Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
Lời nói đầu
Kinh tế thị trờng là qui luật phát triển đi lên của bất cứ quốc gia nào.
Đại hội Đảng lần thứ IX, một lần nữa Đảng ta khẳng định, Việt Nam quyết
tâm xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị tr-
ờng, định hớng XHCN có sự quản lý của Nhà nớc. Trong các thành phần kinh
tế này thì tập trung phát triển kinh tế cá thể đang là một chính sách, một định
hớng lớn của Đảng và Nhà nớc ta trong tiến trình đẩy mạnh CNH_HĐH, bởi vì
xét cho cùng thì sự phát triển của một đất nớc phải đi từ mỗi ngời dân, từ mỗi
gia đình.
Với sự chuyển đổi sang cơ chế thị trờng thì kinh tế hộ gia đình ngày
càng trở nên quan trọng hơn. Sớm nhận thức thấy vai trò quan trọng của kinh
tế cá thể đối với quá trình phát triển kinh tế của đất nớc, Nghị quyết 10-
NQ/TW ngày 05/04/1988 của Bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông
nghiệp, nông thôn đã đa hộ gia đình vào trọng tâm của sự phát triển kinh tế, hộ
gia đình đợc tự chủ trong việc quyết định hớng phát triển kinh tế cho gia đình
dựa trên nguồn tài nguyên, nhân lực hiện có. Bộ mặt kinh tế nông thôn đã và
đang có những chuyển biến khởi sắc đáng kể đặc biệt từ khi Nhà nớc có chính
sách giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình để sản xuất lâu dài, tạo cơ sở vững
chắc cho các hộ có thể yên tâm đầu t vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Việc giao ruộng đất cho các hộ sử dụng ổn định lâu dài với 5 quyền
năng: Chuyển đổi, chuyển nhợng, cho thuê, thế chấp và thừa kế, kết hợp với
chính sách hỗ trợ nông dân phát triển kinh tế nh mở rộng các hoạt động tín
dụng trong nông thôn, tăng cờng khuyến nông, khuyến lâm, ng... đã khuyến
khích nông dân phát triển khả năng sẵn có về đất đai, sức lao động, tiền vốn để
đẩy mạnh sản xuất. Hiện nay có rất nhiều hộ có khả năng về lao động, sản
xuất, quản lý... song không thể tiến hành mở rộng sản xuất kinh doanh đợc do
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
1
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
thiếu vốn đầu t. Tuy nhiên do một số hạn chế trong cơ chế chính sách, qui
1.1. Khái niệm
1.1. Khái niệm
Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa
hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lợng giá trị sang cho bên kia sử
dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận đợc phải cam kết hoàn
trả với một lợng giá trị lớn hơn theo thời hạn đã thoả thuận.
TDNH là mối quan hệ tín dụng giữa một bên là Ngân hàng với một bên
là các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó Ngân hàng đóng vai trò vừa là
ngời đi vay vừa là ngời cho vay. Giá (lãi suất) của khoản vay do Ngân hàng ấn
định cho khách hàng vay là mức lợi tức mà khách hàng phải trả trong suốt
khoản thời gian tồn tại của khoản vay.
Chủ thể tham gia trong quan hệ tín dụng Ngân hàng là Ngân hàng, Nhà
nớc, doanh nghiệp và hộ dân c. Đối tợng đợc sử dụng để cho vay ở đây là tiền,
nó không chịu sự giới hạn theo hàng hoá, vận động đa phơng đa chiều. Đây là
đặc điểm khác biệt giữa TDNH với các loại hình tín dụng khác.
Tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất là tín dụng mà một bên chủ thể
tín dụng là Ngân hàng, một bên là các hộ sản xuất
1.2. Các phơng thức cấp tín dụng Ngân hàng
1.2.1. Cho vay trực tiếp từng lần
1.2.1. Cho vay trực tiếp từng lần
Đây là hình thức cho vay phổ biến của Ngân hàng đối với các khách
hàng không có nhu cầu vay vốn thờng xuyên.
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
3
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và giải trình cho Ngân hàng ph-
ơng án sản xuất kinh doanh. Ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định phân tích
khách hàng xem có đủ điều kiện và an toàn để cho vay hay không. Nếu Ngân
hàng xét thấy đủ điều kiện sẽ tiến hành kí hợp đồng cho vay, xác định qui mô
cho vay, thời hạn giải ngân, mức lãi suất và các điều kiện ràng buộc khác cần
1.2.3. Cho vay luân chuyển
Là nghiệp vụ cho vay dựa trên sự luân chuyển của hàng hoá. Doanh
nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể cho vay để khách
hàng mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Đầu năm hoặc đầu
quí ngời vay phải làm đơn xin vay luân chuyển. Ngân hàng và khách hàng sẽ
thoả thuận với nhau về phơng thức vay, hạn mức tín dụng, lãi suất và phơng
thức trả lãi, các nguồn cung cấp hàng hoá và khả năng tiêu thụ. Hạn mức tín
dụng có thể đợc thoả thuận trong một năm hoặc vài năm. Đây không phải là
thời hạn hoàn trả mà là thời hạn để Ngân hàng xem xét lại mối quan hệ với
khách hàng và quyết định có cho vay nữa hay không tuỳ mối quan hệ giữa
Ngân hàng và khách hàng cũng nh tình hình tài chính của Ngân hàng.
Khi vay, khách hàng chỉ cần gửi đến Ngân hàng các chứng từ hoá đơn
nhập hàng và số tiền cần vay. Ngân hàng sẽ cho vay và trả tiền cho ngời bán.
theo hình thức này, giá trị hàng hoá mua vào (có hoá đơn, hợp pháp, hợp lệ
đúng đối tợng) đều là đối tợng đợc Ngân hàng cho vay; thu nhập bán hàng đều
là nguồn để chi trả cho Ngân hàng. Tuy nhiên Ngân hàng có thể chỉ cho vay
với một tỉ lệ nhất định tuỳ theo khối lợng và chất lợng quan hệ nợ nần của ngời
vay. Các khoản phải thu và cả hàng hoá trong kho của khách hàng trở thành
vật đảm bảo cho khoản vay
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
5
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
Cho vay luân chuyển thờng áp dụng đối với các doanh nghiệp thơng
nghiệp hoặc các doanh nghiệp sản xuất có chu kì tiêu thụ ngắn ngày, có quan
hệ vay trả thờng xuyên với Ngân hàng.
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các khách hàng. Thủ tục vay chỉ
cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay. Khách hàng đợc đáp ứng nhu cầu vốn
kịp thời, vì vậy việc thanh toán cho ngời cung cấp sẽ nhanh gọn. Song nếu nh
doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ thì Ngân hàng sẽ
gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay không đợc qui
Cho vay thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó Ngân hàng cho phép ngời
vay đợc chi trội (vợt) số d tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất
định trong một khoảng thời gian xác định. Giới hạn này gọi là hạn mức thấu
chi. Đây là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn
không có tài sản đảm bảo, có thể cấp cho cả doanh nghiệp và cá nhân song chỉ
chủ yếu cấp cho các khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kì thu
nhập ngắn.
Để đợc thấu chi khách hàng phải làm đơn xin Ngân hàng hạn mức thấu
chi và thời gian thấu chi (khách hàng có thể phải trả phí cam kết cho Ngân
hàng). Trong quá trình hoạt động, khách hàng có thể kí séc, lập uỷ nhiệm chi,
mua thẻ sác... vợt quá số d tiền gửi để chi trả (song trong hạn mức thấu chi).
Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản tiền gửi Ngân hàng sẽ tiến hành thu
nợ gốc và lãi. Số lãi mà khách hàng phải trả:
Lãi = Lãi suất thấu chi *Thời gian thấu chi * Số tiền thấu chi
1.2.6. Cho vay gián tiếp
1.2.6. Cho vay gián tiếp
Cho vay gián tiếp là hình thức Ngân hàng cho khách hàng vay thông
qua các tổ chức trung gian. Đó là các tổ, đội, hội, nhóm nh nhóm sản suất, Hội
nông dân, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ...Các tổ chức này thờng liên kết các
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
7
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
thành viên theo một mục đích riêng, song chủ yếu là để hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ
quyền lợi cho mỗi thành viên. Vì vậy, việc phát triển kinh tế, làm giàu, xoá đói
giảm nghèo luôn đợc các trung gian rất quan tâm.
Trong phơng thức cho vay này Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu
của hoạt động cho vay sang các tổ chức trung gian nh thu nợ, phát tiền
vay...Tổ chức trung gian cũng có thể đứng ra tín chấp cho các thành viên vay,
hoặc các thành viên trong nhóm bảo lãnh cho một thành viên vay. Điều này rất
thuận tiện khi ngời vay không có hoặc không đủ tài sản thế chấp. Tuy nhiên để
Phân loại theo tính chất an toàn, Ngân hàng chia tài sản đảm bảo
Phân loại theo tính chất an toàn, Ngân hàng chia tài sản đảm bảothành hai loại.
thành hai loại.
-
Loại 1
Loại 1, Là các tài sản thuộc sở hữu hoặc sử dụng lâu dài của khách
hàng, hoặc đảm bảo của bên thứ ba cho khách hàng của Ngân hàng (bảo
lãnh). Những đảm bảo này không đợc hình thành từ chính từ chính khoản tín
dụng của Ngân hàng. Đảm bảo loại 1 có thể có giá trị lớn hơn, nhỏ hơn hoặc
bằng giá trị của khoản tín dụng tuỳ theo dự đoán của Ngân hàng về độ rủi ro.
Các khoản tín dụng dựa trên tài sản đảm bảo loại 1 thờng đảm bảo an toàn cho
Ngân hàng, song gây khó khăn cho cả Ngân hàng lẫn khách hàng trong việc
định giá, bảo quản, làm cho thời gian phân tích tín dụng bị kéo dài.
- Loại 2
- Loại 2, Là những tài sản đợc hình thành từ nguồn tài trợ của Ngân
hàng (đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay). Ví dụ, Ngân hàng cho
khách hàng vay tiền để mua một chiếc xe máy thì chiếc xe máy hình thành từ
vốn vay sẽ trở thành đảm bảo loại 2. Đây là biện pháp cuối cùng để Ngân
hàng có thể hạn chế việc ngời vay bán tài sản hình thành từ vốn vay. Tuy
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
9
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
nhiên, khi ngời vay không trả đợc nợ thì phần lớn các tài sản này đều giảm
giá, khó bán. Do đó tải sản đảm bảo loại hai thờng không đảm bảo cho Ngân
hàng thu đủ gốc và lãi nếu khách hàng mất khả năng thanh toán. Tài sản loại 2
ờng của hàng hoá đảm bảo. Ngân hàng quan tâm đến tính ổn
định giá trị thị trờng của hàng hoá đảm bảo. Những hàng hoá làm đảm bảo
phải là hàng hoá dễ bán và có giá cả ổn định.
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
10
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
+ Khả năng bảo quản, định giá hàng đảm bảo.
+ Khả năng bảo quản, định giá hàng đảm bảo. Điều này xuất phát từ một
số đặc thù riêng biệt của một số hàng hoá là đòi hỏi kĩ thuật bảo quản cao, nếu
không sẽ giảm giá. Do vậy Ngân hàng chỉ chấp nhận hàng hoá ít chịu ảnh h-
ởng của yếu tố môi trờng
Tất cả các hàng hoá phải đợc bảo hiểm. Bảo hiểm sẽ tránh cho Ngân
hàng những tổn thất lớn khi khi hàng bị cháy, trộm cớp, hoặc các thiên tai
khác.
Thứ hai
Thứ hai
.
Đảm bảo bằng tài sản cố định. Trong hình thức đảm bảo này
thì nhà máy, trang thiết bị sản xuất và phơng tiện vận chuyển, cây con, quyền
sử dụng đất, rừng... đều có thể trở thành tài sản đảm bảo cho Ngân hàng. Đảm
bảo bằng đất đai rất phức tạp vì khách hàng phải đăng kí với Sở địa chính, hoặc
các cơ quan có thẩm quyền về việc chuyển nhợng hoặc thế chấp cho Ngân
hàng. Các nhân tố tác động đến việc chấp nhận các tài sản cố định làm đảm
bảo cho các khoản tài trợ bao gồm:
+ Quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền thuê lâu dài
+ Quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền thuê lâu dài. Điều này ảnh h-
ởng đến việc chấp nhận tài sản làm vật thế chấp bởi vì tài sản cố định phải đợc
bán khi cần thiết do đó liên quan đến quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu của tài
+ Khả năng chi trả của ng
+ Khả năng chi trả của ng
ời thứ ba
ời thứ ba: Việc tài trợ cho khách hàng dựa
trên các hợp đồng chi trả đã chuyển trọng tâm phân tích tuín dụng từ phía
khách hàng sang ngời thứ ba. Tình hình tài chính, uy tín, tính sòng phẳng trong
thanh toán là những yếu tố để Ngân hàng cân nhắc. Ví dụ Ngân hàng thờng dễ
chấp nhận hợp đồng bảo hiểm của các công ty bảo hiểm có tên tuổi.
+ Khả năng thực hiện hợp đồng với ng
+ Khả năng thực hiện hợp đồng với ng
ời thứ ba của khách hàng.
ời thứ ba của khách hàng.Nếu ngời cung cấp hàng hoá và dịch vụ hoặc ngời mua không có khả năng
thực hiện hợp đồng cam kết thì bên thanh toán sẽ không thực hiện cam kết
thanh toán.
+ Các cam kết có khả năng chuyển nh
+ Các cam kết có khả năng chuyển nh
ợng:
ợng: Nếu khách hàng đã
chuyển nhợng cam kết cho ngời khác thì Ngân hàng rất khó thu hồi nợ, vì vậy
Ngân hàng phải xem xét khả năng chuyển nhợng các cam kết. Ví dụ, Ngân
hàng đề phòng có những hợp đồng bảo hiểm ngắn hạn, nắm quyền sở hữu hợp
pháp bằng cách yêu cầu công ty bảo hiểm viết giấy chuyển nhợng...
Thứ t
Thứ t:
Đảm bảo bằng bảo lãnh của ngời thứ ba: Ngời thứ ba cam
kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Ngân hàng thay cho khách hàng
khi khách hàng không có khả năng chi trả. Bảo lãnh là hình thức đảm bảo đối
nhân. đối với ngời bảo lãnh có uy tín (Nhà nớc, các tổ chức tài chính lớn, các
công ty lớn...) Ngân hàng chấp nhận bảo lãnh không cần tài sản đảm bảo. Đối
với ngời bảo lãnh cha có uy tín, Ngân hàng đòi hỏi phải có tài sản đảm bảo cho
bảo lãnh đó. Các nhân tố ảnh hởng gồm:
+ Uy tín của ngời bảo lãnh
+ Tài sảncủa ngời bảo lãnh
Thứ sáu
Thứ sáu
:
Đảm bảo bằng số d bù: Trong một số trờng hợp Ngân hàng
không đòi hỏi đảm bảo dới hình thái hàng hoá hay bảo lãnh. Các đảm bảo loại
này thờng gắn với thủ tục phức tạp, không có lợi cho cả Ngân hàng lẫn khách
hàng. Hơn nữa, Ngân hàng dự tính, nếu rủi ro xảy ra đối với khách hàng thì tổn
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
13
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
thất cũng chỉ chiếm một phần số tiền vay. Trong trờng hợp này Ngân hàng có
thể yêu cầu đảm bảo bằng tài sản kí quĩ (số d bù). Số tiền này có thể chuyển
sang tài khoản khác của khách hàng, hoặc vẫn lu trên tài khoản tiền gửi song
khách hàng không đợc quyền sử dụng cho đến khi đã trả nợ hết cho Ngân
hàng. Đảm bảo bằng kí quĩ thủ tục đơn giản và phần lớn kí quĩ có giá trị nhỏ
hơn số tiền vay. Tuy nhiên, kí quĩ làm đọng vốn của khách, và trong trờng hợp
tiền vay lớn, ngân quĩ của khách hàng nhỏ hoặc cần thiết để lu chuyển, tỉ lệ kí
quĩ cao thì hình thức đảm bảo này lại không phù hợp.
1.4. Các nguyên tắc tín dụng
hoạt động của Ngân hàng.
1.5. Các điều kiện tín dụng
Ngân hàng chỉ xem xét cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau:
+ Thứ nhất
+ Thứ nhất: Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và
chịu trách nhiệm hành vi dân sự theo qui định của pháp luật
+ Thứ hai
+ Thứ hai: Có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
+ Thứ ba
+ Thứ ba: Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết,
cụ thể:
- Có vốn tự có tham gia vào dự án
- Kinh doanh có hiệu quả: có lãi, trờng hợp lỗ thì phải có phơng án khả
thi khắc phục lỗ đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết. Đối với khách hàng
vay vốn nhu cầu đời sống thì phải có nguồn thu ổn định để trả nợ Ngân hàng
+ Thứ t
+ Thứ t
:
: Có dự án đầu t, phơng án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi
và có hiệu quả hoặc có dự án đầu t, phơng án phục vụ đời sống khả thi.
+ Thứ năm:
+ Thứ năm: Thực hiện các qui định về đảm bảo tiền vay theo qui định
của Chính phủ, NHNN Việt Nam và hớng dẫn của các NHTM và các tổ chức
tín dụng
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
15
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
2. Vai trò của hộ sản xuất đối với nền kinh tế trong giai đoạn CNH_HĐH
2.1. Khái niệm hộ sản xuất:
Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất
tham gia hoạt động sản xuất cả trong lĩnh vực công nghiệp nh công nghiệp
may mặc, xây dựng cơ bản...
- Về khả năng quản lý: Khả năng quản lý của hộ sản xuất nhìn chung
còn rất nhiều hạn chế. Khả năng quản lý và tổ chức sản xuất chủ yếu dựa vào
kinh nghiệm đợc tích luỹ trong cuộc sống. Ngời chủ gia đình thống nhất quản
lý mọi yếu tố từ nguyên vật liệu, sản xuất tới tiêu dùng và tiêu thụ.
- Về nguồn vốn sản xuất: Nguồn vốn sản xuất của hộ sản xuất chủ yếu
là tự có với qui mô nhỏ. Đây là nguồn vốn do tiết kiệm tích luỹ đợc hoặc là do
vay muợn của ngời quen, bạn bè. Có rất ít hộ sản xuất tiếp cận đợc với nguồn
vốn Ngân hàng vì thiếu các điều kiện trong đảm bảo tiền vay của Ngân hàng
và qui trình vay mợn rờm rà, phức tạp.
Nhận xét: Từ những nội dung đã nêu trên cho thấy kinh tế hộ sản xuất
rất phong phú, đa dạng; đối tợng cho vay mang tính tổng hợp bao gồm nhiều
lĩnh vực; mức độ và hiệu quả sử dụng vốn cũng khác nhau. Chính vì vậy nội
dung thẩm định vốn cho vay đối với hộ nông dân đóng vai trò hết sức quan
trọng và là khâu quyết định đến sự an toàn vốn cũng nh sự phát triển bền vững
của Ngân hàng.
2.3. Vai trò của kinh tế hộ sản xuất đối với nền kinh tế trong giai đoạn
CNH_HĐH đất nớc
Đất nớc là một chỉnh thể thống nhất với mỗi gia đình là một tế bào của
nó. Một chỉnh thể chỉ có thể tồn tại và phát triển bền vững nếu từng tế bào của
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
17
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
nó đều mạnh khoẻ và sung sức. Nền kinh tế của một quốc gia không thể không
thể tồn tại và phát triển bền vững khi nó chỉ dựa vào một số ít các cá thể. Đó là
nguyên tắc cơ bản của một nền kinh tế đa thành phần - nền kinh tế với các tác
nhân kinh tế khác nhau trong đó hộ gia đình đợc xem là cơ sở của sự phát
triển. Hộ sản xuất ngày càng trở nên quan trọng và đã trở thành doanh nghiệp
hộ gia đình với đầy đủ các chức năng kinh tế từ việc lập kế hoạch sản xuất
nền kinh tế. Thông qua hoạt động sản xuất của mình hộ sản xuất làm ra các
sản phẩm vật chất, dịch vụ để tiêu dùng và cung cấp cho thị trờng. Trong giai
đoạn hiện nay, sản xuất hàng hoá và xây dựng nền kinh tế vận động theo cơ
chế thị trờng đã trở thành một xu thế tất yếu của bất cứ quốc gia nào. Nền kinh
tế thị trờng đã chỉ ra rằng phải sản xuất cái thị trờng cần, bán cái thị trờng cần
chứ không bán cái mình có. Các hộ sản xuất đã và đang chuyển từ việc sản
xuất, tiêu dùng tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá. Nhiều hộ gia đình đã
mạnh dạn đầu t vào chuyên môn hoá, đa dạng hoá sản xuất, cung cấp cho thị
trờng nhiều loại hàng hoá có giá trị và có chất lợng. Nh vậy hộ gia đình là một
nhân tố đóng góp vai trò quan trọng trong tổng cung của nền kinh tế, đóng góp
vào cho GDP của xã hội một khối lợng vật chất đáng kể.
Thứ ba:
Thứ ba: Hộ gia đình là đơn vị tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ, là là thị tr-
ờng cho các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh. Nh vậy hộ nông
dân giải quyết vấn đề đầu ra của quá trình sản xuất, làm cho quá trình sản xuất
và tái sản xuất đợc thông suốt. Tiêu dùng của hộ gia đình là một nhân tố dùng
để đánh giá và lợng hoá tổng cầu. Cũng thông qua sự thay đổi của tiêu dùng
trong hộ nông dân các doanh nghiệp có thể nhận biết và chuyển đổi lĩnh vực
đầu t một cách thích hợp và hiệu quả.
Thứ t
Thứ t
:
: Không những tái sản xuất ra con ngời hộ gia đình còn là nơi nuôi
dỡng chăm sóc con ngời từ thuở ấu thơ đến khi trởng thành, là môi trờng đầu
tiên và quan trọng định hình nhân cách con ngời. Thông qua những lề lối gia
phong, những truyền thống đạo lý, hộ gia đình góp phần bảo vệ và phát triển
nền văn hoá Việt Nam nhất là trong thời buổi mở cửa hoà nhập kinh tế và văn
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
19
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
ớng đa dạng hoá sản xuất:
Với nhiều mô hình kinh tế mới nh mô hình VAC, mô hình kinh tế trang
trại kết hợp nông lâm thuỷ sản... các hộ gia đình đang ngày càng đa dạng hoá
cây trồng vật nuôi. Đã xuất hiện những mô hình kinh tế trang trại kết hợp du
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
20
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
lịch sinh thái hết sức hiệu quả vừa tăng thu nhập vừa góp phần cải thiện môi tr-
ờng. Việc đa dạng hoá sản xuất này đã tận dụng một cách tối đa các t liệu sản
xuất, góp phần tăng thu nhập.
Ngày nay với sự phát triển của khoa học kĩ thuật đã tạo ra nhiều con
giống, cây giống mới thích hợp với nhiều điều kiện thời tiết khác nhau đã dần
hạn chế và xoá bỏ tính mùa vụ của cây trồng vật nuôi. Điều này giúp các hộ
gia đình trong cùng một thời gian có thể có đợc một cơ cấu cây trồng vật nuôi
phong phú đa dạng.
Nhiều hộ gia đình còn tranh thủ khoảng thời gian rảnh rỗi để làm thêm
các nghề phụ nh cung cấp các dịch vụ mua bán, làm các nghề thủ công truyền
thống... góp phần tăng thu nhập cho gia đình cải thiện đời sống. Với xu thế
phát triển này đã tận dụng một cách tối đa lao động trong lúc nông nhàn của
sản xuất nông nghiệp, qua đó góp phần làm giảm các tệ nạn xã hội.
Xu h
Xu h
ớng phân hoá giàu nghèo :
ớng phân hoá giàu nghèo :
Đây là qui luật tất yếu và khắc nghiệt của phát triển kinh tế thị trờng.
Nền kinh tế thị trờng đã và đang làm cho hố ngăn cách giàu nghèo giữa các hộ
gia đình trong xã hội đang ngày một sâu sắc. Một số các hộ gia đình do nắm
bắt đợc nhu cầu, nhanh nhạy với những thay đổi của thị trờng đã nhanh chóng
trở nên giàu có. Một số các hộ khác do không có trình độ và kinh nghiệm,
không có phơng án sản xuất kinh doanh phù hợp đáp ứng nhu cầu thị trờng đã
xuất dẫn đến sự mất ổn định trong việc cung cấp các sản phẩm đầu ra cho thị
trờng làm ảnh hởng đến thu nhập của các hộ gia đình. Nhiều hộ gia đình đã
phải chấp nhận tiếp cận với các nguồn vốn khác, thậm chí các nguồn vốn chợ
đen với chi phí cao hơn rất nhiều. Điều này đã làm tăng chi phí sản xuất và do
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
22
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
đó giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh, liên đới làm giảm động lực và mong
muốn lao động sản xuất của các hộ gia đình.
Mặt khác với khả năng tài chính nhỏ bé của mình và với trình độ phát
triển hiện tại của nền kinh tế, các hộ gia đình hầu nh không thể tiếp cận đợc
với các thị trờng tài chính để có thể sử dụng đợc các nguồn vốn từ thị trờng
này.
Hiện nay Chính phủ đã đa ra nhiều điều kiện đặc biệt u đãi đối với các
hộ gia đình khi vay vốn Ngân hàng để sản xuất kinh doanh. Điều này đợc thể
hiện trong Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg của Thủ tớng Chính phủ về một số
chính sách tín dụng Ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn;
Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc có văn bản số 320/CV-NHNN 14 hớng dẫn
thực hiện một số nội dung trong quyết định của Thủ tớng Chính phủ và giao
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chịu trách nhiệm
chủ yếu tổ chức thực hiện. Ngày 17/01/2002 Chính phủ ra NĐ số 02 về việc
cho vay không cần tài sản đảm bảo đối với các hộ sản xuất nông, lâm, thuỷ
sản; Thống đốc NHNN ra thông t 03 ngày 24/03/2002 hớng dẫn cho vay theo
nghị định 02 của Chính phủ. Theo đó các hộ sản xuất trong lĩnh vực nông, lâm,
ng, diêm nghiệp khi vay vốn Ngân hàng dới 30 triệu sẽ không phải thế chấp tài
sản mà chỉ cần cam kết trả nợ và nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nếu
đất cha có chứng nhận quyền sử dụng thì chỉ cần xin xác nhận của chính
quyền xã là đất thổ c và không có tranh chấp. Việc bắt buộc các hộ gia đình
nộp chứng nhận quyền sử dụng đất nhằm tránh một hộ gia đình vay vốn ở
nhiều nơi, vay vốn chồng chéo. Đây là những quyết định mở đờng thuận lợi
hạn chế các tệ nạn xã hội ... qua đó củng cố tiềm lực an ninh quốc phòng tại
địa phơng.
Luận văn tốt nghiệp Lê Duy Khang NH41D - ĐH Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
24
Giải pháp mở rộng tín dụng phát triển kinh tế hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Hà Tây
Thứ t: Tín dụng Ngân hàng còn góp phần gìn giữ những tinh hoa văn
hoá của dân tộc trong các làng nghề truyền thống. Đó là những tinh hoa văn
hoá từ bao đời của cha ông ta trong cuộc sống thẩm mĩ đợc kết tinh trong
những sản phẩm truyền thống. Do thiếu vốn đầu t đổi mới trang thiết bị sản
xuất, nâng cao chất lợng sản phẩm mà nhiều làng nghề truyền thống đang dần
bị mai một. Do đó tín dụng Ngân hàng sẽ giúp các làng nghề truyền thống đợc
phục hồi và phát triển, góp phần to lớn vào việc gìn giữ và phát huy tinh hoa
văn hoá dân tộc.
3.2. Những nhân tố ảnh hởng đến mở rộng tín dụng đối với hộ sản xuất.
3.2.1.Nhóm nhân tố từ môi tr
3.2.1.Nhóm nhân tố từ môi tr
ờng kinh tế, pháp lý
ờng kinh tế, pháp lý
Chính sách của Đảng và Nhà n ớc :
Chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc về lĩnh vực nông nghiệp
nông thôn nói chung và kinh tế hộ sản xuất nói riêng có ảnh hởng rất lớn đến
việc mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng đối với hộ sản xuất. Đây là cơ sở,
là chiếc xơng sống để Ngân hàng có thể mạnh dạn hơn trong việc đầu t vốn
cho hộ sản xuất bởi vì nó tạo ra những cơ chế đặc biệt u đãi đối với các Ngân
hàng cũng nh khách hàng trong quan hệ tín dụng. Quyết định số 67/1999/QĐ-
TTg ngày30/3/1999 của Thủ tớng Chính phủ về một số chính sách tín dụng
Ngân hàng nhằm phát triển nông nghiệp và nông thôn; Văn bản số 320/CV-
NHNN 14 ngày 16/4/1999 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc về hớng dẫn
cho vay đối với các hộ theo tinh thần quyết định 67 của Chính phủ đã tạo ra
một cơ chế cực kì thuận lợi để các Ngân hàng có thể mở rộng tín dụng ở khu