Hiệp định chống bán phá giá của WTO và luật chống bán phá giá của Hoa kì - Pdf 29

Tiểu luận luật KT2
Hiệp định chống bán phá giá của WTO và luật bán phá giá của hoa Kỳ . những thách
thức , khó khăn có liên quan trong việc xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam.

Lời mở đầu

Hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra
mạnh mẽ, mang lại nhiều lợi ích và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của
nhiều quốc gia trên cơ sở một nền thơng mại và đầu t công bằng.
Nhng trong khi các quốc gia thành viên WTO đang phải dẫn dỡ bỏ
các rào cản thuế quan và thuế hoá các rào cản phi thuế quan thì các
biện pháp tự vệ, thuế chống phá giá và thuế đối kháng vẫn ngày càng
đợc nhiều quốc gia phát triển áp dụng một cách triệt để, nhất là,
nhiều nớc đang phát triển và kém phát triển phải đối mặt với tình
trạng hàng hoá nhập khẩu bán phá giá tại thị trờng của mình, và gánh
chịu những thiệt hại cho sản xuất trong nớc. Việc tìm các biện pháp
bảo đảm thơng mại công bằng - biện pháp chống bán phá giá, đang
đợc rất nhiều nớc quan tâm, kể cả các nớc phát triển và đang phát
triển. Tuy nhiên không phải nớc nào cũng áp dụng biện pháp chống
bán phá giá một cách đúng đắn, đôi khi mang tính chủ quan áp đặt
mang tính chính trị.... Hàng hoá của Việt Nam cũng đã gặp phải
những biện pháp chống bán phá giá mà nớc sở tại áp dụng. Sự việc
đó cũng đã ảnh hởng đến xuất khẩu hàng hoá của chúng ta. Trong
bài tiểu luận này em xin đề cập tới vấn đề Hiệp định chống bán phá
giá của WTO và Luật chống bán phá giá của Hoa kỳ. Những thách
thức, khó khăn có liên quan trong việc xuất khẩu hàng hoá của Việt
Nam. Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong khoa Luật đã
giúp em rất nhiều trong việc hoàn thành bài tiểu luận này.

THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Tiểu luận luật KT2
Hiệp định chống bán phá giá của WTO và luật bán phá giá của hoa Kỳ . những thách
thức , khó khăn có liên quan trong việc xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam.

(2) Nếu không thể xác định mức giá nội địa đó thì:
+ Mức giá đó thấp hơn mức giá tơng đối cao nhất đợc xuất
khẩu tới một nớc thứ ba trong điều kiện thơng mại thông
thờng.
+ Mức giá đó thấp hơn chi phí sản xuất tại nớc xuất khẩu cộng
với một tỷ lệ hợp lý chi phí và lợi nhuận bán hàng.
2. Biện pháp chống bán phá giá trong thơng mại quốc tế
Trong thơng mại quốc tế, khi hàng hoá bị xem là bán phá giá
thì chúng có thể bị áp đặt các biện pháp chống bán phá giá
(antiduming) nh thuế chống phá giá, đặt cọc hoặc thế chấp, can thiệp
hạn chế định lợng hoặc điều chỉnh mức giá của nhà xuất khẩu nhằm
triệt tiêu nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nớc nhập
khẩu, trong đó thuế chống bán pháp giá và biện pháp phổ biến nhất
hiện nay.
Về thực chất, thuế chống bán phá giá là một loại thuế nhập khẩu
bổ sung đánh vào những hàng hoá bị bán phá giá ở nớc nhập khẩu
nhằm hạn chế những thiệt hại do việc bán phán giá đa đến cho ngành
sản xuất của nớc đó nhằm bảo đảm sự công bằng trong thơng mại
(nói chính xác đó là một sự bảo hộ hợp lý cho sản xuất trong nớc).
Thuế này đánh vào các nhà sản xuất riêng lẻ chứ không phải là thuế
áp đặt chung cho hàng hoá của một quốc gia. Nguyên tắc chung nêu
ra những Hiệp định của WTO là không đợc phân biệt đối xử khi áp
dụng thuế chống phá giá, tức là nếu hàng hoá bị bán phá giá đợc xuất
khẩu từ những quốc giá khác nhau với cùng biên độ phá giá nh nhau
thì sẽ áp đặt mức thuế chống phá giá thuộc vào biên độ phá giá của

tự đợc xuất khẩu sang một nớc thứ ba thích hợp, với điều kiện là
mức giá có thể so sánh đợc này mang tính đại diện, hoặc đợc xác
định thông qua so sánh với chi phí sản xuất tại nớc xuất xứ hàng hoá
cộng thêm khoản chi phí hợp lý cho quản trị, bán hàng, các chi phí
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Tiểu luận luật KT2
Hiệp định chống bán phá giá của WTO và luật bán phá giá của hoa Kỳ . những thách
thức , khó khăn có liên quan trong việc xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam.

chung khác và một khoản lợi nhuận. Nh vậy, có thể hiểu rằng biên
độ phá giá là mức chênh lệch giá thông thờng của hàng hoá tơng tự
với mức giá xuất khẩu hiện tại. Việc xác định giá thông thờng đợc
tính toán rất phức tạp dựa trên cơ sở sổ sách và ghi chép của nhà xuất
khẩu hoặc nhà sản xuất là đối tợng đang đợc điều tra với điều kiện
là sổ sách này phù hợp với các nguyên tắc kế toán đợc chấp nhận
rộng rãi và phản ánh đợc một cách hợp lý của chi phí.
Để xác định hàng hoá có bị bán phá giá hay không ? Việc bán
phá giá có thể gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nớc
hay không để áp đặt các biện pháp chống phá giá thì điều quan trọng
nhất và phức tạp nhất này ở quá trình điều tra về bán pháp giá. ở
những quốc gia khác nhau, việc điều tra sẽ đợc thực hiện bở các cơ
quan chức năng khác nhau. Theo quy định trong Hiệp định về chống
bán pháp giá của WTO thì việc điều tra chỉ đợc tiến hành khi có đơn
yêu cầu bằng văn bản của ngành sản xuất trong nớc hoặc của ngời
dân dành cho ngành sản xuất trong nớc. Đơn yêu cầu sẽ đợc coi là
đủ t cách đại diện cho ngành sản xuất trong nớc nếu nh đơn này
nhận đợc sự ủng hộ bởi các nhà sản xuất chiếm tối thiểu 50% tổng
sản lợng của sản phẩm tơng tự đợc bắt đầu nếu nh các nhà sản
xuất bày tỏ ý kiến tán thành điều tra chiếm ít hơn 25% tổng sản lợng
của sản phẩm tơng tự đợc ngành sản xuất trong nớc làm ra.

ngành tại Mỹ, hay tạo sự kiềm chế hoặc độc quyền về hàng hoá đó tại
Mỹ.
Các thủ tục hành chính áp dụng cho việc chống phá giá đợc
quy định trong Đạo Luật chống phá giá 1916; Đạo luật chống phá giá
1921; Mục VII của Đạo Luật thuế 1930.
Thủ tục chủ đạo đó là: thay vì dựa trên hành động của chính phủ
hay cá nhân trớc toà án, luật chống phá giá cho phép thực hiện các
thủ tục tố tụng. Cụ thể là, những ngời đại diện cho một ngành ở Mỹ
có thể lấy các lá phiếu biểu quyết và trình cho Bộ Thơng Mại Mỹ
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Tiểu luận luật KT2
Hiệp định chống bán phá giá của WTO và luật bán phá giá của hoa Kỳ . những thách
thức , khó khăn có liên quan trong việc xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam.

(DOC). DOC sẽ quyết định có tồn tại việc phá giá hay không và ITC
có trách nhiệm tìm kiếm bằng chứng và chứng minh sự tồn tại các tổn
thất. Yêu cầu về việc có dự định hay không có dự định từ phía bên bị
không quan trọng. Nếu ITC phát hiện ra tồn tại phá giá và tổn thất phá
giá, thuế chông phá giá sẽ đợc áp dụng. Bên bị sẽ không phải chịu
các trừng phạt dân sự hay hình sự nào.
II. những thách thức và khó khăn có liên quan
trong việc xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam .
Việc bán phá giá đang diễn ra ngày càng nhiều ở hầu hết các
quốc gia kể cả các quốc gia phát triển và đang phát triển. Mặc dù là
nớc đang phát triển ở trình độ thấp, nhng vài năm trở lại đây hàng
hoá của Việt Nam đã dần thâm nhập vào các thị trờng khác nhau và
các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã bị nớc ngoài tiến hành điều tra
bán phá giá tới 8 lần (tính từ 1994 - 2002). Trong số 8 vụ các doanh
nghiệp Việt Nam bị áp đặt thuế chống phá giá. Vụ kiện bán phá giá cá
tra, các ba - sa của Việt Nam tại Mỹ (năm 2002) đợc coi là một vụ

vụ kiện phá giá và vận dụng cơ chế chống bán phá giá. Qua các vụ
kiện phá giá chúng ta có cơ hội nhìn nhận rõ hơn thực trạng thơng
mại quốc tế hiện nay. EU đã bác bỏ vụ kiện DN Việt Nam bán phá giá
bật lửa gas vào thị trờng này với lý lẽ, DN Việt Nam hoạt động trong
nền kinh tế thị trờng. Trong khi đó, Hoa Kỳ lại kết luận Việt Nam có
nền kinh tế phi thị trờng. Việc xem xét Việt Nam là nền kinh tế thị
trờng hay phi thị trờng hoàn toàn mang tính chính trị, không phụ
thuộc vào yếu tố kỹ thuật, mặc dù phía Mỹ có đa ra 5 yếu tố kỹ thuật
để xem xét. Nh vậy, kinh tế thị trờng chỉ là cái cớ mà nguyên nhân
sâu xa chính là giá bán. Với mức giá 1kg các basa khoảng 3USD thì
các DN Hoa Kỳ cạnh tranh nổi, khi đó hình thức kiện phá giá đợc sử
dụng nhiều nhất. Chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch Hoa Kỳ đã phát triển đến
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status