Mô hình tập đoàn kinh tế của Hàn Quốc và bài học về chính sách phát triển tập đoàn kinh tế Việt Nam trong điều kiện hội nhập - Pdf 29

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Các từ tiếng Việt viết tắt
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
TĐKT Tập đoàn kinh tế
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
UBND Ủy ban nhân dân
Các từ tiếng Anh viết tắt
CIEM Center Institute for Economic Management ( Viện nghiên cứu Quản
lý kinh tế Trung Ương)
Co. Company (Công ty)
EVN Vietnam Elecricity (Tập đoàn Điện lực Việt Nam)
FPT The Corporation for Financing and Promoting Technology ( Tập
đoàn tài chính và phát triển công nghệ)
Ltd Limited (Trách nhiệm hữu hạn)
MOCIE Ministry of Commerce Industry and Energy ( Bộ Thương mại
Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc)
PSPD People’s Solidarity for Participatory Democracy ( Đoàn kết nhân
dân tham gia dân chủ)
R&D Research and Development (Nghiên cứu và phát triển)
UNDP United Nation Development Programme ( Chương trình phát triển
Liên Hiệp Quốc)
VNPT Vietnam Posts and Telecommunications ( Tập đoàn Bưu chính viễn
thông Việt Nam)
VRG Vietnam Rubber Association ( Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt
Nam)
Ngô Thị Phương Anh - Kinh tế Quốc tế 47
Đề án môn học
LỜI MỞ ĐẦU
1)Tính tất yếu phải nghiên cứu đề tài
Hiện nay khu vực hóa và toàn cầu hóa kinh tế đang là xu hướng chi

2
Đề án môn học
quản lý. Trong đó mô hình Chaebol là mô hình có nhiều điểm tương đồng
nhất với tập đoàn kinh tế ở Việt Nam.
Theo cách xem xét đó, đề án: “Mô hình tập đoàn kinh tế của Hàn
Quốc và bài học về chính sách phát triển tập đoàn kinh tế Việt Nam
trong điều kiện hội nhập” đã được chọn để nghiên cứu.
Mô hình tập đoàn kinh tế Chaebol của Hàn Quốc từ lâu đã được đánh
giá là một mô hình tập đoàn kinh tế điển hình. Nhờ có các Chaebol mà nền
kinh tế Hàn Quốc đã trỗi dậy trong một thời gian ngắn. Hai thập kỷ 60 và 70
chứng kiến sự phát triển đỉnh cao nhất của mô hình này và đó cũng là thời kỳ
mà Hàn Quốc cùng với Đài Loan lập được hai trong số những kỷ lục kinh tế
xuất sắc nhất Châu Á. Có lẽ trong số đó có những thành tích xuất sắc vào bậc
nhất thế giới.
Bên cạnh đó, Hàn Quốc hiện nay được coi là đối tác thương mại và đầu
tư lớn thứ tư ở Việt Nam. Nền kinh tế của Hàn Quốc hiện nay vẫn bị chi phối
chủ yếu bởi hệ thống các Chaebol.
2)Mục đích nghiên cứu
Hiện nay ở Việt Nam các tập đoàn kinh tế mới được hình thành và phát
triển cho nên vấp phải rất nhiều hạn chế. Nghiên cứu về Chaebol - một trong
những mô hình tập đoàn kinh tế tiêu biểu nhất Châu Á để nhằm xác định, rút
kinh nghiệm và đưa ra chính sách cũng như biện pháp hiệu quả để phát triển
mô hình tập đoàn phù hợp với xu thế nhưng vẫn đặc sắc Việt Nam.
Việt Nam và Hàn Quốc đã thiết lập quan hệ toàn diện đến nay được 16
năm. Trong thời gian đó, Hàn Quốc đã trở thành một trong những đối tác
quan trọng nhất của Việt Nam. Nghiên cứu các tập đoàn mà ảnh hưởng của nó
chi phối toàn bộ nền kinh tế Hàn Quốc sẽ giúp Việt Nam có những đối sách
phù hợp trong quá trình hợp tác kinh tế với nước này và góp phần thúc đẩy
hơn nữa mối quan hệ kinh tế nói riêng và mối quan hệ toàn diện nói chung
Việt Nam - Hàn Quốc.

CÁC CHAEBOL CỦA HÀN QUỐC
1.1. Khái niệm tập đoàn kinh tế và một số đặc điểm chung của tập đoàn
kinh tế
1.1.1. Khái niệm tập đoàn kinh tế (TĐKT)
Tại các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, khi nói đến “Tập đoàn kinh tế”
thường sử dụng các từ: “Consortium”, “Conglomerate”, “Cartel”, “Trust”,
“Alliance”, “Syndicate” hay “Group”.
Ở châu Á, trong khi người Nhật Bản gọi TĐKT là “Keiretsu” hoặc
“Zaibatsu” thì người Hàn Quốc lại gọi là “Cheabol”; còn ở Trung Quốc, cụm
từ “Jituan Gongsi” được sử dụng để chỉ khái niệm này (chính xác hơn là Tổng
công ty).
Mặc dù về mặt ngôn ngữ, tùy theo từng nước, có thể dùng nhiều từ
khác nhau để nói về khái niệm TĐKT, song trên thực tế việc sử dụng từ ngữ
lại phụ thuộc vào nguồn gốc xuất xứ và tính chất đặc trưng của từng loại
TĐKT. Ví dụ, Consortium trong tiếng latinh có nghĩa là “đối tác, hiệp hội hay
các hội” bao gồm hai hay nhiều thực thể tập hợp lại để cùng tham gia vào một
hoạt động chung hoặc là đóng góp nguồn lực để thực hiện mục tiêu chung.
Khi tham gia vào một Consortium, các công ty vẫn giữ nguyên tư cách pháp
nhân độc lập của mình. Thông thường, vai trò kiểm soát của Consortium đối
với các công ty thành viên chủ yếu giới hạn trong các hoạt động chung của cả
tập đoàn, đặc biệt là việc phân phối lợi nhuận. Sự ra đời của một Consortium
được xác lập trên cơ sở hợp đồng, trong đó quy định rõ các quyền và nghĩa vụ
của từng công ty thành viên tham gia Consortium. Cartel: trong tiếng Anh
thường được dùng để chỉ TĐKT. Cartel là một nhóm các nhà sản xuất độc lập
có cùng mục đích là tăng lợi nhuận chung bằng cách kiểm soát giá cả, hạn chế
cung ứng hàng hoá, hoặc các biện pháp hạn chế khác. Đặc trưng tiêu biểu
Ngô Thị Phương Anh - Kinh tế Quốc tế 47
5
Đề án môn học
trong hoạt động của Cartel là việc kiểm soát giá bán hàng hoá, dịch vụ nhưng

Đề án môn học
Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005, tập đoàn kinh tế được
xếp là một thành phần trong nhóm công ty, cụ thể như sau:
Nhóm công ty là một tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với
nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.
Thành phần của nhóm công ty gồm có:
- Công ty mẹ, công ty con.
- Tập đoàn kinh tế.
- Các hình thức khác.
Theo Viện nghiên cứu Quản lí kinh tế Trung ương CIEM: khái niệm
tập đoàn kinh tế được hiểu là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách
pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về
vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác
xuất phát từ lợi ích của các bên tham gia. Trong mô hình này “công ty mẹ”
nắm quyền lãnh đạo, chi phối “công ty con” về tài chính và chiến lược phát
triển.
1.1.2. Một số đặc điểm chung của các tập đoàn kinh tế
Mặc dù có nguồn gốc xuất xứ khác nhau nhưng các TĐKT về cơ bản
đều có những đặc điểm chung như sau:
 Tập đoàn kinh tế có thể coi như sản phẩm của một lực lượng sản xuất
phát triển. Nó ra đời và phát triển xuất phát từ yêu cầu của tích tụ, tập
trung, cạnh tranh, liên kết vì mục đích lợi nhuận, nó phản ánh hoạt
động xã hội và văn hóa của một dân tộc hoặc đa quốc gia; nó thể hiện
việc thực hiện chính sách kinh tế – xã hội và là sự biến đổi sản xuất
kinh doanh cho phù hợp với tiến bộ khoa học công nghệ của những tổ
chức và cá nhân trong sản xuất kinh doanh. Xét về bản chất, đó là một
tổ chức kinh tế vừa mang tính chất của một doanh nghiệp kinh doanh vì
mục đích sinh lời, vừa mang đặc trưng của một Hiệp hội kinh tế phục
vụ lợi ích chung của các thành viên.
Ngô Thị Phương Anh - Kinh tế Quốc tế 47

Ngô Thị Phương Anh - Kinh tế Quốc tế 47
8
Đề án môn học
 Khi đó và chỉ khi đó mà thôi, tập đoàn kinh tế mới hình thành và phát
triển theo hướng vừa đa lĩnh vực ngành hàng kinh doanh, vươn ra thị
trường quốc gia và thế giới, vừa đa sở hữu. Trong đó, công ty mẹ
thường cũng là một công ty cổ phần, hoạt động đầu tư vốn vào các
doanh nghiệp con trên quy mô lớn. doanh nghiệp con có thể tồn tại
dưới loại hình công ty hợp danh, công ty cổ phần, công ty TNHH hay
công ty TNHH một thành viên là công ty mẹ. Vì vậy, tập đoàn kinh tế
là kết quả của quá trình tích tụ tư bản trong nền kinh tế thị trường. Nó
không có “ngày sinh, tháng đẻ”, không có ai ra quyết định thành lập
hay đăng ký thành lập như doanh nghiệp, do đó nó không phải là một
thực thể pháp lý, nó vô hình, không có tư cách pháp nhân.
 Quy mô của tập đoàn tương đối lớn và hoạt động đa dạng, đa nghành.
Do 3 nguyên nhân chủ yếu là : thứ nhất, cùng với quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế; thứ hai là sau khi thực hiện cổ phần hoá và sắp xếp lại,
các doanh nghiệp thường gặp nhiều khó khăn mới trong việc khẳng
định thương hiệu, nên phải không ngừng mở rộng quy mô, đa dạng hoá
hoạt động, sản phẩm, khai thác đối tác và thị trường có triển vọng,
nhằm nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của mình; thứ
ba, là trong bối cảnh thị trường thay đổi rất nhanh, việc kinh doanh đa
ngành, đa lĩnh vực là một trong những chiến lược, định hướng lâu dài
cho bất kỳ một doanh nghiệp nào kể cả những doanh nghiệp lớn
chuyên sâu trong lĩnh vực truyền thống, vì chúng cho phép doanh
nghiệp năng động nắm bắt và thực hiện những hoạt động mới, giúp
doanh nghiệp phát huy các nguồn lực bên trong, huy động nguồn lực
bên ngoài, giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp, góp phần phát triển thị
trường, tạo thế, tạo đà phát triển bền vững cho doanh nghiệp.Có thể
nói, việc đa dạng hoá đầu tư của các tập đoàn và doanh nghiệp là xu thế

được những tài sản trong các doanh nghiệp Nhật Bản và vài người trong số họ
đã phát triển nó thành các Chaebol vào thập niên 90. Các công ty đó chỉ thực
sự phát triển mạnh mẽ và hợp tác hình thành nên tập đoàn bắt đầu từ thời kì
Ngô Thị Phương Anh - Kinh tế Quốc tế 47
10
Đề án môn học
tổng thống Park Chung Hee (nhiệm kì 1961-1979). Ông đã áp dụng mô hình
tương tự như Zaibatsu – được phát triển ở Nhật Bản trong suốt thời kì Meiji
Era. Tuy vậy mô hình Chaebol vẫn có những khác biệt với mô hình Zaibatsu
thể hiện ở những điểm như: Chaebol được điều hành bởi gia đình trong khi
Zaibatsu lại được điều hành bởi những nhóm các nhà quản lý chuyên nghiệp;
trong các Chaebol quyền lực tập trung trong tay chính những người sở hữu,
còn ở Zaibatsu có sự phân quyền và kết hợp chặt chẽ với các cổ đông;
Chaebol thường hình thành những công ty con để sản xuất các sản phẩm phục
vụ xuất khẩu, trong khi các tập đoàn lớn của Nhật Bản lại thường thuê các
nhà đấu thầu bên ngoài.
Chaebol đã trải qua thời kì phát triển thần kỳ bắt đầu từ những năm
1960 gắn chặt với mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu của Hàn Quốc. Thập niên 50
và đầu 60 sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là bông và sợi; thập niên 70 và 80 là
sản phẩm công nghiệp nặng và hóa chất; thập niên 90 là các sản phẩm điện
lạnh và công nghệ cao. Chính Chaebol đã làm thay đổi thâm hụt thương mại
vào năm 1985 sang thặng dư vào năm 1986. Cán cân thanh toán từ 4 tỷ đôla
Mỹ vào năm 1988 đã tăng lên 5 tỷ đôla Mỹ vào năm 1989. Những năm 1980
là thời kỳ mà các Chaebol phát triển bùng nổ trên thị trường xuất khẩu. Cuối
những năm 1990 họ đã trở thành những tổ chức tài chính độc lập và dần thoát
khỏi sự kiểm soát cũng như bảo trợ của Chính phủ.
Ngô Thị Phương Anh - Kinh tế Quốc tế 47
11
Đề án môn học
Bảng 1.1 Danh sách các Chaebol hàng đầu Hàn Quốc

lâu được coi là “rường cột” của nền kinh tế nước này. Người Hàn Quốc ví bộ
ba này là “tam đại Chaebol” bao gồm: Samsung (Ba ngôi sao), Hyundae
Ngô Thị Phương Anh - Kinh tế Quốc tế 47
12
Đề án môn học
( Hiện đại), Daewoo (Đại vũ). Lịch sử hình thành của ba Chaebol này có thể
trình bày ngắn gọn như sau:
Samsung là tập đoàn lớn nhất của Hàn Quốc, được sáng lập bởi Lee
Byung Chul - con trai một địa chủ. Lớn lên trong thời kì mà Hàn Quốc chịu
sự chiếm đóng của Nhật Bản, từ nhỏ Lee được giáo dục theo kiểu truyền
thống Nho giáo. Đến năm 10 tuổi Lee được gửi đến học ở trường tiểu học ở
Seoul và sau đó theo học đại học Waseda, Tokyo. Nhưng trước khi tốt nghiệp
Lee đã rời trường để trở về Seoul và không làm gì trong vài năm. Năm 26 tuổi
Lee được thừa kế xưởng gạo của gia đình nhưng công việc kinh doanh không
thuận lợi, Lee đã rời quê đến Daegu. Năm 1938 Lee thành lập công ty tại
Daegu lấy tên là Samsung. Công ty này đã có lúc rơi vào nguy cơ phá sản do
ảnh hưởng của việc chiếm đóng của Nhật Bản nhưng Lee vẫn kiên trì theo
đuổi công việc kinh doanh của mình. Năm 1945 chiến tranh Nhật – Hàn kết
thúc, Samsung đã phát triển hưng thịnh với thị trường được mở rộng cả trong
ngoài nước, trở thành một trong mười Công ty thương mại lớn nhất ở Nam
Hàn. Năm 1950 chiến tranh Triều Tiên nổ ra, Lee đã rời Seoul đến Pusan tiếp
tục công việc kinh doanh của mình. Đến năm 1953 Lee thành lập công ty sản
xuất đường tinh luyện lấy tên là Cheil Sugar, một năm sau đó là sự ra đời của
Cheil Wool Texttile Company.
Samsung được hưởng lợi rất lớn từ Chính sách thay thế nhập khẩu của
Chính phủ, kết quả là cuối những năm 1950 Samsung đã giành được quyền
kiểm soát một số Ngân hàng thương mại và Công ty bảo hiểm. Đến những
năm 1960 Lee đã chọn điện tử là mặt hàng sản xuất chủ yếu của Samsung.
Nếu như vào năm 1977 các kỹ sư của Samsung mới làm công việc là tháo dỡ
các tivi màu từ Mỹ, Nhật, Châu Âu để xem xét và copy lại thì chỉ không đầy 3

Ngô Thị Phương Anh - Kinh tế Quốc tế 47
14
Đề án môn học
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ CHAEBOL
HÀN QUỐC
2.1. Đặc trưng của Chaebol Hàn Quốc
Xét về cơ chế quản lý thì mỗi Chaebol lại có phương thức quản lý riêng
nhưng nói chung các Chaebol đều có những đặc trưng chủ yếu sau:
Thứ nhất, trong cơ cấu của Chaebol các công ty thành viên hoạt động
kinh doanh chuyên ngành hoặc đa ngành.
Thứ hai, khác với tập đoàn công nghiệp của phương Tây mọi quyết
định quan trọng của Chaebol đều chỉ được quyết định ở cấp cao nhất - tức là
Chủ tịch và mọi nhân viên đều phải tuân thủ. Tuy vậy các quan chức cũng có
vai trò quan trọng và đóng góp không nhỏ trong việc ra quyết định.
Thứ ba, cơ cấu nhân sự trong các Chaebol nổi rõ lên là sự phân cấp,
phân tầng rõ rệt theo kiểu “pyramid scheme” (hệ thống kiểu kim tự tháp).
Loại tổ chức này tạo nên sự thống nhất chặt chẽ trong hoạt động và thúc đẩy
mọi thành viên luôn nỗ lực để đạt được kết quả cao trong vị trí của mình và
phấn đấu lên vị trí cao hơn trong cơ cấu đó. Tuy nhiên cách tổ chức này
không tránh khỏi những hạn chế của một cơ chế quản lý truyền thống là tính
cứng nhắc và thiếu sự điều chỉnh linh hoạt.
Thứ tư, mức độ chi phối trong các Chaebol tương đối chặt chẽ và chủ
yếu do người sáng lập và hậu duệ của họ. Ví dụ: Chung Ju Yung và gia đình
kiểm soát 61,3% cổ phần của Chaebol Hyundai. Chung Taeso và các con ông
ta kiểm soát tới 85,45% cổ phần của Chaebol Hanbo. Sau khi In Koe Koo,
người sáng lập Chaebol LG qua đời, quyển sở hữu và kiểm soát Chaebol
thuộc về các con trai, con rể và anh em ruột của ông ta.
Ngô Thị Phương Anh - Kinh tế Quốc tế 47
15

truyền thống của Hàn Quốc. Vì vậy, mô hình mà chúng áp dụng dường như
chỉ có thể thực hiện được trong một nền chuyên chế độc tài. Tất cả mọi người
dân và xã hội đã chấp nhận điều này như một tập quán và truyền thống kinh
doanh.
2.2.3. Về cơ chế điều hành
Trong mỗi Chaebol đều có một cơ quan điều hành riêng, cho dù tên gọi
khác nhau, các cơ quan này đều có chức năng là giúp Chủ tịch tập đoàn phối
hợp hoạt động của Công ty chi nhánh, điều hành nhân sự, tài chính, đầu tư
nghiên cứu và triển khai (R&D). Bằng các hoạt động cụ thể, các cơ quan điều
hành góp phần nâng cao tính hiệu quả của tập đoàn nói chung, các Công ty
chi nhánh nói riêng. Do quan hệ đẳng cấp, Chủ tịch Chaebol có vai trò chi
phối các thành viên khác của Hội đồng. Nhìn chung, Chủ tịch Chaebol mang
tính độc đoán, gia trưởng, đó là đặc thù nổi bật nhất trong các tổ chức kinh
doanh Hàn Quốc.
Ngày nay, với sự phát triển sâu rộng của xu thế toàn cầu hoá, khu vực
hoá, các Chaebol thường vay nợ cao để mở rộng và phát triển kinh doanh.
Thông thường vay từ 100 đến 200% số vốn tự có của họ để kinh doanh và nợ
ngân hàng được Chaebol coi là nguồn lực không thể thiểu. Chính vì vậy nền
tảng tài chính của họ không được vững chắc và nhiều Chaebol đã đi đến phá
sản. Do vậy, để tồn tại và phát triển, đòi hỏi các Chaebol phải cơ cấu tổ chức
quản lý lại cho phù hợp với điều kiện kinh tế quốc tế đã thay đổi. Do đó, hầu
hết các chaebol đã tìm cách tăng mức độ nhất thể hoá theo chiều dọc, tức là
quá trình các Công ty lớn thâm nhập rộng rãi vào các ngành khác, mà những
ngành này có quan hệ với các ngành hiện đang kinh doanh của Công ty như
Ngô Thị Phương Anh - Kinh tế Quốc tế 47
17
Đề án môn học
những bước trung gian của sản xuất và lưu thông để duy trì sự kiểm soát và
giảm rủi ro.
2.3. Xu hướng đa dạng hóa trong các Chaebol Hàn Quốc

(bảng xếp hạng năm 1984) thì có tới 60% được hình thành trong thời kỳ này.
Số lượng các công ty của 30 Chaebol hàng đầu Hàn Quốc đã tăng 30% trong
thời kỳ 1993 – 1997. Nếu so với năm 1987 thì số lượng công ty thành viên
của 30 Chaebol hàng đầu đã tăng gần gấp rưỡi. Ví dụ điển hình là Hyundai.
Đầu những năm 70 Hyundai chỉ có 4 công ty mới được tách ra từ công ty
đóng tàu thì cuối những năm 70 Huyndai đã tấn công vào các lĩnh vực khác
như cơ khí, phụ tùng ôtô, xây dựng, lọc dầu và nâng số công ty thành viên của
mình lên 20 công ty. Trong mỗi lĩnh vực Hyundai lại có nhiều công ty con,
như trong lĩnh vực xây dựng và đồ gỗ Hyundai có tới 6 công ty con: Hyundai
Cement. Co. Ltd; Dongsu Industrial. Co. Ltd; Hyundai Wood Industry. Co.
Ltd; Keumkay Development Industrial Co.Ltd; Keumkay Co.Ltd; Korea
Chemical Co. Ltd. Về lĩnh vực nếu lúc đầu Huyndai hoạt động trong lĩnh vực
đóng tàu thì đến năm 1993 Hyundai đã tham gia trên 30 lĩnh vực khác nhau.
Hiện nay Hyundai là Chaebol có số thành viên nhiều thứ ba ở Hàn Quốc (chỉ
sau Samsung và SK).
Hai là: Các Chaebol đa dạng hóa với mức độ cao
Theo số liệu thống cho thấy tốc độ đa dạng hóa trung bình của các công
ty thuộc 20 Chaebol hàng đầu Hàn Quốc lớn gấp 10 lần so với tốc độ đa dạng
hóa các công ty không thuộc Chaebol. Chaebol có quy mô lớn thì tốc độ đa
dạng hóa càng cao. Số lượng công ty thành viên của 30 Chaebol lớn nhất ở
Hàn Quốc trung bình là 27,5 công ty, đáng chú ý nhất có Samsung (80),
Hyundai (57), LG (49), SK (46). Về mức độ đa dạng hóa trung bình của 20
Chaebol hàng đầu là 15,5 (tính theo số ngành mà các công ty tham gia kinh
doanh), chỉ số này cao hơn nhiều so với mức trung bình các công ty của các
nước trên thế giới.
Ngô Thị Phương Anh - Kinh tế Quốc tế 47
19
Đề án môn học
Ba là: Sự đan xen giữa đa dạng hóa liên hệ và đa dạng hóa không liên
hệ

thực phẩm (tổng vốn đầu tư chiếm tới hơn 66% tổng giá trị tài sản) thì đến
những năm 70 cũng đẩu tư vào công nghiệp nặng. Năm 1983 đầu tư vào
ngành này của Samsung chiếm tới hơn 33% trong khi đầu tư vào công nghiệp
nhẹ chỉ còn 17%.
Thái độ coi trọng và ưu tiên dành cho các công ty của Chính phủ làm
cho các Chaebol chú ý đến việc mở rộng quy mô hơn là gia tăng lợi nhuận. Vì
khi mở một công ty mới thì các Chaebol lại được vay tiền từ các ngân hàng
của Chính phủ, khi vay được vốn mà thành lập công ty khác thì lại được vay
vốn tiếp. Do đó các Chaebol liên tiếp thành lập các công ty mới để được vay
nhiều vốn từ các ngán hàng của Chính phủ và nước ngoài.
Bên cạnh đó, Chính phủ không cho phép các Chaebol thực hiện phá sản
đối với các công ty thành viên hoạt động kinh doanh không hiệu quả do lo
ngại những hậu quả về chính trị và xã hôi khi tình trạng thất nghiệp gia tăng.
Chính sách này cùng các biện pháp hỗ trợ giúp các công ty tiếp tục duy trì và
mở rộng hoạt động. Bởi vậy mà quy mô và lĩnh vực hoạt động của Chaebol
ngày một gia tăng.
Cuối cùng là Chính phủ giảm thiểu rủi ro cho các Chaebol bằng cách
thủ tiêu cạnh tranh trong thị trường nội địa. Các công ty thuộc Chaebol được
vay vốn với lãi suất thấp hơn nhiều so với các công ty không thuộc Chaebol.
Ví dụ: năm 1970 mức lãi suất cho các Chaebol chỉ có 7,2% trong khi mức lãi
suất trên thị trường là 35,2%. Chính phủ cũng thực hiện bảo vệ sản phẩm của
Chaebol bằng cách kiểm soát hàng nhập khẩu. Do vậy Chaebol độc quyền,
tích lũy được nguồn vốn lớn tạo điều kiện tham gia vào những ngành không
phải trọng điểm.
Hai là: Tình trạng kém phát triển của yếu tố đầu vào và mức chi phí
giao dịch thấp
Williamson đưa ra nhận định rằng mức độ phát triển của thị trường yếu
tố đầu vào và chi phí giao dịch có ảnh hưởng quyết định đến khả năng thực
Ngô Thị Phương Anh - Kinh tế Quốc tế 47
21

Trong điều kiện môi trường kinh tế có nhiều biến động phức tạp, đa
dạng hóa chính là giải pháp tối ưu của các Chaebol để giảm thiểu rủi ro và
tăng khả năng cạnh tranh.
2.4. Vai trò của các Chaebol đối với kinh tế Hàn Quốc
Một là: Đầu tàu kinh tế của Hàn Quốc
Vai trò này của các Chaebol bắt đầu từ những năm 60 (khi tổng thống
Park Chung Hee nắm quyền ) xuyên suốt cho đến nay. Để các Chaebol thực
hiện vai trò của mình, chính phủ Hàn Quốc lên kế hoạch phát triển kinh tế
-vốn đã bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh, cùng với đó chính phủ cũng giao
cho Chaebol những ưu đãi đặc biệt. Trên thực tế Chaebol đã rất thành công
với mục tiêu này.
Từ khi được hình thành cho đến trong suốt những năm 70 Chaebol đã
thực sự trở thành trụ cột kinh tế của Hàn Quốc. Chaebol đã sản xuất kinh
doanh thương mại và dịch vụ, thu hút chuyển giao công nghệ,… Các Chaebol
trong thời kì này đã đóng góp rất lớn cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
của nền kinh tế với tỷ lệ hàng năm trung bình 20-30% GDP và tỷ lệ xuất khẩu
chiếm khoảng 40%, đồng thời đã tạo ra nền công nghệ hiện đại cho nền sản
xuất Hàn Quốc. Chỉ tính riêng năm 2003, tổng kim ngạch xuất khẩu của 4
Chaebol hàng đầu là Daewoo, Hyundai, LG và SK đã lên đến 111,7 tỷ USD,
chiếm 58% tổng giá trị xuất khẩu của Hàn Quốc, chiếm 1/3 tổng giá trị tư bản
của thị trường.
Đóng góp lớn nhất cho nền kinh tế Hàn Quốc phải kể đến 3 tập đoàn -
thường được mệnh danh là những “đại gia” của Hàn Quốc: Samsung (Ngôi
sao), Hyundai (Hiện đại) và Daewoo (Đại vũ). Họ là những đại gia xuyên suốt
thế kỉ 20 và 21. Bên cạnh đó cũng tồn tại những tập đoàn khác như: LG,
Ssangyong,…cũng được coi là hệ xương sống của nền kinh tế Hàn Quốc.
Ngô Thị Phương Anh - Kinh tế Quốc tế 47
23
Đề án môn học
Samsung từ lâu rồi được xem là hiện tượng, là đặc trưng điển hình của

Đề án môn học
4. Hyundai Group 57,2 tỷ USD
5. Hanjin 16,2 tỷ USD
6. Hyundai Heavy Industry 10,5 tỷ USD
7. Lotte 6,3 tỷ USD
8. Doosan 4,5 tỷ USD
9. Hanhwa 4,4 tỷ USD
10.Kumho Asiana Group 2,8 tỷ USD
(Nguồn : en.wikipedia.org)
Hai là: Nâng cao vị thế của nền kinh tế Hàn Quốc trên thị trường thế
giới
Đi đầu trên con đường chinh phục thị trường thế giới phải kể đến
Chaebol Samsung. Tập đoàn này có ba lĩnh vực kinh doanh quan trọng để tạo
nên thê chân vạc vững chắc là: lĩnh vực điện tử ( Samsung Electronics), công
nghiệp nặng (Samsung Heavy Industries) và kỹ thuật xây dựng (Samsung
Engineering & Construction). Trong đó Samsung Electronics, thành lập năm
1969, là một bộ phận lớn nhất của tập đoàn Samsung, và hiện nay được coi là
một trong những công ty điện tử lớn nhất thế giới. Theo bảng xếp hạng 500
thương hiệu mạnh nhất toàn cầu mới nhất của Fortune, năm 2007, trong số
các công ty điện – điện tử, Samsung có mức doanh thu đứng thứ hai thế giới
với 106 tỉ USD nhưng lợi nhuận lại đạt mức cao nhất thế giới với gần 8 tỉ
USD. Thế nhưng, ít người biết rằng cho đến đầu những năm 90, Samsung chỉ
là một công ty châu Á chưa có tên tuổi, sản phẩm vẫn nằm ở những chỗ khuất
của các cửa hàng và ít được chú ý bởi thiết kế hầu như lặp lại và công nghệ
thua xa các đối thủ sừng sỏ đến từ Nhật Bản.
Bằng những thay đổi hợp lý trong quản lý và tiếp thị, Samsung đã bứt
phá ngoạn mục khi dần vươn lên trở thành một trong những thương hiệu hàng
đầu thế giới kể từ năm 1997, thời điểm mà các nước trong khu vực như
Philippines, Hong Kong, Indonesia, Malaysia,... nói chung và Hàn Quốc nói
Ngô Thị Phương Anh - Kinh tế Quốc tế 47


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status