CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH - Pdf 62

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
I: Hiệu quả sản xuất kinh doanh
1. Khái niệm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế, gắn với cơ chế thị trường
có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh như: lao
động, vốn, máy móc, nguyên vật liệu... nên doanh nghiệp chỉ có thể đạt hiệu quả
cao khi việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả.
Khi đề cập đến hiệu quả kinh doanh nhà kinh tế dựa vào từng góc độ xem xét
để đưa ra các định nghĩa khác nhau.
Đối với các doanh nghiệp để đạt được mục tiêu sản xuất kinh doanh cần phải
trú trọng đến điều kiện nội tại, phát huy năng lực hiệu quả của các yếu tố sản
xuất và tiết kiệm mọi chi phí yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh là phải sử dụng các yếu tố đầu vào49
hợp lý nhằm đạt được kêts quả tối đa và chi phí tối thiểu. Tuy nhiên để hiểu rõ
bản chất của hiệu quả cũng cần phân biệt khái niệm hiệu quả và kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh .
Ta có thể rút ra khái niệm về hiệu quả như sau: “ Hiệu quả là sự so sánh kết
quả đầu ra và yếu tố nguồn lực đầu vào”. Sự so sánh đó có thể là sự so sánh
tương đối và so sánh tuyệt đối.
Kết quả đầu ra thường được biểu hiện bằng GTTSL, DT, LN
Yết tố nguồn lực đầu vào là lao động, chi phí, tài sản và nguồn vốn
Bên cạnh đó người ta cũng cho rằng “ Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh
tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí
nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh
doanh”. Hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày nay càng trở lên quan trọng đối
với tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục
tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
Hiệu quả tuyệt đối được xác định như sau:
A = K - C
Trong đó: A: Hiệu quả sản xuất kinh doanh
K: Kết quả thu được

mối tương quan giữa kết quả đạt được và nguồn lực bỏ ra. Kết quả chỉ là cái
cần thiết để tính toán và phân tích hiệu quả, muốn đánh giá được hiệu quả sản
xuất kinh doanh phải dựa trên kết quả từng lĩnh vực. Vì vậy hai khái niệm này
độc lập khác nhau nhưng lại có mối liên hệ mật thiết với nhau.
3. Sự cần thiết và ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh:
* Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh:
- Sự cần thiết khách quan: Trong điều kiện sản xuất kinh doanh theo cơ chế
thị trường, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải có lãi. Để đạt
được kết quả cao nhất trong sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần xác
định phương hướng mụctiêu trong đầu tư. Muốn vậy cần nắm được các nhân
tố ảnh hưởng, mức độ và su hướng của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh.
Điều này chỉ thực hiện trên cơ sở phân tích kinh doanh.
- Thời kỳ chủ nghĩa đế quốc, sự tích tụ cơ bản dẫn đến sợ tích tụ sản xuất,
các Công ty ra đời sản xuất phát triển cực kỳ nhanh chóng cả về quy mô lẫn
hiệu quả, Với sợ cạnh tranh gay gắt và khốc liệt. Để chiến thắng trong cạnh
tranh, đảm bảo quản lý tốt các hoạt động của Công ty đề ra phương án giải
pháp kinh doanh có hiệu quả, nhà tư bản nhận thông tin từ nhiều nguồn, nhiều
loại và yêu cầu độ chính xác cao. Với đòi hỏi này công tác hạch toán không thể
đáp ứng được vì vậy cần phải có môn khoa học phân tích kinh tế độc lập với
nội dung phương pháp nghiên cứu phong phú.
- Ngày nay với những thành tự to lớn về sự phát triển kinh tế – Văn hoá,
trình độ khoa học kỹ thuật cao thì phân tích hiệu quả càng trở lên quan trọng
trong quá trình quản lý doanh nghiệp bởi nó giúp nhà quả lý tìm ra phương án
kinh doanh có hiệu quả nhất về Kinh tế0- Xã hội – Môi trường.
- Trong nền kinh tế thị trường để có chiến thắng đòi hỏi các doanh nghiệp
phải thường xuyên áp dụng các tiến bộ khoa học, cải tién phương thức hoạt
động, cải tiến tổ chức quản lý sản xuất và kinh doanh nhằm nâng cao năng
suất chất lượng và hiệu quả.
Tóm lại: Phan tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh giúp cho nhà

- Phạm trù kinh tế được hiểu trên hai góc độ đó là địng tính và định lượng.
+ Về định lượng: Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế
xã hội biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra. Nếu
xét tổng hợp thì người ta chỉ thu lại được hiệu quả kinh tế khi kết quả thu về
lớn hơn chi phí bỏ ra, chênh lệch càng lớn thì hiệu quả càng cao.
+ Về mặt định tính: Mức độ hiệu quả kinh tế thu được phản ánh trình độ
năng lực quản lý sản xuất kinh doanh.
Hai mặt định tính và định lượng của hiệu quả kinh doanh không được
tách rời nhau.
- Hiệu quả kinh tế không đồng nhất với kết quả kinh tế. Kết quả kinh tế là
phạm trù so sánh, thể hiện mối quan tâm giữa cái bỏ ra và cái thu về. Kết quả
chỉ là yếu tố cần thiết để phân tích đánh giá hiệu quả tự bản thân mình, kết
quả chưa thể hiện được nó tạo ra ở mức độ nào và chi phí nào, có nghĩa riêng
kết quả chưa thể hiện được chất lượng tạo ra nó.
Bản chất hiệu quả kinh tế là thể hiện mục tiêu phát triển kinh tế và các hoạt
động sản xuất kinh doanh , tức là thoả mãn tốt hơn nhu cầu của thị trường. Vì
vậy nói đến hiệu quả là nói đến mức độ thoả mãn nhu cầu với việc lựa chọn và
sử dụng các nguồn lực có giới hạn tức là nói đến kết quả kinh tế trong việc
thoả mãn nhu cầu.
Tóm lại: Vấn đề nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất xã hội và toàn bộ
hoạt động sản xuất kinh doanh khác là một yêu cầu cơ bản nhất của mục tiêu
phát triển.
* Phân loại hiệu quả:
Hiệu quả là một phạm trù lớn mang tính tổng hợp vì vậy trong việc tiếp cận,
phân tích và đánh giá chỉ tiêu này cần nhận thức rõ về tính đa dạng các chỉ
tiêu hiệu quả và phân loại các chỉ tiêu hiệu quả theo các căn cứ sau:
- Căn cứ vào nội dung và tính chất của các kết quả nhằm đáp ứng nhu cầu đa
dạng của mục tiêu, người ta phân biệt hiệu quả kinh tế và các loại hiệu quả
khác.
+ Các loại hiệu quả khác nhau: Hiệu quả xã hội về cải thiện điều kiện làm

được các mặt phát triển, hay kém phát triển, hiệu quả hay kém hiệu quả để tìm
ra giải pháp quản lý tốt nhất và tối ưu nhất trong mỗi trường hợp cụ thể.
Đòi hỏi có tính nguyên tắc khi áp dụng phương pháp so sánh là:
* Các chỉ tiêu hay các kết quả tính toán phải tương dương nhau về nội dung
phản ánh và cách xác định.
* Trong phân tích so sánh có thể so sánh tuyệt đối, số tương đối và số bình
quân.
Số tuyệt đối là số tập hợp trực tiếp từ các yếu tố cấu thành hiện tượng kinh
tế được phản ánh.
Ví dụ: Tổng sản lượng, tổng chi phí lưu thông, tổng lợi nhuận...
Phân tích bằng số tuyệt đối cho thấy khối lượng và quy mô của hiện tượng
kinh tế. Các số tuyệt đối được so sánh phải có cùng một nội dung phản ánh,
cách tính toán xác định, phạm vi, kết cấu và đơn vị do lường của hiện tượng. Vì
thế dung lượng ứng dụng tuyệt đối trong phân tích so sánh nằm trong một
khuôn khổ nhất định.
Số tương đối là số biểu thị dưới dạng số phần trăm tỉ lệ hoặc hệ số. Sử dụng
số tương đối có thể đánh giá được sự thay đổi kết cấu các hiệ tượng kinh tế
đặc biệt cho phép liên kết các chỉ tiêu không tương đương để phân tích so
sánh. Chẳng hạn thiết lập mối quan hệ giữa hai chỉ tiêu khối lượng hàng hoá
tiêu thụ và lợi nhuận đẻ suy diễn, nếu tăng khối lượng hàng hoá lên 1% thì có
thể tăng tổng lợi nhuận lên1%. Tuy nhiên số tương đối không phản ánh được
chất lượng bên trong cũng như quy mô của hiện tượng kinh tế. Bởi vậy trong
nhiều trương hợp, khi so sánh cần kết hợp đồng thời cả số tuyệt đối lẫn số
tương đối.
Số bình quân là số phản ánh mặt trung nhất của hiện tượng, bỏ qua sự phát
triển không đồng đều của các bộ phận cấu thành hiện tượng kinh tế. Số bình
quân có thể biểu thị dưới dạng số tuyệt đối (năng suất lao động bình quân. Vốn
lưu động bình quân...). Cũng có thể biểu thị dưới dạng số tương đối (tỷ suất phí
bình quân, tỷ suất doanh lợi...). Sử dụng số bình quân cho phép nhận định tổng
quát về hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, xây dựng các định mức kinh tế -

Như vậy, khi trình tự thay thế khác nhau, có thể thu được các kết quả khác
nhau về mức ảnh hưởng của cùng một nhân tố tới cùng một chỉ tiêu. Đây là
nhược điểm nổi bật của phương pháp này.
Xác định trình tự thay thế liên hoàn hợp lý là một yêu cầu khi sử dụng
phương pháp này. Trật tự thay thế liên hoàn trong các tài liệu thường được
qui định như sau :
- Nhân tố khối lượng thay thế trước, nhân tố trọng lượng thay thế sau :
- Nhân tố ban đầu thay thế trước, nhân tố thứ phát thay thế sau. Khi có thể
phân biệt rõ ràng các nhân tố ảnh hưởng thì vận dụng nguyên tắc trên trong
thay thế liên hoàn là khá thuận tiện. Trong trường hợp, cùng một lúc có nhiều
nhân tố chất lượng, khối lượng... tức nhiều nhân tố có cùng tính chất như
nhau, việc xác định trật tự thay thế trở nên khó khăn, một số tài liệu đã được
phương pháp toán tích phân, vi phân thay cho phương pháp này.
Với ví dụ nêu trên ta có : A = f (X, Y).
d A = f x d x + f y d y
và ∆ A x = f x d x
∆ A y = f y d y
Khi chỉ têu thực tế so với chỉ tiêu gốc (A1 so với Ao) chênh lệch không quá 5 -
10% thì kết quả tính toán được trong bất kỳ trình tự thay thế nào cũng xấp xỉ
bằng nhau. Một sự biến dạng nữa của phương pháp này là phương pháp số
chênh lệch. Trong phương pháp này để xác định mức ảnh hưởng của từng
nhân tố, người ta sử dụng số chênh lệch so sánh của từng nhân tố để tính toán.
Cũng với ví dụ trên, ta có : A = f (x, y)
với trật tự thay thế x trước, y sau :
∆ A x = f (∆ x . yo) với ∆ X = X1 - Xo
∆ Ay = f (X1 . ∆y) với ∆ Y = Y1 - Yo
Phương pháp số chênh lệch ngắn gọn, đơn giản. Tuy nhiên, khi sử dụng. Cần
chú ý : Dấu ảnh hưởng của các nhân tố tới chỉ tiêu được phân tích trùng với
dấu của số chênh lệch nhân tố đó nếu trong hàm số biểu thị mối liên hệ của
nhân tố với chỉ tiêu là dấu nhân (x) hoặc dấu cộng (+); Dấu ảnh hưởng của các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status