Tiểu luận môn Lịch sử giáo dục thế giới NềN GIÁO DụC NAM PHI - Pdf 26

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC
LỚP TÂM LÝ – GIÁO DỤC 3
BÀI TIỂU LUẬN
NỀN GIÁO DỤC
NEW ZEALAND
Giảng Viên Hướng Dẫn: TS. Hồ Văn Liên
Sinh Viên Thực Hiện: Nguyễn Thị Bích Kiều
TP. HCM, ngày 10 tháng 12 năm 2012
I. Mục đích giáo dục:
Mục tiêu giáo dục tổng thể của New Zealand: (a) Tăng trưởng kinh tế mang lại sự thịnh
vượng, an ninh và cơ hội cho New Zealand, và (b) Phát triển các kỹ năng để cho phép
công dân đạt được tiềm năng đầy đủ của họ và đóng góp cho nền kinh tế và xã hội.
Mục tiêu Giáo dục quốc gia (Negs)
1. Với các tiêu chuẩn cao nhất về thành tích, thông qua các chương trình mà cho phép
tất cả các học sinh nhận ra tiềm năng đầy đủ của các cá nhân và phát triển các giá trị
cần thiết để trở thành thành viên đầy đủ của xã hội của New Zealand.
2. Bình đẳng về cơ hội giáo dục cho tất cả người New Zealand, bằng cách xác định và
loại bỏ các rào cản đối với giáo dục.
3. Phát triển sự hiểu biết, kiến thức và kỹ năng cần thiết của người New Zealand để
cạnh tranh thành công trong thế giới hiện đại, luôn thay đổi.
4. Xây dựng một nền tảng vững chắc trong những năm đầu cho việc học tập và thành
tích trong tương lai thông qua các chương trình trong đó bao gồm hỗ trợ cho các bậc
cha mẹ trong vai trò quan trọng như là người thầy đầu tiên của con em họ.
5. Một nền giáo dục rộng thông qua một chương trình đào tạo cân bằng bao gồm các
lĩnh vực quan trọng trong học tập. Cần ưu tiên cho sự phát triển của năng lực cao
(kiến thức và kỹ năng) trong môn văn và toán, khoa học và công nghệ và hoạt động
thể chất.
6. Xuất sắc đạt được thành tích thông qua việc thành lập các mục tiêu học tập rõ ràng,
theo dõi thành tích học tập của sinh viên đối với những mục tiêu và các chương trình
để đáp ứng nhu cầu cá nhân.

Trẻ em học thông qua các trò chơi sáng tạo và điều này thường có thể là rất lộn xộn.
Khám phá những môi trường mới đôi khi có thể có nghĩa là va chạm mạnh và vết bầm
tím. Trẻ học lời chào bằng các ngôn ngữ khác nhau, bởi vì đây là một đất nước đa dạng
về văn hóa, dịch vụ giáo dục mầm non khuyến khích tôn trọng các tín ngưỡng và văn hóa
của tất cả các gia đình. Trẻ có thể học cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau (ví dụ như lời
chào, bài hát, kể chuyện).
Mục tiêu lớn của giáo dục mầm non New Zealand là giúp trẻ tự tin vào bản thân, khoẻ
mạnh về thể chất và tâm hồn, có khả năng giao tiếp và tôn trọng tri thức. Đây là giai đoạn
chuẩn bị cho trẻ vào tiểu học. Trẻ mầm non ở New Zealand được dạy những kỹ năng như
3
được tự tìm điều mình quan tâm; biết chuyên tâm vào công việc của mình; biết đối mặt
với khó khăn và tìm cách giải quyết ở mức độ nhất định; trẻ cần học cách thể hiện ý
tưởng và chịu trách nhiệm với ý tưởng của mình Các chuyên gia New Zealand cũng
chia sẻ phụ huynh đóng vai trò rất quan trọng trong chăm sóc trẻ bậc mầm non. Chăm sóc
trẻ ở nhà giúp trẻ tích cực hơn, việc giao tiếp nhiều với bố mẹ cũng khiến trẻ tự tin hơn
và học hỏi được nhiều từ ngữ mới.
2. Giáo dục tiểu học
Có bảy môn học chính là:
1. Ngôn ngữ tiếng Anh: Sẽ có nhấn mạnh vào đọc và viết trong 2-3 năm đầu. Khi học
sinh tiến bộ thông qua các cấp thì sẽ được nhiều cơ hội hơn để suy nghĩ về những
điều mà họ đọc, xem, nghiên cứu theo nhiều cách khác nhau. Các giáo viên sẽ các bài
học có nội dung khác nhau để học sinh khám phá như văn học cổ điển, các tác giả,
quan điểm văn hóa khác nhau Họ sẽ bắt đầu được đặt câu hỏi, sẽ bắt đầu đọc
chúng, để đạt được một mức độ sâu sắc hơn về ý nghĩa.
2. Toán học: Học sinh sẽ được tạo cơ hội: " Làm việc với và khám phá các vấn đề
toán học trong những cách khuyến khích họ được hỏi. Họ sẽ đạt được sự tự tin và
biết sử dụng các số, sẽ phát triển các kỹ năng đo lường, xây dựng, và giải thích
không gian. Họ sẽ tìm hiểu để thu thập, tổ chức, và diễn giải dữ liệu, sử dụng thiết bị,
có thể khái quát từ các mô hình và các mối quan hệ, và để suy nghĩ trừu tượng. ". Trẻ
em cần phải học: kỹ năng quá trình chính toán học, giải quyết vấn đề, phát triển logic

7. Y tế và Giáo dục thể chất: Giáo dục sức khỏe kết hợp dinh dưỡng, giáo dục, ma túy,
giáo dục giới tính, kỹ năng giao tiếp, quan hệ gia đình, và cộng đồng và sức khỏe môi
trường, giúp họ phát triển sự tự tin vào bản thân và khả năng của mình. Giáo dục thể
chất cung cấp cho trẻ em có cơ hội để tham gia vào một loạt các hoạt động cá nhân
và nhóm. Tất cả đều được thiết kế để giúp học sinh đạt được tiềm năng của họ trong
phát triển thể chất và phát triển, nâng cao sức khỏe. Giáo dục thể chất bao gồm khiêu
vũ, vận động, giáo dục ngoài lớp học, thể thao và vui chơi giải trí thể chất.
Hai đối tượng thiết yếu nhất và rất nhiều trong chương trình là tiếng Anh (biết chữ) và
Toán (toán). Điều quan trọng là cho trẻ em biết chữ, có thể đọc và viết, và phải có kỹ
năng tính toán tốt.
Tại New Zealand sinh viên tham dự trường trung học từ 13 tuổi, do đó có một "khoảng
cách" giữa lúc kết thúc tiểu học và bắt đầu học trung học là 2 năm. Đây là thời gian mà
5
trẻ đi học trung gian, để chuẩn bị lên cấp trung học. Thường thì học sinh sẽ tham dự một
trường học riêng biệt trung gian, nhưng nhiều trường học cũng cung cấp các chương
trình đào tạo trung cấp. Trẻ sẽ học để thích ứng với một môi trường mới tại trường trung
gian, nên khi họ chuyển sang trường trung học, họ sẽ có thể thích ứng với môi trường
mới của họ sớm.
3. Giáo dục trung học
Tại Năm 9 và 10 học sinh học 5 môn chính và 2 môn tự chọn. 5 môn chính là tiếng Anh,
toán, khoa học, khoa học xã hội và y tế - giáo dục thể chất. Tự chọn là công nghệ và nghệ
thuật. Môn công nghệ đi vào lĩnh vực cụ thể, bao gồm: Công nghệ thông tin và Truyền
thông, Công nghệ điện tử, Công nghệ sinh học, Công nghệ vật liệu, Quy trình công nghệ,
Công nghệ thực phẩm, và Thiết kế và công nghệ đồ họa.Ví dụ: có thể chọn nghệ thuật và
công nghệ thực phẩm như là tùy chọn.
Lên lớp 11, học sinh bắt đầu học phân ban nhưng toán, tiếng Anh và khoa học vẫn là các
môn chính. Các môn khác bao gồm nghệ thuật, thương mại, công nghệ và ngôn ngữ. Học
sinh sẽ chọn ra các môn để thi lấy chứng chỉ từ các môn học như: Kế toán, Nông nghiệp,
Nghệ thuật, Sinh học, Sinh vật, Hoá học, Quần áo và vải dệt, Kinh tế, tiếng Anh, tiếng
Pháp, Địa lý, tiếng Đức, Đồ hoạ, Lịch sử, Kinh tế gia đình, nghề làm Vườn, sinh học về

học. Chương trình Đại học (thường là 3 năm), Thạc sỹ (thường là 2 năm nếu học toàn
thời gian và sẽ dài hơn nếu học bán thời gian) và Tiến sỹ (tối thiểu là 3 năm toàn thời
gian). Bên cạnh đó cũng có chương trình Cử Nhân Danh dự với thời gian học thông
thường là thêm một năm sau khi hoàn tất chương trình Cử Nhân.
Ngoài ra, trong hệ thống giáo dục của New Zealand còn có giáo dục đặc biệt, giáo dục
quốc tế, Maori giáo dục, Pasifka giáo dục, trường việc làm. Maorio và Pasikfa giáo dục
nhằm đưa văn hóa của người Maori và Pasikfa (thổ dân Maorio là dân tộc lâu đời tại
New Zealand, Pasifka là từ gọi chung đại diện cho người dân các quốc đảo ở Thái Bình
Dương) đến công dân. Giáo dục đặc biệt: mục đích là các trường tự tin, cha mẹ tự tin và
trẻ em tự tin, nơi mỗi ngày mọi trẻ em học tập và thành công. Hỗ trợ trực tiếp hàng năm
cho trẻ em và thanh thiếu niên với chương trình giáo dục đặc biệt đến 21 tuổi, tài trợ cho
các trường học để hỗ trợ trẻ em, với hơn 2.000 nhân viên làm việc tại cả nước. Khoảng
860 trong số này là chuyên gia về lĩnh vực nhân viên tiền tuyến, gồm: nhà tâm lý học, âm
7
ngữ trị liệu, vật lý trị liệu, nghề nghiệp trị liệu, can thiệp sớm giáo viên, Kaitakawaenga
(cố vấn văn hóa Maori), cố vấn về trẻ em khiếm thính, chuyên gia tư vấn giáo dục đặc
biệt. Giáo dục quốc tế: New Zealand bao gồm nhiều nhiều chích sách hỗ trợ cho sinh
viên quốc tế giúp thu hút được nhiều học sinh quốc tế hơn đến New Zealand. Bộ Giáo
dục New Zealand đã xây dựng Bộ quy tắc ứng xử của giáo viên đối với sinh viên quốc tế.
New Zealand là quốc gia đầu tiên đưa ra những tiêu chuẩn về việc chăm lo và ứng xử với
sinh viên và du học sinh quốc tế. Điều này thể hiện sự quan tâm của các trường đại học
và tổ chức giáo dục của nước này đối với quyền lợi của sinh viên và du học sinh quốc tế.
III. Phương pháp giảng dạy
Giáo viên sẽ:
• Tạo ra một môi trường học tập hỗ trợ - học sinh cảm thấy được chấp nhận, có mối quan
hệ tốt và tích cực tham gia học tập.
• Khuyến khích tư tưởng và hành động phản xạ - học sinh được khuyến khích để được có
cái nhìn khách quan, thích ứng với những gì họ biết cho mục đích riêng của họ, suy nghĩ
phê phán và phát triển sáng tạo.
• Tăng cường sự liên quan của học tập mới - giáo viên khuyến khích học sinh tìm kiếm

trên một mối quan hệ một-một. Người chủ sẽ hướng dẫn cho người mới trong kỹ thuật,
công cụ và thực hành tốt nhất.
3. Bài giảng (Nhóm lớn): giáo viên dùng giảng giải nhiều, ít có sự thảo luận nhóm, thiếu
sự tương tác giữa người dạy và học. Dùng cho các trường đại học khi phải chuyển tải một
lượng thông tin lớn.
4. Quay phim: cá nhân hay nhóm làm phim về một đề tài được giao.
5. Máy tính hỗ trợ học tập (CAL): học tập đạt được bằng cách tương tác với các gói phần
mềm đã được xác định trước câu trả lời.
6. Hội nghị trung gian máy tính (CMC): các nhóm sẽ thảo luận trực tuyến trên máy tính.
7. E-learning: là học tập được kích hoạt hoặc hỗ trợ bằng cách sử dụng các công cụ kỹ
thuật số và nội dung (máy tính, internet, CD-ROM ).
9
8. - Kinh nghiệm tại chỗ và Contrived: 2 phương pháp này giống nhau, người học tham
gia trực tiếp vào cuộc sống thuộc lĩnh vực được giao để thu lấy kinh nghiệm.
9. Học tập kết hợp: Phương pháp này có thể bao gồm bất kỳ sự kết hợp của bất kỳ các
phương pháp phân phối trên.
Giáo dục của New Zealand hướng đến việc lấy người học làm trung tâm, học sinh sẽ phải
tự mình vận động, tìm hiểu, nghiên cứu để nắm được bài. Ngoài ra thì ở New Zealand ,
phương pháp dạy học dự án cũng rất được phát triển ngay từ bậc tiểu học.
Người học sẽ học được sự tự giác và lòng tự trọng của người trí thức (Ngày đầu bước vào
giảng đường đại học, bài học đầu tiên là đừng bao giờ chơi trò “plagiarism” _đạo văn.
Nếu giáo sư phát hiện đạo văn của ai đó, coi như phải “tạm biệt” ngôi trường vĩnh viễn,
đó là luật.); học được khả năng tự quản lý, sắp xếp việc học của mình (Ngay từ đầu học
kỳ, giáo sư sẽ phát cho SV một cái syllabus tạm dịch là chương trình học. Trong syllabus,
giáo sư ghi rõ môn đó là môn gì, dạy cái gì, ngày nào học cái gì, SV phải đọc sách nào,
trang mấy; khi nào kiểm tra, nội dung ra sao…); học được cách lý luận độc lập, cách
nghiên cứu độc lập (Khoa học là vô biên, là sự phát triển không ngừng, nên không có học
thuyết tuyệt đối. Do đó, SV được quyền chất vấn giáo sư, đặt vấn đề ngược lại, nếu cảm
thấy nghi ngờ điều giáo sư vừa nói và thậm chí đặt vấn đề với cả những học thuyết.); và
học được cách tôn trọng người khác và làm người khác tôn trọng (Các giáo sư, văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status