LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đã trải qua một quá trình phát triển ấn tượng trong hai thập
niên gần đây. Sự chuyển dịch dần từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
truyền thống sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN bắt đầu từ năm
1986 đã mang lại những cải thiện to lớn về hiệu quả kinh tế và mức sống dân
cư.Ngày nay, nền kinh tế phát triển mạnh mẽ với sự góp mặt của nhiều thành
phần kinh tế khác nhau, đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang giữ vị trí
rất quan trọng trong sự phát triển đó.Tuy nhiên, để đảm bảo sự phát triển bền
vững và hiệu quả nền kinh tế quốc dân đã đề ra, đồng thời để hội nhập với xu
hướng hội nhập quốc tế, các thành phần kinh tế phải biết khai thác toàn diện
và hiệu quả mọi nguồn lực, nhất là phải tận dụng được sự hỗ trợ của hệ thống
ngân hàng. Muốn vậy, ngành ngân hàng phải giải quyết hàng loạt khó khăn
mà hiện nay doanh nghiệp đang gặp phải. Để làm được điều đó đòi hỏi có sự
thống nhất chung giữa bản thân các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng,
đặc biệt, các giải pháp của ngân hành thương mại nhằm nâng cao chất lượng
tín dụng mang tính chất quyết định.
Sau một thời gian thực tập tại Phòng Giao Dịch VPBANK CN Hai Bà
Trưng Ha nội –địa chỉ 222 Lò Đúc,Quận Hai Bà Trưng ,Hà Nội, em làm báo
báo cáo tổng hợp giới thiệu sơ lược về Vpbank như sau:
Bố cục báo cáo ngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm 3 chương:
Chương I : Giới thiệu tổng quan về Vpbank
Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh của ngân hàng Vpbank
trong thời gian vừa qua
Chương III: Phương hướng và giải pháp phát triển ngân hàng trong thời
gian gian tới.
1
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ VPBANK
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng thương mại cổ phần
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam ( Vpbank)
Ngân hàng Thương mại Cổ phần các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh
Việt Nam (VPBANK) được thành lập theo Giấy phép hoạt động số 0042/NH-
3
1.2. Cơ cấu tổ chức4
VPBank rất quan tâm đến vấn đề quản trị rủi ro. Bộ máy quản trị rủi ro của
VPBank được tổ chức một cách chặt chẽ theo nhiều cấp quản lý, với cơ cấu
như sau:
Ban kiểm soát: Do Đại hội cổ đông bầu ra gồm 3 thành viên trong đó
có 2 thành viên chuyên trách
Phòng kiểm tra kiểm toán nội bộ: trực thuộc Ban điều hành với nhân
sự được phân bổ cho mỗi CN cấp 1 có ít nhất từ 1 đến 2 nhân viên. Bộ phận
kiểm tra kiểm toán có chức năng kiểm tra giám sát hoạt động thường ngày và
toàn diện trong tất cả các giai đoạn trước, trong và sau trong quá trình thực
hiện mỗi nghiệp vụ của Ngân hàng. Hoạt động kiểm tra kiểm toán nội bộ các
chi nhánh được thực hiện theo sự chỉ đạo trực tiếp theo ngành dọc.
Hội đồng tín dụng và ban tín dụng: VPBank có hai Hội đồng tín
dụng và mỗi Chi Nhánh cấp 1 có một ban tín dụng. Hai hội đồng tín dụng đặt
tại Hà nội và thành phố Hồ chí Minh có nhiệm vụ giải quyết các khoản vay
vượt hạn mức giao dịch cho các CN cấp 1 đóng tại khu vực phía bắc và phía
nam. Để hạn chế thấp nhất rủi ro tín dụng, VPBank đã và đang áp dụng hệ
thống chấm điểm tín dụng do Hội đồng quản trị ban hành
Hội đồng ALCO: để hạn chế rủi ro thị trường và thanh khoản, đã từ
lâu VPBank thành lập hội đồng ALCO. Hội đồng có nhiệm vụ quản lý thanh
khoản, quyết định cơ cấu nguồn vốn, sử dụng nguồn vốn hợp lý và hiệu quả,
quyết định triển khai các sản phẩm mới. Đồng thời, Hội đồng ALCO cũng có
nhiệm vụ theo sát diễn biến thị trường về lãi suất, tỷ giá và những khả năng
có thể gấy rủi ro khác để có thể giải pháp phù hợp trong việc quản lý và sử
dụng nguồn vốn.
hoạt động. Tổng số tiền huy động được đến cuối tháng 6/2007 đạt 2.323 tỷ
đồng, tăng 347 tỷ đồng so với cuối năm 2006, trong đó, riêng số dư tiền gửi
7
tiết kiệm tăng 427 tỷ đồng, tiền gửi thanh toán của cư dân và các tổ chức kinh
tế tăng 71 tỷ đồng. Riêng trong năm 2008, tổng tiền huy động đạt hơn 9.065
tỷ đồng tăng 61% so với năm 2007.
Bảng 3: Tình hình huy động vốn một số năm của VPBank ( Triệu đồng )
Chỉ tiêu
2008 2007 2006
Số dư
Tỷ
trọng
Số dư
Tỷ
trọng
Số dư
Tỷ
trọng
Nguồn vốn
huy động
9.065.00
0 100% 5.638.001 100% 3.858.967 100%
Phân theo
kì hạn
Ngắn hạn 7.252.155 80% 4.397.641 78% 3.202.943 83%
Trung và
dài hạn 1.813.039 20% 1.240.360 22% 656.000 17%
Phân theo
cơ cấu
Huy động
ương đương 67% ) so với năm 2007.
Chất lượng tín dụng của VPBank vẫn đảm bảo được yêu cầu của
NHNN và qui chế của VPBank. Tỷ lệ nợ quá hạn của VPBank (gồm các
nhóm 3,4,5 ) cuối năm 2008 ở mức 0,56% tổng dư nợ, thấp hơn nhiều so với
tỷ lệ nợ xấu chung của toàn ngành Ngân hàng Việt nam ( khoảng 7% ).
Để nâng cao chất lượng tín dụng, VPBank luôn không ngừng hoàn
thiện quy trình tín dụng, đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ nhân viên. Mặt khác
VPBank cũng nghiên cứu triển khai các hình thức cho vay mới, đáp ứng nhu
cầu đa dạng của khách hàng. Gần đây nhất, VPBank vừa chính thức triển khai
hình thức cho vay cầm cố bằng cổ phiếu do các NH TMCP tại Việt Nam phát
hành. Khách hàng đến với VPBank có thể cầm cố cổ phiếu để vay vốn sử
dụng vào mục đích bổ sung vốn sản xuất kinh doanh, tiêu dùng cho cá nhân và
gia đình, mua cổ phẩn của các công ty cổ phần hay các mục đích khác phù
9
hợp với quy định của pháp luật Việt nam. Tùy vào mục đích sử dụng vốn vay
mà Ngân hàng sẽ xác định số tiền cho vay và thời hạn vay phù hợp. Với loại
hình cho vay mới này, VPBank hy vọng sẽ đáp ứng được nhu cầu giao dịch
bằng cổ phiếu đang và sẽ ngày càng tăng trong nền kinh tế thị trường. Hiện
nay VPBank nhận cầm cố cổ phiếu của 9 NHTM CP: ACB, Sacombank,
EAB, Eximbank, Techcombank, MB, VIB, Habubank và Phương Đồng, trong
trường hợp phát sinh các khoản cho vay ngoài danh mục, VPBank sẽ xem xét
và quyết định từng trường hợp cụ thể. Đây là cách làm khá linh hoạt của
VPBank nhằm thích ứng với mọi sự biến động trên thị trường rất sôi động
này.
2.1.3. Hoạt động dịch vụ
Các hoạt động dịch vụ của VPBank vẫn tiếp tục tiến triển rất tốt. Cùng
với việc mở rộng mạng lưới hoạt động, dịch vụ chuyển tiền trong nước của
VPBank ngày càng trở nên thuận tiện và nhanh chóng. Doanh số chuyển tiền
trong nước năm 2008 đạt 7331 tỷ đồng, tăng 22% so với năm 2007. Phí dịch
vụ chuyển tiền trong nước thu được trong năm 2008 là 2 tỷ đồng, tuy vẫn là
cho vay đều tăng: Doanh số cho vay, dư nợ cho vay đều có tốc độ tăng tương
đối khá. Dự nợ ngăn hạn và trung hạn tăng khá lành mạnh. Đây là những
khoản vay rủi ro thấp, thu hồi vốn nhanh.
Hai là : Nhờ cải tiến quy trình tín dụng, rút ngắn trong từng khâu. Việc rút
ngắn thời gian xét duyệt cho vay được rút ngắn giúp cho ngân hàng có được
lợi thế cạnh tranh so với các NHTM quốc doanh, thủ tục phức tạp và kéo dài
11