ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
-0-
BÀI TIỂU LUẬN MÔN LỊCH SỬ VĂN HÓA VIỆT NAM
VĂN HÓA TRANG PHỤC VIỆT NAM – TRƯỜNG HỢP ÁO DÀI NỮ
GVHD: Đinh Thị Dung
SVTH: Trần Nguyễn Thanh Trúc
MSSV: 1356140079
1
TP.HCM, tháng 1/2015
MỤC LỤC
Mục lục……………………………………………………………………………………2
Lời mở đầu – lý do chọn đề tài……………………………………………………………3
Chương 1: Lịch sử hình thành chiếc Áo dài………………………………………………4
1.1. Tiền thân
1.2. Thời chúa Nguyễn Phúc Khoát
1.3. Thời vua Minh Mạng
1.4. “Đời sống mới”
1.5. Áo dài Le Mur
1.6. Áo dài Lê Phổ
1.7. Áo dài với tay giác lăng
1.8. Áo dài miniraglan
1.9. Áo dài Trần Lệ Xuân
Chương 2: Áo dài – một biểu tượng của Việt Nam……………………………………….9
Chương 3: Áo dài – nguồn cảm hứng trong nghệ thuật………………………………….12
Kết luận………………………………………………………………………………… 15
Tài liệu tham khảo……………………………………………………………………….17
2
LỜI MỞ ĐẦU – LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Có thể nói, “ăn, mặc, ở” là ba nhu cầu tất yếu của mỗi con người, và cũng dựa trên sự
đồng áng hoặc buôn bán, chiếc áo giao lãnh được thu gọn lại thành kiểu áo tứ thân (gồm
bốn vạt nửa: vạt nửa trước phải, vạt nửa trước trái, vạt nửa sau phải, vạt nửa sau trái). Áo
tứ thân được mặc ra ngoài váy xắn quai cồng để tiện cho việc gồng gánh nhưng vẫn
không làm mất đi vẻ đẹp của người phụ nữ.
"Giảng học đồ". Những người thế kỷ 18 ở Đàng Ngoài mặc áo giao lĩnh gài bên phải
(Ảnh nguồn: Wikipedia)
4
Áo tứ thân thích hợp cho người phụ nữ miền quê quanh năm cần cù bươn chải, gánh
gồng tháo vát. Với những phụ nữ tỉnh thành nhàn hạ hơn, muốn có một kiểu áo dài được
cách tân thế nào đó để giảm chế nét dân dã lao động và gia tăng dáng dấp trang trọng
khuê các. Thế là ra đời áo ngũ thân với biến cải ở chỗ vạt nửa trước phải nay được thu bé
lại trở thành vạt con; thêm một vạt thứ năm be bé nằm ở dưới vạt trước. Áo ngũ thân che
kín thân hình không để hở áo lót. Mỗi vạt có hai thân nối sống (vị chi thành bốn) tượng
trưng cho tứ cha mẫu, và vạt con nằm dưới vạt trước chính là thân thứ năm tượng trưng
cho người mặc áo. Vạt con nối với hai vạt cả nhờ cổ áo có bâu đệm, và khép kín nhờ năm
chiếc khuy tượng trưng cho quan điểm về ngũ thường theo quan điểm Nho giáo và ngũ
hành theo triết học Đông phương.
1.2. Thời chúa Nguyễn Phúc Khoát
Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát được xem là người có công khai sáng và định hình chiếc
áo dài Việt Nam.
Áo dài ngũ thân, khoảng năm 1900
(Ảnh nguồn: Wikipedia)
Chịu ảnh hưởng nặng của văn hóa Trung Hoa, cho đến thế kỷ 16, lối ăn mặc của người
Việt Nam vẫn thường hay bắt chước lối của người phương Bắc, đặc biệt dưới thời
các chúa Nguyễn xứ Đàng Trong do nhu cầu khai phá khẩn hoang, đón nhận hàng vạn
người Minh Hương (còn gọi là người Khách Trú hay đọc trại thành "cắc chú") bất mãn
với nhà Thanh sang định cư lập nghiệp, mặc dù người Việt cũng có lối ăn mặc riêng.
Trước làn sóng xâm nhập mới này, để gìn giữ bản sắc văn hóa riêng, Vũ Vương Nguyễn
5
Phúc Khoát ban hành sắc dụ về ăn mặc cho toàn thể dân chúng xứ Đàng Trong phải theo
Triều Thiên Chính đời vua Lê Huyền Tông, tháng 3 năm 1665 với sắc lệnh nhắc nhở: "
áo đàn bà con gái không có thắt lưng, quần không có hai ống từ xưa đến nay vốn đã có cổ
tục như thế ". Vậy có thể nói rằng bộ áo ngũ thân xuất hiện vào khoảng đời vua Gia
Long (1802-1819). Sở dĩ có sự ước đoán này, vì mặc áo ngũ thân thì phải mặc quần chứ
6
không thể mặc váy. Năm Minh Mạng thứ 9 (1828), triều đình Huế ra chiếu chỉ cấm đàn
bà mặc váy và bắt phải mặc quần hai ống, nên hồi ấy mới xuất hiện câu ca dao than vãn:
“Tháng Tám có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng!”
1.4. “Đời sống mới”
Các bộ phận của một chiếc áo dài phổ biến
(Ảnh nguồn: Wikipedia)
Năm 1947 trong bối cảnh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới tuyên bố độc lập và các
phong trào "diệt giặc đói, giặc dốt" đang được phát động, nhằm phát động phong trào tiết
kiệm, ngày 20 tháng 3 năm 1947, Hồ Chí Minh, với bút hiệu Tân Sinh, đã viết một cách
vắn tắt rõ ràng và dễ hiểu bài "Đời sống mới" trong đó vận động người dân bỏ thói quen
mặc áo dài để thay bằng áo vắn vì mặc áo dài đi đứng, làm việc bất tiện, lượt thượt, luộm
thuộm. Áo dài tốn vải, khoảng hai cái áo dài may được ba cái áo vắn, nếu chỉ mặc áo vắn
có thể sẻn được 200 triệu đồng/năm. Áo dài không hợp với phụ nữ Việt Nam đời sống
mới. Cuộc vận động này dần đã được người dân hưởng ứng và áo dài không còn là trang
phục thông dụng của phụ nữ Việt Nam trong một thời gian dài ở miền bắc vĩ tuyến 17.
1.5. Áo dài Le Mur
"Le Mur" chính là cách dịch sang tiếng Pháp của Cát Tường, một họa sĩ vào thập niên
1930 đã thực hiện một cải cách quan trọng trên chiếc áo tứ thân để biến nó chỉ còn lại hai
vạt trước và sau mà thôi. Vạt trước được họa sĩ nối dài chấm đất để tăng thêm dáng vẻ
uyển chuyển trong bước đi đồng thời thân trên được may ôm sát theo những đường cong
cơ thể người mặc tạo nên vẻ yêu kiều và gợi cảm rất độc đáo. Để tăng thêm vẻ nữ tính,
hàng nút phía trước được dịch chuyển sang một chỗ mở áo dọc theo vai rồi chạy dọc theo
một bên sườn. Tuy nhiên, áo dài Le Mur có nhiều biến cải mà nhiều người thời đó cho là
"lai căng" thái quá, như áo may ráp vai, ráp tay phồng, cổ bồng hoặc cổ hở. Thêm nữa áo
nhành trúc mọc ngược. Một số nhà phê bình phương tây cho rằng nó hợp lý với thời tiết
nhiệt đới của miền nam Việt Nam. Nhưng kiểu áo này khiến những người theo cổ học lúc
đó tức giận và lên án nó không hợp với thuần phong mỹ tục. Loại áo dài không có cổ này
8
vẫn phổ biến đến ngày nay và phần cổ được khoét sâu cho tròn chứ không ngắn như bản
gốc.
CHƯƠNG 2: ÁO DÀI – MỘT BIỂU TƯỢNG CỦA VIỆT NAM
Khác với Kimono của Nhật Bản hay Hanbok của Hàn Quốc, chiếc Áo dài Việt Nam vừa
truyền thống lại cũng vừa hiện đại. Trang phục dành cho nữ này không bị giới hạn chỉ
mặc tại một số nơi hay dịp mà có thể mặc mọi nơi, dùng làm trang phục công sở, đồng
phục đi học, mặc đi chơi hay mặc để tiếp khách một cách trang trọng ở nhà. Việc mặc
loại trang phục này không hề rườm rà hay cầu kỳ, những thứ mặc kèm đơn giản: mặc với
một quần lụa hay vải mềm, dưới chân đi hài, guốc, hay giày gì đều được; nếu cần trang
trọng (như trang phục cô dâu) thì thêm áo choàng và chiếc khăn đóng truyền thống đội
đầu, hoặc một chiếc vương miện Tây phương tùy thích. Đây chính là điểm đặc biệt của
loại trang phục truyền thống này.
Chiếc Áo dài hình như có cách riêng để tôn đẹp mọi thân hình. Phần trên ôm sát thân
nhưng hai vạt buông thật mềm mại trên đôi ống quần rộng. Hai tà xẻ chí trên vòng eo
khiến cho cử chỉ người mặc thật thoải mái, lại tạo dáng thướt tha, tôn vẻ nữ tính, vừa kín
kẽ vì toàn thân được bao bọc bởi lụa mềm, lại cũng vừa khiêu gợi vì chiếc áo làm lộ ra
sống eo.
Chiếc Áo dài vì vậy mang tính cá nhân hóa rất cao: mỗi chiếc chỉ may riêng cho một
người, dành cho riêng người đó; không thể có một công nghệ "sản xuất đại trà" cho chiếc
áo dài. Người đi may được lấy số đo thật kỹ. Khi may xong phải qua một lần mặc thử để
sửa nhỏ nữa mới hoàn thiện.
Không giống như Kimono của Nhật Bản, Hanbok của Hàn Quốc hay Sai trang phục
truyền thống của phụ nữ Ấn Độ, người mặc Áo dài không tốn nhiều thời gian, lại đơn
giản, gọn gàng, duyên dáng mà thanh lịch, có lẽ chính vì vậy mà Áo dài đã "len lỏi" vào
cuộc sống hàng ngày của phụ nữ Việt Nam một cách tự nhiên và dễ dàng.
Không gì đẹp mắt và thanh bình cho bằng khi mỗi sáng từng nhóm nữ sinh trong bộ đồng
được biết đến trên thị trường quốc tế như Minh Hạnh, Sỹ Hoàng, Võ Việt Chung, La
Hằng
"Kín đáo, duyên dáng mà gợi cảm" là một trong những yếu tố đưa Áo dài trở thành niềm
kiêu hãnh của người Việt. Không chỉ là cái Áo nữa - chiếc Áo dài đã trở thành biểu tượng
10
của trang phục, tạo thành sản phẩm văn hoá vật thể truyền thống không thể thiếu cho vẻ
duyên dáng của người phụ nữ Việt.”
Chiếc Áo dài đã trở thành một phấn không thể thiếu của Việt Nam nói chung hay là nét
đặc trưng của người con gái Việt nói riêng. Ở các nước Châu Âu mọi người chọn cho
mình những chiếc áo sơ-rê trong những ngày quan trọng hay đi dự những bữa tiệc lớn, và
ở các nước Châu Á như Nhật có Kimono Hàn có Handbok thì những ngưởi con gái Việt
Nam luôn chọn cho mình Áo dài vào những buổi tiệc đặc biệt, không lộng lẫy như sơ-rê,
đơn giản và kiêu sa là những gì mà Áo dài mang lại. Hay chẳng cần đâu xa khi mọi ngưởi
tử khắp đất nước đặt chân đến Việt Nam hình ảnh đầu tiên mà mọi ngưởi nhìn thấy là
những tà Áo dài nhẹ nhàng bay trong gió, và hình ảnh ấy gần như không thể thiếu cùa
những người con đất Việt, thân thương mà mỗi khi ai xa quê hương đểu nhớ. Áo dài đã
trở thành một phần văn hóa của đất nước mang hình ảnh “Cờ Đỏ Sao Vàng”.
Áo dài được mặc vào những ngày lễ dặc biệt như Tết mọi người sắm cho mình chiếc Áo
dài để đi chúc phúc ông bà cha mẹ để tỏ lòng biết ơn sự hiếu thảo của mình, hay đi lễ
chùa vào những ngày đẩu năm với những quẻ xâm may mắn mong gia đình luôn yên vui
và bình an. Chẳng cần đi đâu xa tà Áo dài luôn xuất hiện trên sân trường với những ngày
đẩu tuần và lễ hội. Và đặc biệt vào những ngày trọng đại của người con gái dù thế giới có
thay đổi như thế nào thì việc mặc chiếc Áo dài vào ngày đám hỏi luôn là một truyền
thống, phong tục của người con gái khi sắp đi lấy chồng, vào ngày đặc biệt đó cô dâu
luôn khoác lên mình chiếc Áo dài lộng lẫy hay một chiếc Áo dài đỏ đơn giản cũng làm cô
dâu them phần duyên dáng và nổi bật, không cầu kì và rườm rà như sơ-rê. Áo dài luôn
mang lại cho cô dâu một nét đặc trưng riêng thướt tha, mềm mại, hiện đại và cổ xưa,
năng động và dịu dàng.
Áo dài đã trở thành một phần cuộc sống của người Việt, trở thành những phong tục tập
quán với những lối sống mà từ xa xưa cha ông đã để lại.
Gót ngọc dồn hương bước tỏa hồng”
(Áo trắng)
Chiếc Áo dài cũng phảng phất hay xuất hiện nhiều trong các ca khúc Việt Nam. Trong
nhạc Trịnh Công Sơn có thể nhìn thấy khá nhiều. Theo hồi ký, chính những bước chân
hoàng cung của những nữ sinh áo tím Huế đã làm cho nhạc sĩ họ Trịnh viết nên bài
"Diễm xưa" nổi tiếng. Hay trong bài "Hạ trắng", hình ảnh Áo dài cũng chập chờn: “Gọi
nắng trên vai em gầy đường xa áo bay ”
"Bé ca" của Phạm Duy viết cho con gái mới lớn, có bài "Tuổi ngọc" tả về niềm hân hoan
của cô bé khi bước chân vào trung học, lần đầu khoác lên mình "một chiếc áo như mây
hồng":
“Xin cho em một chiếc áo dài, cho em đi mua xuân tới rồi
12
Mặc vào đời rồi ra, mừng lạy chào mẹ cha
Hàng lụa là thơm dáng tuổi thơ”
Bài "Một thoáng quê hương" của Từ Huy nổi tiếng một thời với câu:
“Tà áo em bay, bay, bay, bay trong gió nhẹ nhàng
Dù ở đâu, Paris, Luân Đôn hay ở những miền xa. Thoáng thấy áo dài bay trên đường phố,
sẽ thấy tâm hồn quê hương ở đó em ơi ”
Các nhạc sĩ tiền chiến cũng hay ca ngợi Áo dài như bài "Tà áo xanh" của Đoàn Chuẩn -
Từ Linh. Và cảm xúc về chiếc Áo dài cũng làm nên những câu hát nổi tiếng của Hoàng
Trọng:
“Ngàn thu mưa rơi trên áo em màu tím
Ngàn thu đau thương vương áo em màu tím
Nhuộm tím những chuỗi ngày ấy nhau
Tháng năm càng lướt mau
Biết bao giờ ấy nhau”
(Ngàn thu áo tím)
13
KẾT LUẬN
Đã có bao giờ bạn nghĩ chiếc Áo dài trong tương lai sẽ như thế nào chưa? Chắc chắn rằng
đường cong của người phụ nữ nhưng nó cũng thật sự kín đáo với nét đẹp truyền thống
của người Á Đông tạo nên vẻ đẹp dịu dàng thướt tha cho người phụ nữ Việt. Vì vậy,
người đàn ông vẫn thích ngắm nhìn những cô gái thướt tha trong nhừng tà áo dài thướt
tha khi đi trên đường. Và hình ảnh những người nước ngoài đến Việt Nam mặc trang
phục áo dài truyền thống của ta cũng ngày một nhiều hơn. Qua đó, chúng ta cũng đủ thấy
Áo dài cũng có một sức hút riêng. Còn sự bất tiện của chiếc Áo dài cũng ít nhiều được
chiếc Áo dài cách tân thay thế tạo sự thuận tiện hơn. Ở đây, cách tân không có nghĩa là
làm thay đổi hoàn toàn chiếc Áo dài mà là sự biến tấu thêm ở một số bộ phận như cổ và
tay áo mà thôi. Có thể nói dù là cách tân thế nào đi nữa nhưng nó vẫn giữ nguyên nét đẹp
của hai tà áo xinh xinh.
TƯ LIỆU THAM KHẢO
1. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.
2. Ngàn năm áo mũ, Trần Quang Đức, 2014.
3. Trang phục Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại, Nguyễn Thu Phương, NXB
Lao động, 2005.
4. Văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam, Ngô Đức Thịnh, NXB KHXH, 2006.
5. http://www.vanhoahoc.edu.vn/diendan/viewtopic.php?f=33&t=1567
6. http://blog.yume.vn/xem-blog/ao-dai-quoc-hon-cua-phu-nu-
viet.romeodang.35B3ED2F.html
7. Áo dài trong thơ và nhạc: http://www.chutluulai.net/forums/showthread.php?
p=61304
15
16