Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh
chơng 1
Lý LUậN CHUNG Về BảO ĐảM TIềN VAY
TRONG CHO VAY CủA NGÂN HàNG THƯƠNG MạI
1.1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thơng mại.
1.1.1. Khái niệm và những hoạt động cơ bản của ngân hàng thơng mại.
1.1.1.1. Khái niệm.
Có rất nhiều quan điểm về ngân hàng thơng mại. Sau đây là khái niệm
đợc chấp nhận rộng rãi nhất:
Ngân hàng thơng mại là tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ mà
hoạt động chủ yếu và thờng xuyên của nó là nhận tiền gửi của khách hàng
với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cấp tín dụng và cung cấp
một số dịch vụ khác về ngân hàng cho khách hàng.
1.1.1.2. Những hoạt động cơ bản của ngân hàng th ơng mại.
Khái niệm trên đã chỉ ra những hoạt động cơ bản mà ngân hàng thơng
mại thực hiện. Đó chính là:
- Huy động vốn.
- Cho vay vốn.
- Cung cấp các dịch vụ khác về ngân hàng.
Huy động vốn có thể coi là hoạt động cơ bản đầu tiên của ngân hàng
thơng mại. Từ thuở sơ khai, ngân hàng chính là nơi để cho những ngời có l-
ợng tiền tạm thời nhàn rỗi gửi vào. Những đối tợng gửi tiền vào ngân hàng là
tất cả các cá nhân, các hộ gia đình, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội...
Họ gửi tiền vào dới các hình thức ký gửi nh mở tài khoản thanh toán, tài
khoản tiết kiệm... Qua thời gian, khi hoạt động của ngân hàng trở nên phong
phú hơn, ngân hàng không chỉ dừng lại ở chỗ chờ đợi những ngời này gửi
tiền mà còn dùng nhiều hình thức để chủ động thu hút vốn về mình. Ngoài
các biện pháp thông thờng để vay vốn ngân hàng còn phát hành trái phiếu, kỳ
Trang: - 1 -
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh
Trở lại với hoạt động cho vay của ngân hàng thơng mại, có thể nói
rằng cho dù có sự phát triển không ngừng của các hoạt động khác thì khi nói
đến ngân hàng thơng mại ngời ta không thể không nhắc tới hoạt động này.
Trớc hết bởi vì đây là hoạt động mang tính truyền thống của ngân hàng, sau
đó vì nó là hoạt động sử dụng vốn lớn nhất và mang lại phần lớn lợi nhuận
cho ngân hàng, là hoạt động mang tính sống còn, là lý do cơ bản để tồn tại
các ngân hàng thơng mại. Không thể có ngân hàng nào phát triển mà lại yếu
kém trong hoạt động cho vay.
Cho vay thực chất chính là việc ngân hàng chuyển quyền sử dụng một
khoản vốn cho một chủ thể khác dựa trên nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có
lãi.
Việc chuyển tiền cho chủ thể khác sử dụng là một hoạt động chứa
đựng nhiều rủi ro. Do đó để thực hiện đợc nguyên tắc hoàn trả, vấn đề bảo
đảm tiền vay đợc đặt ra trong cho vay của ngân hàng thơng mại và đây cũng
là cơ sở để nghiên cứu đề tài: Những vấn đề cơ bản về bảo đảm tiền vay
trong cho vay của ngân hàng thơng mại tại ngân hàng công thơng Thanh
Xuân.
1.2. bảo đảm tiền vay trong cho vay của ngân hàng
thơng mại.
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của bảo đảm tiền vay.
1.2.1.1. Khái niệm.
Theo quan điểm truyền thống, bảo đảm tiền vay là việc bảo vệ quyền
lợi của ngời cho vay dựa trên cơ sở thế chấp, cầm cố tài sản thuộc sở hữu của
ngời đi vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.
Nh vậy chỉ khi có tài sản cụ thể thì khoản cho vay mới đợc công nhận
là có bảo đảm, còn lại thì đợc coi là không có bảo đảm. Ta hãy phân tích
quan điểm này.
Trang: - 3 -
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh
Trang: - 4 -
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh
đảm tiền vay chính là phải thực hiện quá trình phân tích thẩm định một cách
mau lẹ và chính xác; sau đó phải thực hiện giải ngân đầy đủ, đúng hạn để bảo
đảm vốn đến đợc đúng vào lúc khách hàng cần. Điều này sẽ bảo đảm đợc
tính hiệu quả cho khách hàng trong việc sử dụng vốn và đó cũng chính là cơ
sở để khách hàng thu hồi đựơc vốn đem trả cho ngân hàng. Tất cả những điều
trên sẽ bảo đảm cho nguyên tắc hoàn trả không bị phá vỡ.
Với sự phân tích ở trên, có thể hiểu rằng bảo đảm tiền vay chính là
tất cả các biện pháp thực hiện để vốn cho vay ra phải quay về với ngân
hàng sau một thời gian xác định với đầy đủ cả gốc và lãi.
1.2.1.2. Đặc điểm.
Theo nh sự phân tích ở trên, chúng ta có thể khái quát một số đặc
điểm của bảo đảm tiền vay nh sau:
a) Bảo đảm tiền vay tồn tại trong mọi quan hệ tín dụng.
Không phải ngẫu nhiên mà ngân hàng trao cho khách hàng của mình
sử dụng tiền mà ngân hàng đã phải trả tiền để có đợc chỉ để nhận đợc một tờ
giấy chứng nhận. Tín dụng có một tính chất đặc biệt là vốn cho vay ra phải đ-
ợc hoàn trả trở lại. Do đó bất kỳ một khoản tín dụng nào mà ngân hàng cấp
cho khách hàng cũng cần có bảo đảm.
Tín dụng dựa trên lòng tin của một bên đối với bên kia về khả năng họ
sẽ hoàn trả số tiền nhận đợc cộng với số lãi nhất định đã thoả thuận. Lòng tin
này đợc xây dựng trên cơ sở khả năng tài chính và uy tín của mỗi bên. Có thể
không cần tài sản cầm cố hay thế chấp nhng tuyệt đối không thể thiếu đợc
lòng tin. Cả hai phía đối tác đều đòi hỏi bên kia về khả năng tài chính lành
mạnh, khả năng thực hiện đúng những điều khoản hợp đồng. Ngời cho vay
yêu cầu khoản tiền vay đợc sử dụng đúng mục đích, ngời đi vay lại yêu cầu
ngời cho vay cung cấp tiền đầy đủ, kịp thời. Chỉ khi bảo đảm đợc điều đó thì
quan hệ tín dụng mới tồn tại. Bởi vậy bảo đảm tiền vay tồn tại trong mọi
đảm thì ngân hàng phải thẩm định khách hàng một cách chặt chẽ hơn, nhờ đó
mà chất lợng tín dụng đợc nâng cao, khả năng thẩm định của cán bộ tín dụng
Trang: - 6 -
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh
cũng đợc cải thiện. Mặt khác những tài sản mà lẽ ra doanh nghiệp phải đem
bảo đảm sẽ đợc dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh để nâng cao hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp, tạo điều kiện tốt hơn để doanh nghiệp hoàn
trả vốn vay cho ngân hàng. Tất cả những điều trên sẽ làm cho mối quan hệ
giữa ngân hàng và khách hàng trở nên khăng khít hơn. Đây là một điều mà cả
ngân hàng và khách hàng cùng mong đợi.
Đối với những khoản vay mà ngân hàng đòi hỏi tài sản bảo đảm sẽ tạo
tâm lý mạnh dạn cho ngân hàng khi đa ra quyết định cho vay, nh vậy sẽ dẫn
đến kết quả là ngân hàng mở rộng tín dụng đối với nền kinh tế.
Cần phải nhắc lại rằng không một khoản tín dụng nào đợc ngân hàng
cấp mà lại không cần bảo đảm. Chỉ nh vậy thôi cũng đủ nói lên vai trò to lớn
của bảo đảm tiền vay trong quyết định cho vay của ngân hàng.
b) Đối với khách hàng.
Cũng theo nh sự phân tích ở trên, khách hàng muốn có đợc khoản vốn
từ ngân hàng thì chỉ có tạo ra sự bảo đảm cho chính khoản tiền mà mình cần.
Một số doanh nghiệp có khả năng phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu trên thị
trờng tài chính nhng trong điều kiện thị trờng tài chính cha phát triển nh ở n-
ớc ta hiện nay thì tín dụng ngân hàng vẫn là rất quan trọng, còn đối với
những doanh nghiệp cha có khả năng đó thí tín dụng ngân hàng đã trở thành
nguồn thiết yếu cho mở rộng sản xuất. Đấy là cha kể đến việc khi đợc ngân
hàng thẩm định thì đó sẽ là lần xét duyệt thứ hai cho dự án của khách hàng,
tạo thêm cơ sở cho sự thành công của dự án.
Đa phần khách hàng đều không mong muốn phải bảo đảm bằng tài
sản vì nh vậy sẽ bị ràng buộc vào khoản vay nhng chính sự ràng buộc này lại
tạo cho họ động lực để thực hiện tốt dự án và cái lợi đầu tiên và lớn nhất
dạng một loại tài sản vô hình. Nhng ở bài viết này, ngời viết đứng trên giác
độ một nhà ngân hàng, tức là chỉ những tài sản có thể trở thành nguồn thu nợ
Trang: - 8 -
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh
thứ hai cho ngân hàng trong trờng hợp khách hàng không trả hoặc không có
khả năng trả nợ mới đợc coi là tài sản bảo đảm cho khoản tiền vay.
1.2.3.1. Bảo đảm bằng tài sản.
Đây là hình thức mà trong đó ngân hàng (đóng vai trò là chủ nợ) đợc
thừa hởng một số quyền hạn nhất định đối với tài sản của bên bảo đảm nhằm
làm căn cứ để thu hồi nợ trong trờng hợp con nợ không trả hoặc không có
khả năng trả nợ. Trong trờng hợp này mối quan hệ bảo đảm giữa ngân hàng
và khách hàng là quan hệ thông qua tài sản bảo đảm. Thông qua mối quan hệ
này ngân hàng sẽ có quyền định đoạt đối với số tài sản đó.
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ - một lĩnh
vực chứa đựng rất nhiều rủi ro, do đó ngân hàng đợc pháp luật giao cho một
đặc quyền trong việc xử lý nợ đối với những tài sản bảo đảm trong trờng hợp
con nợ không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên điều này không có
nghĩa là đã bảo đảm chắc chắn cho khả năng thu nợ của ngân hàng mà còn
tuỳ thuộc vào khả năng của ngân hàng trong khi đánh giá giá trị của tài sản
bảo đảm theo sự biến động của thời gian cũng nh khả năng bảo đảm của
chúng. Đây chính là một khó khăn lớn đặt ra cho ngân hàng.
Chúng ta có thể chia hình thức bảo đảm bằng tài sản thành hai loại, đó
là: bảo đảm bằng chính tài sản của ngời đi vay và bảo đảm bằng tài sản của
ngời thứ ba (ngời bảo lãnh).
a) Bảo đảm bằng tài sản của chính ng ời đi vay.
* Cầm cố.
Cầm cố là hình thức theo đó ngời đi vay phải chuyển quyền kiểm soát
tài sản bảo đảm sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết (thờng là thời
hạn vay vốn).
Do giá trị của loại tài sản này thờng cao nên doanh nghiệp có thể vay ngân
hàng với quy mô lớn.
Bảo đảm bằng thế chấp cho phép ngời vay sử dụng tài sản bảo đảm
phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đó là một thuận lợi. Tuy nhiên,
quá trình sử dụng sẽ làm biến dạng tài sản, hơn nữa, do khả năng kiểm soát
Trang: - 10 -
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh
tài sản bảo đảm của ngân hàng bị hạn chế, khách hàng có thể lợi dụng phân
tán, làm giảm giá trị của tài sản, gây thiệt hại cho ngân hàng.
Khi cho vay dựa trên bảo đảm bằng thế chấp, ngân hàng phải xem xét
kỹ vật thế chấp. Trong hợp đồng thế chấp (ký cùng với hợp đồng vay vốn),
phải có phần mô tả vật thế chấp. Nh vậy, ngân hàng cần phải có (hoặc thuê)
các nhà chuyên môn đủ khả năng đánh giá tài sản bảo đảm. Nếu định giá quá
cao, quy mô tài trợ có thể lớn, có thể gây rủi ro cho ngân hàng. Ngợc lại, nếu
định giá quá thấp sẽ ảnh hởng đến khả năng vay của khách hàng. Sau khi
định giá, ngân hàng và khách hàng phải thoả thuận về nội quy sử dụng bảo
đảm, quyền của ngân hàng giám sát bảo đảm, phát mại bảo đảm khi khách
hàng vi phạm hợp đồng tài trợ.
b) Bảo đảm bằng tài sản của ng ời bảo lãnh.
Ngời thứ ba cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với ngân
hàng thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đợc. Đối với
những ngời bảo lãnh cha có uy tín, ngân hàng đòi hỏi phải có tài sản bảo đảm
cho bảo lãnh đó. Thực chất, việc phân chia tài sản bảo đảm theo mức độ trực
tiếp hay gián tiếp nh trên chỉ có ý nghĩa đối với khách hàng, còn đối với ngân
hàng thì dù đó là bảo đảm bằng tài sản của khách hàng hay của ngời bảo
lãnh, ngân hàng cũng có quyền nh nhau đối với tài sản này
trong trờng hợp khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.
* Hiện nay việc bảo đảm bằng tài sản còn có hình thức mới đó là
bảo đảm bằng tài sản đợc hình thành từ vốn vay, tức là khách hàng dùng
ời vay khi sử dụng vốn có thể vì thế mà giảm sút. Khi mà khách hàng không
có khả năng trả nợ thì ngân hàng sẽ không đủ cơ sở pháp lý để thu hồi tiền
cho vay. Chính vì sự bất lợi đó mà chủ yếu trong quan hệ tín dụng này ngân
hàng đòi hỏi phải là khách hàng lâu năm, tức là sự tin tởng lẫn nhau đã đạt
đến độ chín và yếu tố đạo đức trong bảo đảm tiền vay cũng đã đợc khẳng
định. Tuy nhiên, lật lại vấn đề chúng ta lại cần phải nói rằng, với bất cứ một
Trang: - 12 -
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh
phơng án xin vay nào thì câu hỏi đầu tiên mà ngân hàng đặt ra cho khách
hàng là vay để làm gì?. Do đó việc thẩm định dự án đầu t mặc dù không
thể thay thế cho mối quan hệ lâu năm giữa ngân hàng và khách hàng nhng lại
là yếu tố quyết định khi có một khoản vay của khách hàng, đặc biệt là trong
trờng hợp vay không có tài sản bảo đảm. Theo quan niệm thông thờng, uy tín
của khách hàng chỉ bao gồm: khách hàng có phải là khách hàng truyền thống
hay không, năng lực tài chính trong quá khứ và hiện tại có tốt không, quan hệ
vay vốn với ngân hàng từ trớc đến nay có tốt không. Đây đều là những yếu tố
thuộc về lịch sử. Với bài viết này ngời viết còn muốn đề cập đến cả những
yếu tố năng lực thuộc về hiện tại, tức là khả năng của khách hàng trong việc
lựa chọn cho mình một dự án hợp lý. Nói cách khác, năng lực của ngời vay
cũng đợc thể hiện ở việc họ lựa chọn dự án nh thế nào. Điều này có nghĩa
chúng ta coi thẩm định dự án chính là đánh giá lại năng lực thực sự của ngời
đi vay. Theo quan niệm này thì thẩm định dự án cũng là một yếu tố của bảo
đảm tiền vay. Do đó ở mục này vấn đề thẩm định dự án sẽ đợc đề cập nghiên
cứu. Song chúng ta cũng phải lu ý rằng, không chỉ cho vay bằng tín chấp mới
cần thẩm định mà mọi khoản vay đều cần phải đợc ngân hàng thẩm định một
cách chặt chẽ.
Thẩm định dự án:
Thẩm định dự án trong việc cho vay của ngân hàng thơng mại có vai
trò vô cùng quan trọng, có thể nói nó là yếu tố quyết định các khoản cho vay
hai bên sẽ phải hoàn thiện hồ sơ cho vay và các điều khoản cần thiết sẽ đợc
xác lập nh: giá trị tiền vay, thời hạn vay, hình thức hoàn trả, lãi suất và các
vấn đề về tài sản bảo đảm (nếu có).
Khách hàng khi đến với ngân hàng đều mong muốn vay đợc vốn và
ngân hàng cũng mong muốn mở rộng tín dụng cả về số lợng lẫn chất lợng.
Cả hai phía đều có những điều kiện và yêu cầu, hợp đồng tín dụng sẽ đợc
Trang: - 14 -
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh
thảo ra trên cơ sở sự hài hoà những điều kiện và yêu cầu đó. Để có đợc một
khoản cho vay có chất lợng khi đặt bút ký hợp đồng, ngân hàng phải chắc
chắn rằng đã không bỏ qua một yếu tố đáng ngờ nào và các điều khoản trong
hợp đồng đã đợc cân nhắc kỹ lỡng, mang lại lợi ích cho cả hai phía. Việc
thẩm định dự án sẽ xem xét việc khách hàng thu lại số vốn đầu t nh thế nào
và đó chính là cơ sở để ngân hàng có thể thu hồi vốn cho vay. Chất lợng công
tác thẩm định dự án tốt sẽ là sự bảo đảm đến 50% cho khả năng thu hồi vốn
của ngân hàng. Để khoản vay có thể đợc hoàn trả đúng thời hạn thì sau đó
còn một loạt vấn đề cần đợc xem xét tới nh: tài sản bảo đảm, quá trình sử
dụng tiền vay của khách hàng, đạo đức của ngời đi vay...
Nói tóm lại, thẩm định dự án đầu t là yếu tố cần thiết trong mọi quyết
định cho vay của ngân hàng.
b) Bảo đảm bằng uy tín của ng ời bảo lãnh.
Vấn đề bảo đảm bằng uy tín của ngời bảo lãnh và bằng tài sản của ng-
ời bảo lãnh đều thuộc về bảo lãnh của ngời thứ ba và đã đợc đề cập đến trong
phần trên. Chỉ có điều ở đây ngời bảo lãnh cũng chỉ dùng uy tín của mình để
bảo đảm, do đó cũng thiếu cơ sở pháp lý cho việc ngân hàng thu tiền nếu
khách hàng không trả nợ. Trên thực tế thì ngời có thể bảo lãnh bằng uy tín là
những ngời mà mọi ngân hàng đều có thể chấp nhận, ví dụ Chính phủ, các
Bộ... Đòi hỏi ở đây là ngời bảo lãnh cũng phải có quan hệ tín chấp với khách
hàng.
thì các khoản cho vay của ngân hàng sẽ có khả năng thu hồi rất cao, tức là sẽ
bảo đảm cho nguyên tắc hoàn trả trong cho vay của ngân hàng thơng mại.
Tất nhiên ở đây việc phân chia các nhân tố ảnh hởng theo từng loại
hình bảo đảm tiền vay chỉ mang tính tơng đối vì chính năng lực của ngân
hàng trong việc đánh giá khách hàng cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng
trong cho vay có tài sản bảo đảm.
1.2.4.2. Các quy định của pháp luật về bảo đảm tiền vay.
Trang: - 16 -
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh
Đối với các khoản cho vay có tài sản bảo đảm thì để tài sản bảo đảm
có thể thực sự trở thành bảo đảm cho khoản vay cần có sự hỗ trợ của pháp
luật. Chính các quy định của pháp luật liên quan đến bảo đảm tiền vay nh
quy định của Luật đất đai, Bộ Luật dân sự, quy định của Nghị định về bảo
đảm tiền vay, của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc sẽ tạo điều
kiện thuận lợi hoặc gây khó khăn cho cả tổ chức tín dụng và khách hàng
trong việc sử dụng tài sản bảo đảm cho khoản vay.
Một điểm cần lu ý cuối cùng chính là bảo đảm tiền vay không
đồng nghĩa với quy trình tín dụng. Quy trình tín dụng là các bớc mà cán bộ
tín dụng cần phải thực hiện khi cho vay còn bảo đảm tiền vay chính là các
biện pháp mà ngân hàng tiến hành nhằm thu hồi đúng thời hạn, đầy đủ cả
gốc và lãi số vốn đã cho vay.
chơng 2
THựC TRạNG BảO ĐảM TIềN VAY
tại CHI NHáNH NGÂN HàNG CÔNG THƯƠNG THANH XUÂN.
2.1. khái quát hoạt động của chi nhánh.
2.1.1. Vài nét về chi nhánh.
Tháng 4-1997, chi nhánh ngân hàng công thơng Thanh Xuân đợc
thành lập trên cơ sở nâng cấp phòng giao dịch Thợng Đình thuộc chi nhánh
ơng.
+ Thực hiện các hoạt động khác thuộc thẩm quyền.
2.1.2. Thực trạng hoạt động kinh doanh của chi nhánh.
Tổng kết tình hình hoạt động của chi nhánh
Trang: - 18 -
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh
Đến ngày 31/12.2002, kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh
nh sau:
- Tổng thu nhập 67.433 triệu đồng, tăng 7.227 triệu đồng so với cùng
kỳ năm trớc .
- Lợi nhuận 10.818 triệu đồng, tăng 3.298 triệu đồng so với năm
2001.
- Tiền lơng bình quân năm 2002: 1.352 ngàn đồng/ ngời.
- Thu nhập bình quân năm 2002: 1.548 ngàn đồng/ ngời.
Thực trạng các mặt hoạt động.
2.1.2.1. Hoạt động huy động vốn.
Bảng 1: Tình hình huy động vốn qua các năm.
(đơn vị: triệu
đồng)
Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Huy động vốn
- VNĐ
- Ngoại tệ
659.089
452.667
206.422
749.650
487.011
262.639
hàng đợc tăng lên rất nhiều so với các năm trớc.
Mức tăng trởng nguồn vốn huy động năm 2002 đã đạt và vợt chỉ tiêu
của NHCTVN giao. Cũng trong năm 2002 có thời kỳ lãi suất huy động của
NHCT thấp hơn so với lãi suất của một số ngân hàng khác nhng nguồn huy
động của chi nhánh vẫn tăng trởng ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu đầu t tín
dụng cho các doanh nghiệp. Tiếp tục mở rộng mạng lới huy động tiết kiệm
đến các địa bàn dân c trong quận Thanh Xuân. Năm 2001, chi nhánh đã khai
trơng 2 quỹ tiết kiệm (số 78 và 79), năm 2002 khai trơng thêm 3 quỹ tiết
kiệm (số 80, 81 và 82) đa tổng số quỹ tiết kiệm của chi nhánh lên 13 quỹ,
đáp ứng nhu cầu gửi tiền của nhân dân trong quận Thanh Xuân. Từng bớc
hiện đại hoá công nghệ, trong năm chi nhánh đã chuyển 3 quỹ tiết kiệm sang
giao dịch tức thời (số 31, 44, 47), rút ngắn thời gian giao dịch, chính xác
trong thanh toán, tạo niềm tin đối với khách hàng đến giao dịch; từng bớc cải
thiện công nghệ trong giao dịch, thực hiện văn minh trong hoạt động ngân
hàng. Có thể nói, trong công tác huy động vốn, mặc dù không tạo cho mình u
thế về mặt lãi suất huy động song do thờng xuyên coi trọng chất lợng dịch vụ
kết hợp tốt chính sách khách hàng nên nguồn vốn huy động của chi nhánh
tăng đều, đảm bảo cân đối vốn, tạo thế chủ động cho hoạt động kinh doanh.
Công tác quản lý tiền gửi dân c đợc chi nhánh thực hiện thờng xuyên,
nghiêm túc thông qua công tác kiểm tra dới nhiều hình thức. Qua đó đã khắc
Trang: - 20 -
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh
phục đợc những sai sót, đảm bảo an toàn tuyệt đối nguồn tiền gửi dân c và
các giấy tờ in quan trọng, nâng cao uy tín của NH đối với khách hàng.
2.1.2.2. Hoạt động kinh doanh đối ngoại.
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ năm 2002 gặp rất nhiều khó khăn:
nguồn ngoại tệ khan hiếm, tỷ giá các loại ngoại tệ, đặc biệt là đô la Mỹ thay
đổi với biên độ lớn, cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt. Do đó
mục tiêu kinh doanh ngoại tệ nhằm mục đích đa dạng hoá nghiệp vụ kinh
Với công nghệ hiện đại, phong cách giao dịch tận tình, trong năm
2002 số lợng khách hàng đến giao dịch và chuyển tiền tăng 426 khách hàng
so với năm 2001, khối lợng luân chuyển qua ngân hàng 21.643.145 triệu
đồng, tăng 3.384.333 triệu đồng so với năm 2001, tơng đơng 119.45%.
Công tác kế toán tài chính chấp hành tốt chế độ, pháp lệnh kế toán
quy định; đảm bảo kịp thời, chính xác, trung thực, việc ghi chép kế toán hợp
lệ, hợp pháp. Phối hợp với nghiệp vụ tín dụng thu nợ, thu lãi kịp thời, chính
xác. Thực hiện nghiêm túc các quy chế về quỹ, bảo đảm thanh toán và ký
quỹ bắt buộc, tiết kiệm chi tiêu theo nội dung và kế hoạch của ngân hàng cấp
trên.
Công tác quyết toán năm hoàn thành tốt, các báo biểu kế toán thực
hiện báo cáo về ngân hàng công thơng Việt Nam trớc giờ quy định. Phong
cách thái độ tiếp khách đợc chú trọng nâng cao, do đó lợng khách hàng về
giao dịch với chi nhánh tăng 156 tài khoản so với năm 2001.
Công tác thông tin điện toán đã triển khai kịp thời chế độ hạch toán
dự thu, dự trả từ tháng 3/ 2001, triển khai chơng trình mới báo cáo tức thời về
ngân hàng Nhà nớc, thực hiện chơng trình chuyển đổi 12 loại ngoại tệ về
đồng EUR. Đặc biệt đã có sự nghiên cứu phối hợp giữa các phòng Kế toán tài
chính Quản lý tiền gửi dân c Kinh doanh giúp khách hàng giao dịch
tiện lợi hơn.
Trang: - 22 -
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh
2.1.2.4. Hoạt động tín dụng.
Bảng 2: Tình hình sử dụng vốn qua các năm.
(đơn vị: triệu đồng)
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh ngân hàng công thơng T.Xuân)
Trang: - 23 -
Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Tổng các khoản đầu t, cho vay
151.650
511.057
662.707
24.020
638.687
1.034.9222
958.594
76.328
1.034.9222
3.589
80.649
950.684
257.594
693.090
950.684
72.515
878.169
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Thị Hạnh
Các khoản đầu t và cho vay năm 2002 đã đạt đợc mục tiêu tăng trởng
của ngân hàng công thơng Việt Nam, vừa đáp ứng đầy đủ kịp thời vốn phục
vụ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, vừa đáp ứng yêu cầu đặt ra của
ngân hàng, hoà chung bớc tiến của cả nền kinh tế trong công cuộc công
nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc.
Các khoản đầu t và cho vay năm 2002 tăng 284.273 triệu đồng so với
năm 2001, tơng đơng 161.85%.
Trong đó:
- Các khoản đầu t đạt 80.684 triệu đồng, chủ yếu là uỷ thác cho vay
đối với Công ty tài chính công nghiệp tàu thuỷ, một dịch vụ mới lần đầu tiên
đợc Ngân hàng Nhà nớc và ngân hàng công thơng Việt Nam cho phép chi
hàng mới thành lập đợc 5 năm nên phát sinh nợ khó đòi còn ít, song cần phải
nói ở đây chính là khả năng giải quyết rất tốt các khoản nợ khó đòi phát sinh
từ khi còn là phòng giao dịch Thợng Đình thuộc chi nhánh Đống Đa. Với kết
quả này, chi nhánh đã dần khẳng định vị thế, uy tín, chứng tỏ sức cạnh tranh
to lớn của mình trên thơng trờng.
Công tác điều hành vốn kinh doanh luôn đợc quan tâm, định mức tồn
tiền gửi tại ngân hàng Nhà nớc vừa đủ nhu cầu thanh toán cho khách hàng,
vừa đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn một cách triệt để, không để tình trạng thừa
hoặc thiếu vốn.
2.2. Thực trạng bảo đảm tiền vay tại chi nhánh ngân
hàng công thơng Thanh xuân.
2.2.1. Cơ sở pháp lý của bảo đảm tiền vay trong cho vay của chi nhánh.
Với đặc trng của một ngân hàng thơng mại, chi nhánh ngân hàng
công thơng Thanh Xuân cũng phải vận hành trong một môi trờng pháp lý
chặt chẽ do các cơ quan pháp quyền của Nhà nớc đặt ra. Mặc dù hệ thống
ngân hàng Việt Nam đợc hình thành từ khá lâu nhng pháp luật về bảo đảm
tiền vay vẫn còn khá trẻ. Điều này cũng đợc lý giải bởi đòi hỏi của từng giai
Trang: - 25 -