang tính “tạm thời”. Bởi lẽ việc
khai thác than là để phục vụ trực tiếp cho các ngành kinh tế quan trọng (điện, xi
măng, phân bón, hóa chất, giấy, vật liệu xây dựng) của đất nước. Khi “Tổ quốc

xã hội loài người có quan hệ tương hỗ trực tiếp với nó, nghĩa là môi trường có
có quan hệ gần gũi nhất với đời sống và hoạt động sản xuất của con người”.
Một định nghĩa khác của viện sĩ I.P.Gheraximov (1972) đã đưa ra định
nghĩa môi trường như sau: “ Môi trường là khung cảnh của lao động, của cuộc
sống riêng tư và nghỉ ngơi của con người”, trong đó môi trường tự nhiên là cơ
sở cần thiết cho sự sinh tồn của nhân loại.
Trong tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường được hiểu là “
toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh
mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác tài
nguyên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người”.
Theo luật bảo vệ môi trường: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và
yếu tố vật chất nhân tạo, quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có
ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên
nhiên”.
Như vậy, môi trường có vai trò hết sức quan trọng đối với cộng đồng con
người và cả xã hội loài người:
- Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và
hoạt động sản xuất của con người.
- Môi trường là nơi chứa đựng các phế thải do con người tạo ra trong cuộc
sống và sản xuất của mình.
- Môi trường là không gian sống, cung cấp các dịch vụ cảnh quan thiên
nhiên.
Nhận thấy vai trò quan trọng của môi trường, cần phải có những biện
pháp quản lý môi trường một cách đúng đắn. Đặc biệt là quản lý môi trường
trong khai thác khoáng sản.
b. Kế hoạch quản lý môi trường.
[4]
Khái niệm quản lý môi trường: “Quản lý môi trường là tổng hợp các biện
pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất
lượng môi trường sống và phát triển kinh tế - xã hội quốc gia”.

duyệt. Tuy nhiên trong quá trình chuẩn bị triển khai dự án việc mà người cán bộ
quản lý môi trường phải làm là xác định xem khi nào lập kế hoạch quản lý môi
trường. Khi xây dựng dự án khả thi cơ quan xây dựng dự án thường đã có tiến
[5]
hành đánh giá tác động môi trường cho cả dự án, và dự án chỉ được phê duyệt
khi bản đánh giá tác động môi trường đã được thông qua.
Để đi đến quyết định lập khoa học quản lý môi trường cần.
- Xem lại kế hoạch triển khai dự án.
- Kiểm kê các hoạt động tài chính của dự án.
- Đối chiếu các hoạt động đó với điều kiện thực tế của khu vực dự án.
- Cân nhắc các tác động có thể của các hoạt động này đối với môi trường tự
nhiên, dân cư trong khu vực dự án.
- Quyết định về việc xây dựng kế hoạch quản lý môi trường.
Việc này có thể thực hiện được thông qua việc tham khảo cây quyết định
( hình 1)
Khi các hoạt động của dự án không có ảnh hưởng đáng kể đến môi trường
và dân cư trong khu vực dự án thì mới lập kế hoạch quản lý môi trường. Các vấn
đề phát triển sinh thêm phải được giải quyết trao đổi với chủ đầu tư và nhà tài
trợ.
2.4. Cấu trúc kế hoạch quản lý môi trường.
Cấu trúc một kế hoạch quản lý môi trường bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Giới thiệu về KHQLMT
- Kết quả của ĐTM
- Tác động tiềm năng và các biện pháp giảm nhẹ
- Quá trình tham vấn cộng đồng
- Kế hoạch giảm nhẹ tác động
- Kế hoạch quan trắc môi trường
- Trách nhiệm thể chế & nhu cầu năng lực cho KHQLMT Hoàn cảnh hiện tại
- Nhu cầu đào tạo và nhân lực
- Kế hoạch công việc của KHQLMT và lịch trình

Không
Không
XÂY DỰNG KẾ
HOẠCH QUẢN
LÝ MÔI
TRƯỜNG

Ảnh
hưởng
đáng kể

Thảo luận với
chủ đầu tư
Không

Ảnh
hưởng
đáng kể

Thảo luận với
chủ đầu tư
Thảo luận với
chủ đầu tư

Thảo luận với
chủ đầu tư

2.4.2. Kết quả của ĐTM.
Những kết quả của ĐTM là đầu vào quan trọng cho KHQLMT bao gồm:
- Những tác động tích cực và tiêu cực tiềm năng về môi trường và xã hội

Có sáu loại hành vi dự án được áp dụng riêng biệt hoặc đồng thời để tạo ra
một biện pháp giảm nhẹ:
- Loại bỏ hoạt động;
[8]
- Thay đổi địa điểm hoạt động;
- Thay đổi thời gian hoạt động;
- Thay đổi cường độ hoạt động;
- Cô lập hoạt động với rào cản vật lý hoặc hoá học; và
- Bồi thường môi trường hoặc xã hội
2.4.5. Kế hoạch quan trắc môi trường.
Kế hoạch quan trắc môi trường là kế hoạch bộ phận cơ bản khác của
KHQLMT. Kế hoạch quan trắc môi trường có mục đích kép:
- Đo lường, hoặc quan sát kế hoạch giảm nhẹ hoạt động hiệu quả như thế
nào.
- Lập hồ sơ các tác động ngoài ý muốn của dự án.
Để phục vụ cho mục đích này, kế hoạch quan trắc môi trường thường
được cấu trúc như sau:
- Giám sát hiệu quả của các biện pháp giảm nhẹ.
- Giám sát hiệu quả môi trường.
Mục tiêu quan trắc kể cả hiệu quả của các biện pháp giảm nhẹ và cả tác
động môi trường ngoài ý muốn của dự án cần được xác định là trọng tâm của kế
hoạch quan trắc. Các mục tiêu quan trắc biểu hiện thông tin cần thiết từ chương
trình quan trắc.
2.4.6. Trách nhiệm pháp lý & nhu cầu năng lực.
Xây dựng và thực hiện một KHQLMT cần các kỹ năng và nhân lực kỹ
thuật và quản lý cho việc:
- Thực hiện kế hoạch giảm nhẹ.
- Thực hiện kế hoạch quan trắc môi trường.
- Tương tác với cộng đồng.
- Lập các báo cáo môi trường.

TƯ KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
3.1. Các bước thực hiện.
3.1.1. Lên chi tiết về dự án.
Lập một bản mô tả ngắn gọn về dự án, quy mô và phạm vi của dự án
và khu vực dự án, thời gian tiến hành dự án.
Cần có một bản đồ khu vực dự án bao gồm các thông tin về: vị trí của dự
án, các thành phố và thị trấn chính, các trục đường chính và đường tàu, các sông
và hồ chính, và các vùng
bảo

vệ,
khu vực nhậy cảm sinh học và các di sản văn
hoá và lịch sử. Nếu dự án được thực hiện tại các khu vực có dân tộc thiểu số
cũng cần cung cấp rõ thông tin về nhóm dân tộc, số lượng người và điều kiện
sinh hoạt c

a
họ.
3.1.2. Mô tả tóm tắt các kết quả của báo cáo đánh giá tác động môi trường.
Những tác động tích cực và tiêu cực tiềm năng về môi trường và xã hội
của dự án cần được quản lý bằng KHQLMT.
Những biện pháp giảm nhẹ bắt buộc để phòng ngừa hoặc giảm nhẹ tác
động tiêu cực, các biện pháp để hoàn thiện kế hoạch, hoặc tạo ra các tác động
tích cực của dự án.
[10]
Các biện pháp giảm nhẹ tác động tiêu cực, và tăng cường tác động tích
cực cần được tổng hợp cùng với các hoạt động cụ thể của dự án ở ba giai đoạn,
gồm:
- Giai đoạn tiền xây dựng
- Giai đoạn xây dựng

[11]
Lập kế hoạch tham vấn
cộng đồng
Thực hiện điều tra
phỏng vấn
Họp nhóm nhỏ thu thập
thông tin
Soạn và gửi nội dung
báo cáo tóm tắt ĐTM và
công văn đề nghị
Tổ chức các cuộc họp
lấy ý kiến tham vấn
Soạn và gửi văn bản trả
lời của UBND và
MTTQ
Lập thủ tục về kết quả
tham vấn
L

n

1
L

n

2
Hình 2: Sơ đồ các bước tham vấn cộng đồng trong KHQLM
Điều tra có thể dựa vào phiếu điều tra mang tính định lượng hoặc hướng
dẫn phỏng vấn trực tiếp (có thể mang tính định lượng hoặc định tính). Đối với

c) Trực tiếp trình bày tại cuộc họp cộng đồng
d) Niêm yết ở một nơi công cộng để cộng đồng được biết và đọc.
Trong số các phương pháp phổ biến thông tin nêu trên, trực tiếp trình bày
tại cuộc họp cộng đồng là cách thông tin chi tiết và tạo điều kiện để có đối thoại
với những người bị ảnh hưởng. Kết hợp trình bày lời với hình ảnh minh hoạ sẽ
làm tăng kết quả thông tin và làm cho cộng đồng hiểu tốt hơn về những gì mà
chủ đầu tư muốn thuyết trình cho cộng đồng.
Bước 5. Tổ chức (các) cuộc họp lấy ý kiến tham vấn.
Tổ chức họp thảo luận là cách phù hợp và thiết thực để trao đổi, đối thoại
giữa chủ đầu tư với cộng đồng về các vấn đề mà chủ đầu tư hoặc tổ chức tư vấn
được chủ đầu tư uỷ quyền đưa ra trong báo cáo tóm tắt ĐTM trước khi cộng
đồng có văn bản trả lời và đạt được đồng thuận.
Để cuộc họp có kết qủa, cần chuẩn bị và thực hiện các mục sau đây:
[13]

Trích đoạn F-TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status