TIỂU LUẬN LỊCH SỬ GIÁO DỤC THẾ GIỚI Vài nét về tư tưởng giáo dục của Jean Piaget - Pdf 29

Trường Đại học Sư Phạm TP.HCM
Khoa Tâm lý giáo dục
Lớp Tâm lý 3 – K36
SV: Nguyễn Thị Lý
Nguyễn Thị Hồng Nhan
Đề tài:
Vài nét về tư tưởng giáo dục của Jean Piaget
1. Tiểu sử:
Jean Piaget 9 - 8 - 1896 ở Neuchâtel, Thuỵ sĩ (1896 - 1980) vừa là một nhà giáo
dục, một nhà nhận thức luận, và là một nhà tâm lý học. Ông là hình ảnh của một viện
sĩ hàn lâm “khai sáng” cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh chống lại các thể
chế kìm kẹp và các định kiến về những người trí thức ở thời đó.
Bố là nhà sử học chuyên về văn học Trung cổ, theo Piaget, ông là “một người có
tư duy phê phán thận trọng và không không ưa những kết luận vội vàng”, không sợ
đương đầu với đấu tranh khi phát hiện thấy lịch sử bị bóp méo cho phù hợp với những
truyền trống đáng kính.
Mẹ thông minh, năng nổ và nhân hậu nhưng thần kinh dễ bị kích động. Piaget
vừa muốn bắt chước bố mình, vừa muốn trốn thoát vào một thế giới riêng, thế giới của
lao động nghiêm túc. Piaget nhận ra rằng, hoàn cánh sôi sục của gia đình khuyến khích
nơi ông sự quan tâm tới lý thuyết phân tâm.
Một trong những bài viết đầu tiên là một cuốn sách nhỏ mô tả sự kết hợp một đầu xe
lửa với một toa tàu rồi đến một con chim sẻ bị bệnh bạch tạng mà Piaget quan sát thấy
trong một công viên.
Piaget đã xuất bản 5 cuốn sách: ngôn ngữ và tư duy ở trẻ em (1923), phê phán và lập
luận ở trẻ em (1924), quan niệm của trẻ em về thế giới (1926), phán xét của trẻ em về
Đạo đức (1932).Các sách được đọc và bàn luận.
Piaget nổi tiếng là một nhà tâm lý học trẻ em tuy rằng không có một bằng đại
học nào về bộ môn tâm lý luận rộng rãi. Ông đã viết 40 cuốn sách, khoảng 100 bài
viết về TL trẻ em.
Từ năm 1929 – 1945, đạt nhiều chức vụ hàn lâm và hành chính ở Đại học Neuchâttel
cũng như nhiều địa vị quốc tế như: Chủ tịch ủy ban Unesco của Thụy Sĩ, Cục trưởng

khuôn quan điểm đạo đức của người lớn.
Nếu chỉ nghiên cứu đạo đức dựa trên lòng tôn trọng cái được coi là đạo đức có sẵn
thì sẽ có thể có hai thứ lòng tôn trọng, một đúng và một sai, một tốt và một không tốt,
một chân thành và một giả dối.
Thông qua trò chơi có luật lệ hẳn hoi- trò chơi đánh bi và xem xét sự nảy sinh lòng
tôn trọng của luật lệ chơi ra sao. Ông thấy rằng ở cái độ tuổi các em ít chịu áp dụng luật
lệ thì chính là giai đoạn các em có lòng tôn trọng cao nhất đối với luật lệ và đến cái độ
tuổi hiểu biết rõ hơn với việc áp dụng luật lệ thì lại là cái giai đoạn các em không còn coi
luật lệ là thiêng liêng, bất biến nữa.
Ông cho rằng ta cần phân biệt thứ đạo đức do bề trên áp đặt cho trẻ với chính đạo đức
các em áp đặt cho nhau. Bị bề trên áp đặt thì hay ho bao nhiêu cũng thành không tự
nguyện. trẻ em dù có áp đặt cho nhau thì đó cũng là sự đồng thuận hàm chứa trong đó cả
sự tự do lẫn tự nguyện tước bỏ phần tự do cồng kềnh của cá nhân mình để hòa nhập với
cộng đồng.
b. Quan điểm về trí tuệ
Trí tuệ phải là một thuộc tính đa diện. Những đứa trẻ lớn tuổi hơn không chỉ đơn giản
là thông minh hơn những đứa trẻ ít tuổi, mà quá trình suy nghĩ của chúng cũng hoàn
toàn khác. Ví dụ: hỏi trẻ 1 ký bông và 1 ký sắt, cái nào nặng hơn, trẻ em dưới 7 tuổi sẽ
trả lời sai và khác câu trả lời của trẻ lớn hơn.
Theo ông có 4 giai đoạn nhận thức:
Cảm giác- vận động từ 0-2t sự phối hợp cảm giác và hoạt động vận động, trẻ nhận
thức sự vật như là bất biến.
Tiền thao tác từ 2-7t sử dụng ngôn ngữ và sự đại diện tượng trưng, quan điểm tự kỉ
trung tâm về thế giới.
Thao tác cụ thể từ 7-11t giải quyết các vấn đề cụ thể thông qua các thao tác logic.
Thao tác hình thức từ 11t trở nên giải quyết 1 cách hệ thống các vấn đề thực tế và giả
định bằng cách dùng các kí hiệu trừu tượng.
c. Quan điểm về nhân cách
Nhân cách cá nhân con người là chủ thể của mối quan hệ xã hội, cân bằng là trung
tâm trong học thuyết về nhân cách của ông, giáo dục là yếu tố quan trọng trong việc phát

Do đó, trường học không có sự ép buộc, đó là nơi học sinh được thử nghiệm một
cách chủ động với mục đích tái tạo lại cho bản thân mình những điều được dạy.
Tuy nhiên, ông đã nhắc nhở rằng: “Trẻ em không học cách thử nghiệm chỉ đơn giản
bằng cách quan sát giáo viên thao tác các thử nghiệm, hoặc bằng cách làm các bài tập
đã được tổ chức trước. Trẻ em học bằng quá trình tìm kiếm và nhầm lẫn, bằng cách làm
việc chủ động và độc lập, tức là không bị bó buộc và có đầy đủ thời gian.”
• học sinh tái khám phá và tái xây dựng những điều thực tế thay vì tiếp nhận chúng dưới
dạng làm sẵn.
• không bị bó buộc và bị động.
• phát huy tính tích cực tìm tòi, khám phá, nhầm lẫn của học sinh.
• Tính vừa sức dạy học phù hợp với giai đoạn phát triển thích hợp của trẻ.nếu không trẻ sẽ
khó tiếp thu, chán nản. trẻ em đang ở 1 giai đoạn nhất định không thể dạy các khái niệm
về 1 giai đoạn cao hơn. Dựa trên giai các giai đoạn nhận thức của piagie.
• Tin tưởng học sinh.
• Dạy khi họ đã sẵn sàng.
• Tạo ra sự mất cân bằng. Sự cân bằng giữa đồng hoá (Assimiliation) và điều ứng
(Accomodation).
Đồng hoá: Sự thống nhất thông tin mới vào cấu trúc tinh thần đang có sẵn.
Điều ứng: Sự thay đổi một cấu trúc tinh thần để thu vào thông tin mới.
Sự học khi có sự mất cân bằng, nhập nội, đồng hóa và điều ứng. khi bị mất cân bằng
sẽ khiến người học đi tìm tòi, hành động sao cho tiếp nhận được một số đặc điểm mới
của kích thích và đưa chúng vào sơ đồ đã có, đến 1 lượng kiến thức nhất định nào đó
cho thấy có sự mâu thuẫn giữa sơ đồ cái đã có và cái đang tiếp nhận, như thế điều ứng sẽ
biến đổi cấu trúc đã có, tạo ra cấu trúc mới phù hợp với kích thích mới. ví dụ: một đứa
trẻ đã có sơ đồ về con chó, nhưng chưa có sơ đồ về con bò. Khi nhìn thấy con bò nếu
được hỏi là con gì ngay lúc đó đứa trẻ sẽ trả lời là con chó, vì trong nhận thức của nó
con bò phù hợp với sơ đồ con chó mà nó đã có. Một thời gian sau đó đứa trẻ thấy con bò
không phải là con chó khi đó nó hình thành sơ đồ mới với con vật mới và gọi đó là sơ đồ
con bò.
5. Hạn chế

Những quan niệm cơ bản của các lý thuyết nhận thức là:
- Các lý thuyết nhận thức nghiên cứu quá trình nhận thức bên trong với tư cách là một
quá trình xử lý thông tin. Bộ não xử lý các thông tin tương tự như một hệ thống kỹ thuật.
- Theo lý thuyết nhận thức, quá trình nhận thức là quá trình có cấu trúc, và có ảnh
hưởng quyết định đến hành vi. Con người tiếp thu các thông tin bên ngoài, xử lý và đánh
giá chúng, từ đó quyết định các hành vi ứng xử.
- Trung tâm của quá trình nhận thức là các hoạt động trí tuệ như: xác định, phân tích
và hệ thống hóa các sự kiện và các hiện tượng, nhớ lại những kiến thức đã học, giải
quyết các vấn đề và phát triển, hình thành các ý tưởng mới.
- Cấu trúc nhận thức của con người không phải bẩm sinh mà hình thành qua kinh
nghiệm.
- Mỗi người có cấu trúc nhận thức riêng. Vì vậy muốn có sự thay đổi đối với một
người thì cần có tác động phù hợp nhằm thay đổi nhận thức của người đó.
- Con người có thể tự điều chỉnh quá trình nhận thức: tự đặt mục đích, xây dựng kế
hoạch và thực hiện. Trong đó có thể tự quan sát, tự đánh giá và tự hưng phấn, không cần
kích thích từ bên ngoài.
Những đặc điểm cơ bản của học tập theo quan điểm của thuyết nhận thức là:
- Mục đích của dạy học là tạo ra những khả năng để người học hiểu thế giới thực
(kiến thức khách quan). Vì vậy, để đạt được các mục tiêu học tập, không chỉ kết quả học
tập mà quá trình học tập và quá trình tư duy là điều quan trọng.
- Nhiệm vụ của người dạy là tạo ra môi trường học tập thuận lợi, thường xuyên
khuyến khích quá trình tư duy, HS cần được tạo cơ hội hành động và tư duy tích cực.
- Giải quyết vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát triển tư duy. Các
quá trình tư duy được thực hiện không chỉ thông qua các vấn đề nhỏ, đưa ra một cách
tuyến tính, mà thông qua việc đưa ra các nội dung học tập phức hợp.
- Các PP học tập có vai trò quan trọng trong quá trình học tập của HS. Các PP học tập
gồm tất cả các cách thức làm việc và tư duy mà HS sử dụng để tổ chức và thực hiện quá
trình học tập của mình một cách hiệu quả nhất.
- Việc học tập thực hiện trong nhóm có vai trò quan trọng, giúp tăng cường những khả
năng về mặt xã hội.

Trẻ em cần được quan tâm cá nhân và được đối xử khác biệt( đánh giá mức độ nhận
thức hiện tại, điểm mạnh, yếu).
Trẻ em chỉ nên được dạy những điều mà họ có khả năng học.
Nhận thức được các giai đoạn phát triển của đứa trẻ để giảng dạy, thiết kế phù hợp.
Hỗ trợ kiến thức, hướng dẫn, kích thích học sinh làm và học từ lỗi lầm.
Giáo viên phải có sự tin tưởng trong khả năng của trẻ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status