Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Cơ sở lý thuyết về các mô hình tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu
đánh giá tăng trưởng và phát triển. Thực trạng con đường
phát triển kinh tế của Hàn Quốc, kinh nghiệm và bài học rút
ra từ Hàn Quốc
MỤC LỤC
Tăng trưởng nhanh từ 1960 đến 1980 11
Xu hướng kinh tế vĩ mô 11
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG
I.Các mô hình tăng trưởng
1.Mô hình nhấn mạnh công bằng xã hội trước
Giải quyết các vấn đề xã hội ngay từ đầu trong điều kiện thực trạng tăng
trưởng thu nhập ở mức độ thấp
Ưu điểm: các nguồn lực phát triển phân phối thu nhập, giáo dục, sức khỏe,
văn hóa được quan tâm và dàn đều cho mọi ngành mọi vùng và mọi tầng lớp trong
xã hội
Nhược điểm: nền kinh tế trì trệ thiếu các động lực cần thiết cho sự tăng
trưởng mức thu nhập bình quân đầu người thấp và ngày càng tụt hậu so với mức
chung của thế giới
Các nước áp dụng: LiênXô cũ, Cuba, Trung Quốc, Việt Nam trước đổi mới
và các nước XHCN
2.Mô hình nhấn mạnh tăng trưởng nhanh
Chính phủ tập trung chủ yếu vào các chính sách đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng mà bỏ qua các nội dung xã hội vấn đề bình đẳng công bằng nâng cao chất
lượng cuộc sống chỉ được đặt ra khi thu nhập đạt một trình độ cao
Ưu điểm: nền kinh tế rất nhanh khởi sắc, tốc độ tăng trưởng thu nhập bình
quân năm rất cao
Nhược điểm:
+ Bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, xã hội ngay càng gay gắt, chất
người : GDP bq người, GNP bq người,…
2. Phát triển
Phát triển kinh tế là một quá trình tăng tiến toàn diện của nền kinh tế trong
một thời kỳ nhất định trong đó bao gồm sự tăng lên về quy mô, khối lượng hàng
hoá dịch vụ và sự tiến bộ cơ bản trong cơ cấu kinh tế-xã hội.
Kết luận về phát triển :
Bản chất của phát triển kinh tế chính là quá trình thay đổi về lượng diễn ra
đồng thời với quá trình thay đổi về chất của nền kinh tế.
Những chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế:
Chỉ tiêu đánh giá sự thay đổi về lượng của một nền kinh tế.
Chỉ tiêu đánh giá sự thay đổi về chất của một nền kinh tế:
Đánh giá sự thay đổi cơ cấu kinh tế, bao gồm:
Cơ cấu ngành : NN-CN-DV.
Cơ cấu tái sản xuất nền kinh tế: Tích luỹ-Tiêu dùng.
Cơ cấu mở: Xuất khẩu-Nhập khẩu.
Cơ cấu vùng lãnh thổ: khu vực thành thị-nông thôn,7 vùng lãnh
thổ.
Chỉ tiêu đánh giá sự thay đổi về xã hội:
Tuổi thọ bình quân.
Trình độ học vấn:
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Tỷ lệ người biết chữ =Số người biết chữ/Dân số dưới 15t.
Tốc độ tăng dân số tự nhiên = Tỷ lệ sinh- Tỷ lệ chết.
Tỷ lệ chết của trẻ em dưới 1t, dưới 5t.
Tỷ lệ trẻ em suy sinh dưỡng.
Chỉ số HDI:
HDI=( IA + IE + Iw )/3
IA: Hệ số đánh giá tuổi thọ bình quân.
IE: Hệ số đánh giá kiến thức.
động trở lại kích thích tăng trưởng.
Như vậy, theo quan điểm này, công bằng xã hội không đối lập với tăng trưởng
kinh tế, Ngược lại là một yếu tố góp phần vào tăng trưởng kinh tế. Lập luận này đã
tạo tiền đề cho các chính phủ xây dựng và thực thi những chính sách kết hợp giữa
tăng cường phát triển kinh tế và nâng cao công bằng xã hội. Tuy nhiên, cần đảm bảo
một sự phát triển sao cho người dân tìm thấy những cơ hội phát triển tốt hơn đồng
thời được hưởng những lợi ích cần thiết để nâng cao đời sống.
Tuy vẫn còn những sự không thống nhất, song các chính sách dựa trên quan
điểm tăng trưởng đi liền với công bằng đã được thực tế kiểm nghiệm thông qua
những thành tựu phát triển kinh tế- xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới. trong đó
có Hàn Quốc
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
PHẦN II: CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ CỦA HÀN QUỐC
Kinh tế Hàn Quốc hiện xếp thứ ba châu Á và thứ 11 thế giới tính theo giá trị
GDP. Sau chiến tranh Triều Tiên năm 1953, Hàn Quốc từ một trong những
nước nghèo nhất đã trở thành một trong những nước giàu nhất thế giới với
tốc độ phát triển nhanh nhất trong lịch sử tăng trưởng kinh tế thế giới. Chỉ
trong vòng 40 năm, GDP bình quân đầu người Hàn Quốc từ mức chỉ có 100
USD trong năm 1963 đã lên tới mức kỷ lục 10.000USD năm 1995 và
25.000USD năm 2008.
I. Vài nét về đất nước Hàn Quốc.
-Là một đất nước nằm ở Đông Bắc Châu Á, phía Nam bán đảo Triều Tiên, phía
Đông Tây và Nam giáp biển, phía Bắc giáp Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều
Tiên. Khí hậu ôn đới 4 mùa rõ rệt. Với diện tích khoảng 99.392 km2 dân số xấp xỉ
49 triệu người và chỉ có một dân tộc duy nhất là dân tộc Hàn.
Hàn Quốc là một đất nước nghèo tài nguyên thiên nhiên, trước thập niên 60 của thế
kỷ XX vẫn là một đất nước chưa phát triển. Nhưng bắt đầu từ thập niên 60 của thế
từng thời kỳ. Và cũng thu hút được khá nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào.
1. Về đường lối chính sách phát triển.
-Về định hướng chính sách công nghiệp của HQ đã thay đổi rất lớn trong từng
thập kỷ, trợ giúp cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Từ những năm 1960 HQ
bắt đầu xúc tiến xuất khẩu khi cho ra đời hàng loạt các luật, quy định và lập ra
những chương trình hướng tới xuất khẩu. Công nghiệp nặng và hóa chất là trung
tâm của chính sách công nghiệp trong những năm 1970. Sự tái cơ cấu công nghiệp
trong những năm 1980 nhằm vào phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Mở cửa
và tự do hóa thị trường là điểm nhấn trong những năm 1990. Kể từ năm 2000, công
cuộc đổi mới là trọng tâm của chính sách quốc gia. Để tạo ra nhiều đổi mới hơn
trong các ngành công nghiệp, HQ đang xúc tiến các chính sách thân thiện với
doanh nghiệp cũng như các chính sách củng cố hợp tác giữa các công ty lớn và
doanh nghiệp vừa và nhỏ.
-Ngoài ra HQ cũng trú trọng đến phát triển các ngành dịch vụ mang lại sự tăng
trưởng đáng kể cho nền kinh tế. Trong đó dịch vụ tin tức trực tuyến của Hàn Quốc
lên ngôi, 70 % số gia đình Hàn Quốc kết nối Internet tốc độ cao, so với 14% hộ ở
Mỹ, bên cạnh đó Hàn Quốc còn mạnh tay với dịch vụ mô giới hôn nhân. Số phụ nữ
Việt Nam muốn lấy chồng Hàn Quốc đã tăng trong những năm gần đây, thể hiện
qua số lượng đơn xin thị thực chờ ở Lãnh sự quán Hàn Quốc ở thành phố Hồ Chí
Minh tăng đáng kể. Riêng năm 2006, có tới 13.096 thị thực Hàn Quốc đã được cấp
ra, tăng hơn hai lần so với con số 5.393 năm 2000
-Bên cạnh phát triển mạnh mẽ và cân bằng chính phủ HQ cũng chủ định kiểm
soát lạm phát. Đầu thập kỷ 90 đến 2003 nhớ có sự cải thiện cơ cấu phân phối nông
sản và hải sản của Chính Phủ đã làm lạm phát giảm xuống đáng 2,2%(2003)). ◊kể (
9% (1990)
Năm 1996 HQ trở thành thành viên của OECD một mốc quan trọng trong lịch sử
phát triển của HQ. Cùng với đó ngành dịch vụ đã tăng nhanh chóng chiếm tới 70%
GDP của HQ.
-Cùng với sự phát triển về kinh tế đời sống của nhân dân HQ được nâng cao rất
nhanh trở nên ngang bằng thậm chí cao hơn 1 số quốc gia phát triển khác ở Châu
- Chỉ số phát triển con người (HDI) là chỉ số so sánh định lượng về mức thu nhập,
tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác của các quốc gia trên thế giới. HDI
giúp tạo ra một cái nhìn tổng quát về sự phát triển của một quốc gia.
- OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế.
- Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế. Nó bao
gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế
kinh tế, chất lượng cuộc sống.
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
II.Tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc
Khái quát con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế Hàn Quốc từ năm
1950 đến nay
1. Giai đoạn tái thiết nền kinh tế(1950-1961)
2. Giai đoạn phát triển kinh tế hướng vào xuất khẩu (1962 – 1971)
3. Giai đoạn ưu tiên phát triển công nghiệp nặng và hoá chất ( 1972 – 1979 )
4. Giai đoạn điều chỉnh cơ cấu và tự do hoá nền kinh tế (1980-1990)
5. Giai đoạn thực hiện chính sách “kinh tế mới” và “toàn cầu hoá”( 1990-
1996)
6. Giai đoạn khủng hoảng và phục hồi nền kinh tế (1997 đến nay)
Kinh tế Hàn Quốc: là nền kinh tế phát triển, đứng thứ ba ở châu Á và đứng
thứ 10 trên thế giới theo GDP năm 2006. Sau Chiến tranh Triều Tiên, kinh tế Hàn
Quốc đã phát triển nhanh chóng, từ một trong những nước nghèo nhất thế giới trở
thành một trong những nước giầu nhất. Cuối thế kỷ 20, Hàn Quốc là một trong
những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử thế giới hiện đại.
GDP (PPP) bình quân đầu người của đất nước đã nhẩy vọt từ 100 USD vào năm
1963 lên mức kỉ lục 10.000 USD vào năm 1995 và 25.000 USD vào năm 2007. Bất
chấp các ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á 1997, nước này
đã khôi phục kinh tế rất nhanh chóng và vững chắc. Người ta thường nhắc đến sự
phát triển thần kỳ về kinh tế của Hàn quốc như là "Huyền thoại sông Hán", đến nay
trưởng cáo sang cơ cấu kinh tế mới tăng trưởng lâu dài ổn định chú trọng
nhiều đến xã hội và dân cư .
Trong 40 năm xây dựng con đường công nghiệp hoá Hàn Quốc đã
đưa nền kinh tế của mình cất cánh
Kế hoạch
Mục tiêu của kế
hoạch
Các mục tiêu cơ bản
Kế hoạch lần
thứ 1
1962-1966
Tăng trưởng , tự
túc
-Điều chỉnh những diễn biến xấu của nền kinh tế và xã
hội
-Xây dựng cơ sở nền tảng cho nền kinh tế tự túc
Kế hoạch lần
thứ 2 (1967-
1971)
Tăng trưởng , tự
túc
-Hiện đại hoá cơ cấu công nghiệp
- Thiết lập 1 nền kinh tế tự túc
Kế hoạch lần
thứ 3 (1972-
1976)
Tăng trưởng , ổn
định,tự túc,cân
bằng
tự do hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Kế hoạch lần
thứ 7 (1992-
1996)
Cạnh tranh công
bằng quốc tế hoá
tự do và toàn cầu hoá nền kinh tế
Thúc đẩy đầu tư R&D va SOC
Cải thiên sự công bằng XH
Tăng trưởng nhanh từ 1960 đến 1980
-Tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc gia của Hàn Quốc trung bình trên 8% mỗi
năm, từ 3,3 tỉ USD vào năm 1962 đến 204 tỉ USD vào năm 1989. Thu nhập bình
quân đầu ngươi tăng từ 87 USD vào năm 1962 lên 4.830 USD vào năm 1989. Tỷ
trọng của khu vực chế tạo trong GNP tăng từ 14,3 % vào năm 1962 lên 30,3 % năm
1987. Tổng khối lượng hàng hoá trao đổi tăng từ 480 triệu USD vào năm 1962 lên
127,9 tỉ USD vào năm 1990. Tỉ lệ tiết kiệm nội địa của GNP tăng từ 3,3% vào năm
1962 lên 35,8% vào năm 1989.
Xu hướng kinh tế vĩ mô
Dưới đây là biểu đồ xu hướng tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc theo giá thị trường
được ước tính bởi Quỹ tiền tệ quốc tế, đơn vị tính bằng triệu Won Hàn Quốc.
Năm
Tổng sản phẩm nội địa (triệu
Won)
Tỉ giá
Won/USD
Chỉ số lạm phát (Năm
2000=100)
nông nghiệp (3.2%), công nghiệp
(39.6%), dịch vụ (57.2%) (2006)
Lạm phát 2.2% (2006)
Sống dưới
mức nghèo
2% (2006)
Lực lượng lao
động
23,98 triệu (2006)
Lao động
theo nghề
Nông nghiệp (6.4%), công nghiệp
(26.4%), dịch vụ (67.2%) (2006)
Thất nghiệp 3.3% (2006)
Nghành công
nghiệp chính
điện tử, sản xuất ô tô, hóa chất, đóng
tầu, thép, sợi, quần áo, da giầy, chế
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
biến thức ăn
Trao đổi thương mại [2]
Xuất khẩu 371,8 tỉ USD (2007)[3]
Đối tác xuất
khẩu chính
Trung Quốc 21.3%, Hoa Kỳ 13.3%,
Nhật Bản 8.1%, Hong Kong 5.9%
(2006)
Nhập khẩu 356,7 tỉ USD (2007)[4]
Đối tác nhập
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nào. Sự bất lực ngự trị, tình trạng hoang mang chi phối lòng người. Nhiệm vụ duy
nhất đặt ra lúc đó cho Chính phủ là đẩy lui nạn đói nghèo.
-Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ nhất khởi động năm 1962 với mục
tiêu bằng mọi cách nâng cao sản lượng lương thực. Sang những năm 70, tình hình
đã bắt đầu dễ thở hơn, nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng và tích lũy. Nếu lấy mốc
cho quá trình khởi sắc về kinh tế là năm 1970, thì lúc đó 80% hộ gia đình nông thôn
đã có nhà lợp mái rạ, nhà nào cũng có đèn dầu thắp sáng, một số bắt đầu có điện,
50% làng xã mở được đường mới để ôtô có thể ra vào. So sánh ra toàn quốc lúc đó,
27% dân số có điện thắp sáng, tỷ lệ đói nghèo chiếm 34%.
-Tình hình đó thúc ép cả Chính phủ và người dân phải hành động. Sau chuỗi trận
lụt khủng khiếp năm 1969, người dân phải tự lực cánh sinh sửa đường, sửa nhà.
Chính phủcủa Tổng thống Park Jung Hee nhận ra rằng trợ giúp của nhà nước sẽ
chẳng có ý nghĩa gì nếu người dân không có quyết tâm tự lực, và khuyến khích nội
lực trong cộng đồng nông thôn và mở rộng hợp tác là chìa khóa phát triển nông
thôn. Bài học từ những trận lụt đó đã khai sinh cho ý tưởng Saemaul Undong - phát
triển nông thôn mới.
-Trong thập niên 70, Chính phủ đã nhìn thấy tiềm lực của Saemaul Undong
nhưng không lấy đâu ra tiền để đưa các dự án về nông thôn. Thành ra, những khoản
vốn nhỏ giọt chỉ đủ gói gọn cho 10 nội dung thí điểm phát triển nông thôn: Mở rộng
và cứng hóa đường nông thôn; kiên cố hóa mái nhà, bếp, tường rào; xây cầu; nâng
cấp hệ thống thủy lợi; mở địa điểm giặt và giếng nước công cộng. Năm 1971,
33.267 làng bắt đầu nhận được bình quân mỗi làng 355 bao xi măng, Chính phủ cấp
không thu tiền. Hệ thống chính quyền cấp làng tự quyết định phương án sử dụng xi
măng. Đất làm đường huy động người dân đóng góp, người dân cũng phải tự bỏ
công sức lao động để thực hiện nhiệm vụ cho chính quyền cấp làng đề ra.
-Tinh thần Saemaul Undong được xây dựng trên 3 trụ cột: Chuyên cần - Tự giác -
Hợp tác. Ba trụ cột đó là những giá trị xuyên suốt quá trình phát triển nông thôn nói
riêng, xã hội Hàn Quốc nói chung, được công nhận đã góp công lớn đưa GNP bình
(đơn vị: nghìn Won)
Năm Thu nhập của
nông dân
Thu nhập từ
nông nghiệp
Thu nhập
ngoài nông
nghiệp
So với thành
thị
1965 142 89 23 93.8
1970 256 194 62 60.3
1980 2693 1755 938 74.4
1985 5736 3699 2037 77.6
1990 11026 6264 4762 74
15