H ỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
BÀI TI ỂU LUẬN
MÔN: LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
Đề tài: Làm rõ:
“ Con người là thước đo của vạn vật trong thời kỳ Phục Hưng”
Sinh viên: NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
Lớp : KH13A4
GVHD :
LỜI NÓI ĐẦU
Ngay từ khi con người xuất hiện trên trái đất, để duy trì sự tồn tại và phát triển
của mình, con người đã sáng tạo ra vô vàn những giá trị vật chất và tinh thần.
Vô tình hay hữu tình và những sáng tạo ấy lại trở thành những giá trị vô cùng to
lớn, góp phần tạo ra những giá trị văn hóa. Khi những giá trị văn hóa ấy tồn tại
và quan trọng hơn là khi nhà nước, chữ viết, thành thị xuất hiện thì chúng đã
trở thành văn minh. Từ đó, các nền văn minh cùng nhau tồn tại và phát triển tới
ngày nay. Từ các nền văn minh phương Đông đến nền văn minh phương Tây,
Tây Âu không chỉ đơn thuần là tồn tại mà qua từng giai đoạn các vùng đất đều
để lại những thành tựu to lớn và đặc trưng của từng vùng. Trong đó vào khoảng
thế kỷ XIV, một trào lưu văn hóa mới xuất hiện mà người ta gọi là thời kỳ Phục
hưng. ở đây con người thực sự thể hiện được khả năng của họ trên các lĩnh vực
như văn học, nghệ thuật, kiến trúc cũng chính vì thế cho nên đã có quan điểm
cho rằng: “ con người là thước đo của vạn vật trong thời kỳ Phục hưng”. Bài tiểu
luận này thông qua những quan điểm và ghi chép lịch sử của thời xưa để lại để
làm sáng tỏ vấn đề trên. Qua đó khẳng định được vai trò của con người trong
lịch sử đặc biệt là trong thời kì này.
Kết cấu của bài tiểu luận gồm: 2 phần
Phần I: Vài nét sơ qua về văn hóa Phục hưng
Phần II: “con người là thước đo vạn vật trong thời kỳ Phục hưng” qua những
dẫn chứng về thành tựu văn học, nghệ thuật, kiến trúc
Mặc dù đã cố gắng tìm hiểu nghiên cứu, song bài tiểu luận cũng không thể tránh
được những thiếu sót, rất mong sẽ có được những đóng góp của những ai quan
tuyên truyền một cách nhanh chóng những kiến thức và tư tưởng mới. Khi ấy
nhân loại đang ở buổi bình minh của những biến đổi lớn của thời Hiện đại.
- Phong trào Phục hưng được khởi đầu ở Firenze ( Italia) vào hậu kỳ Trung
Đại, sau đó lan rộng ra phần còn lại của Châu Âu với những quy mô và mức độ
khác nhau.
Với tư cách là một phong trào văn hóa, Phục hưng bao hàm sự nở rộ của các
nền văn học tiếng Latinh cũng như các tiếng dân tộc, bắt đầu sự phục hồi nghiên
cứu các tư liệu cổ điển, đến sự phát triển của phép phối cảnh tuyến tính và các
kỹ năng nhằm biểu diễn thực tế tự nhiên hơn trong mỹ thuật và một cuộc cải
cách giáo dục tiên tiến nhưng phổ thông.
- Trong chính trị, Phục hưng đã góp vào những hiệp ước ngoại giao và trong
khoa học là sự quan tâm lớn hơn tới quan sát thực nghiệm. Các sử gia thường
lập luận những biến đổi về trí tuệ này là cầu nối giữa Trung Cổ và hiện đại. Mặc
dù Phục hưng chứng kiến những cuộc cách mạng trong nhiều lĩnh vực, cũng như
những thay đổi chính trị xã hội, nó vẫn được biết đến nhiều nhất bởi những cống
hiến của những vĩ nhân đa tài như Lêonardo da vinai hay Michelangele đã xuất
hiện thuật ngữ “vĩ nhân Phục hưng”. Có một cuộc tranh luận kéo dài trong giới
sử học về quy mô, phân kỳ văn hóa và thời đại Phục hưng cũng như giá trị và ý
nghĩa của nó. Bản thân thuật ngữ “vĩ nhân” do nhà sử học Pháp Jules Michelet
đặt ra năm 1855 cũng là đối tượng của những chỉ trích rằng nó ngụ ý một sự mô
tả thái quá về giá trị tích cực của thời kỳ này.
Có một sự đồng thuận rằng thời kỳ Phục hưng bắt đầu ở Firenze trong thế kỷ
XIV. Nhiều giả thuyết khác nhau được đề xuất để giải thích cho nguồn gốc và
đặc điểm của nó tập trung vào hàng loạt các yếu tố bao gồm đặc thù xã hội và
dân cư của Firenze tại thời điểm này, cấu trúc chính trị của nó, sự bảo trợ của
dòng họ thống trị, nhà truyền thống, sự di cư của các học giả và các bản văn Hy
Lạp sang Ý sau sự thất thủ của Constantino polis dưới tay người thổ Ottoman.
2. “Con người là thước đo vạn vật trong thời kì Phục hưng” – dẫn chứng
làm sáng tỏ luận điểm.
Với sự đóng góp to lớn đó nên thời kỳ Phục hưng đã trở nên huy hoàng và rực
tập thơ ca ngợi tình yêu tặng nàng Lôra, người mà ông yêu suốt đời và trở thành
bất tử trong thơ của ông. Tập thơ này được coi là mẫu mực trong thơ trữ tình Ý.
Khi nhắc đến tiểu thuyết, trước hết phải kể đến Bôcaxiô (1313-1373), nhà văn
Ý được đặt ngang hàng với hai nhà thơ Đante và Pêtơraca và được gọi chung là
“ba tác giả lỗi lạc”. Tác phẩm nổi tiếng của ông là tập truyện ngắn mười ngày
(decameron).
Sau khi văn hóa Phục hưng lan rộng sang các nước Tây Âu khác, ở Pháp và
Tây Ban Nha xuất hiện hai nhà văn nổi tiếng, đó là Rabơle và Xécvăngtét
Rabơle (Francois Rabelais 1494-1553) lúc còn nhỏ đi tu, sau ra khỏi tu viện
học ngành y và khoa học tự nhiên, đã từng làm thầy thuốc. Ông còn tinh thông
về các mặt văn học, triết học, pháp luật, thực vật học, kiến trúc. Tác phẩm chủ
yếu của ông là tiểu thuyết trào phúng Gácgăngchuya và Păngtagruyen nội dung
như sau:
Gácgăngchuya là một người khổng lồ. Vừa mới lọt lòng mẹ đã đòi “uống”.
Người ta phải lấy sữa của 170.913 con bò cho uống mới đủ. Con của
Gácgăngchuya là Păngtagruyen cũng là một người khổng lồ. Anh có một người
bạn tên là Panuyếcgiơ. Sau khi đôi bạn này đi đánh thắng giặc ngoại xâm trở
về, Panuyếcgiơ có một băn khoăn là có nên lấy vợ hay không. Không ai giải đáp
được thắc mắc đó, hai người phải đi đến xứ Cate (Trung Quốc) để hỏi lọ nước
thần
Chính trong cuộc hành trình ấy họ đã đặt chân đến nhiều sứ xở kỳ lạ như đến
hòn đảo của những người chuyên giơ lưng chịu đấm để đòi tiền bồi thường, đến
hòn đảo của loài chim chỉ biết hót và ăn cho béo, lại đến hòn đảo của loài mèo
xồm chuyên gia ăn hối lộ Cuối cùng họ đến được ngôi đền “Lọ nước thần” và
được nghe phán một tiếng “uống!”
Về bề ngoài, tác phẩm này có vẻ hoang đường, nhưng nội dung lại nói về
những người thực, việc thực trong xã hội lúc bấy giờ, đó là giáo hoàng, giáo sĩ,
vua, quan, là cuộc sống lười biếng ăn bám, là những việc làm xấu xa đầy rẫy
trong cuộc sống hàng ngày Vì vậy đây là một tác phẩm hiện thực phê phán rất
có giá trị.
hiếm lúc bấy giờ.
Một hình thức khác nữa của văn học đó chính là kịch. Tác giả tiêu biểu của
nghệ thuật kịch thời Phục hưng, đồng thời là người tiêu biểu cho nền văn hóa
Anh thời kì này là Sếchxpia (William Shakespeare, 1564-1616). Trước Sếchxpia
việc diễn kịch trong dân gian ở nước Anh đã rất thịnh hành. Từ năm 1580 về
sau, nghệ thuật kịch nói của Anh ngày càng phát triển. Lúc bấy giờ, ở Luân Đôn
chỉ có 20 vạn người mà có đến 8 rạp kịch.
Kế thừa truyền thống cuả đất nước và tinh hoa của kịch Hy Lạp và La Mã cổ
đại, Sếchxpia đã đưa nghệ thuật kịch lên tuyệt đỉnh. Trong 20 năm hoạt động
sáng tác (1592-1612) Sếchxpia đã để lại 36 vở kịch gồm hài kịch (như các vở
Đêm thứ mười hai, Theo đuổi tình yêu vô hiệu, Người lái buôn thành Vênêxia),
bi kịch (như các vở Rômêô và Giuliét, Hămlét, Ôtenlô, Vua Lia, Mácbét ), kịch
sử như Risớt II, Risớt III, Henri IV
Trong các tác phẩm của mình, Sếchxpia đưa lên sân khấu các nhân vật thuộc
tất cả các tầng lớp trong xã hội từ vua, quan, tướng lĩnh, thương nhân cho đến
con sen, thằng nhỏ và đã đề cập đến nhiều mặt, nhiều mâu thuẫn phức tạp
trong cuộc sống xã hội vào giai đoạn chế độ phong kiến đang suy tàn và chủ
nghĩa tư bản bắt đầu xuất hiện.
Ngoài văn học ở thời kì này con người còn có nhiều đóng góp trong nghệ thuật.
Cũng như văn học, Ý mà trước hết là Phirenxê là nơi xuất phát đầu tiên của nền
nghệ thuật Phục hưng. Trong hai thế kỉ XIV và XV, nền nghệ thuật ở đây găn
liền với tên tuổi của các họa sĩ và nhà điêu khắc nổi tiếng như Giốttô (1266-
1337), Maxasiô (1401-1428), Đônatenlô (1386-1466), Vêrôsiô (1435-1488),
Bốttixenli (1444-1510)
Về điêu khắc, các bức tượng Đavít, Môidơ, Đêm, Người nô lệ bị trói là
những tác phẩm tương đối tiêu biểu, đặc biệt tượng Đavít tác bằng đá cẩm thạch,
cao 5,30 m. Khác với thần thoại trong kinh thánh, Mikenlăngiơ không thể hiện
Đavít thành một thiếu niên mà thành một lực sĩ đầy sức mạnh. Vì vậy năm 1504,
tượng này được dựng ở Phirenxê để thể hiện tinh thần của kẻ thống trị phải anh
dũng bảo vệ thành phố.
phẩm Bàn về sự vận hành của các thiên thể. Tác phẩm này ông hoàn thành vào
khoảng năm 1536, nhưng vì sợ bị giáo hội kết tội dị đoan nên mái đến trước khi
chết mấy hôm ông mới công bố (1543).
Người tích cực hưởng ửng học thuyết của Côpécních là nhà tiên văn học và là
nhà triết học Ý Gioócđanô Brunô (1548-1600). Ông cũng vốn là một giáo sĩ,
nhưng khi trong giáo hội cấm lưu hành tác phẩm của Côpécních thì ông lại phát
triển thêm một bước mới cho rằng vũ trụ là vô tận, mặt trời không phải là trung
tâm của vũ trụ mà chỉ là trung tâm của Thái dương hệ chúng ta, ngoài ra còn có
rất nhiều Thái dương hệ khác. Ông còn chứng minh rằng vật chất luôn vận động,
luôn luôn biến đổi và tồn tại vĩnh viễn.
Một nhà thiên văn học Ý khác Galilê (1564-1642) tiếp tục phát triển quan của
Côpécních và Brunô. Ông là người đầu tiên dùng kính viễn vọng phóng to gấp
30 lần để quan sát bầu trời. ông đã chứng minh rằng mặt trăng cũng là một hành
tinh giống như quả đất, bề mặt của nó cũng có núi non gồ ghề chứ không phải
nhẵn bóng. Ông còn phát hiện được thiên hà do vô số vì sao tạo thành, giải thích
được cấu tạo của sao chổi. Ông cũng là người mở đầu cho ngành khoa học thực
ngiệm, phát hiện ra các định luật rơi thẳng đứng và dao động của các vật thể.
Đồng thời với Glilê, nhà thiên văn học người Đức Kêplơ (Kepler, 1571-1630)
đã phát minh ra ba quy luật quan trọng về sự vận hành của các hành tinh xung
quanh mặt trời.
Ngoài ra, các lĩnh vực khác như vật lí học, toán học, y học… cũng có nhiều
thành tựu quan trọng gắn với tên tuổi nhiều nhà bác học nổi tiếng. Những phát
minh khoa học tương đối tiêu biểu trong đó là hình học giải tích của nhà toán
học Pháp Đêcáctơ (1596-1650), áp lực của chất lỏng của nhà vật lí học người Ý
Tôrixeli (1608-1647), thuật giải phẫu của nhà y học Nêđéclan Vêdalơ (Vésale,
1514-1564), sự tuần hoàn của máu của nhà y học Anh Havi (Havey, 1578-1657)
…
Trên cơ sở những thành tựu mới của khoa học tự nhiên về lĩnh vực triết học
cũng có một bước tiến quan trọng. Người mở đầu cho trường phái duy vật thời
Phục hưng là Phranxít Bâycơn (Francis Bacon 1561-1626) nhà triết học người
IV. Tài liệu tham khảo
Giáo trình “ lịch sử văn minh thế giới” – Vũ Dương Minh – nhà xuất bản giáo
dục