- 1 -
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Đặt vấn đề:
Giá trị hợp lý là một thuật ngữ mới trong lĩnh vực kế toán. Cơ sở tính giá này bắt
đầu được sử dụng rộng rãi từ những năm 1990 khi Ủy ban soạn thảo chuẩn mực kế
toán quốc tế nghiên cứu ban hành mới và sửa đổi các chuẩn mực kế toán như: công cụ
tài chính, thanh toán trên cơ sở cổ phiếu….
Bắt đầu từ năm 2005, Hội đồng Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) chính thức
triển khai Dự án xây dựng và ban hành hệ thống chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế
(IFRS) thay thế cho hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) hiện hành. Tháng
9/2010, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) công bố dự thảo và đến đầu tháng
5/2011 phát hành IFRS 13 (Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế số 13) – Đo lường giá
trị hợp lý (Fair Value Measurement) có hiệu lực từ 01/01/2013.
Trong khi đó ở Việt Nam giá gốc được quy định là nguyên tắc cơ bản, vai trò và
việc sử dụng giá trị hợp lý trong định giá còn mờ nhạt. Thực ra giá trị hợp lý ở Việt
Nam đã được đề cập đến từ hơn 10 năm nay và đầu tiên được định nghĩa trong Chuẩn
mực kế toán số 14 – Doanh thu và thu nhập: Là giá trị tài sản có thể trao đổi hoặc giá
trị một khoản nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết
trong sự trao đổi ngang giá. Trong kế toán Việt Nam, giá trị hợp lý được sử dụng chủ
yếu trong ghi nhận ban đầu: tài sản cố định, doanh thu, thu nhập khác và báo cáo các
khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ, xác định giá phí hợp nhất kinh doanh.
Về phương pháp xác định giá trị hợp lý ngoại trừ đoạn 24 của Chuẩn mực kế toán
số 4 – Tài sản cố định vô hình: Giá trị hợp lý có thể là: Giá niêm yết tại thị trường hoạt
động; Giá của nghiệp vụ mua bán TSCĐ vô hình tương tự. Thông tư 21/2006/TT-BTC
ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính có hướng dẫn việc xác định giá trị hợp lý trong xác
định giá phí hợp nhất kinh doanh đến nay chưa có hướng dẫn chính thức và thống nhất
- 2 -
nghiệp cung cấp được những thông tin trung thực và đáng tin cậy giúp các nhà đầu tư
có niềm tin khi ra quyết định, cũng như giúp kế toán có cách nhìn tổng quan trong việc
vận dụng giá trị hợp lý giữa Chuẩn mực kế toán quốc tế với Chuẩn mực kế toán Việt
Nam.
1.2 Tính cấp thiết của đề tài:
Vai trò báo cáo tài chính là cung cấp thông tin tài chính làm nền tảng cho việc ra
quyết định của nhà đầu tư, việc cung cấp thông tin đòi hỏi kế toán phải trình bày báo
cáo tài chính một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, và kết quả hoạt động
kinh doanh của đơn vị. Một trong những vấn đề quan trọng của công tác kế toán là
định giá nhằm xác định giá trị bằng tiền của các đối tượng kế toán để phục vụ cho việc
ghi chép và lập báo cáo tài chính. Lịch sử phát triển của kế toán và lý thuyết kế toán là
quá trình tìm kiếm không ngừng một hệ thống định giá tốt nhất để phản ánh tình hình
tài chính, trong quá trình phát triển đã có nhiều loại giá khác nhau được sử dụng, trong
đó giá trị hợp lý ngày càng đóng vai trò quan trọng với mục đích trình bày thông tin
trên báo cáo tài chính một cách trung thực và hợp lý hơn.
Là một khái niệm mới nhưng giá trị hợp lý đã được thừa nhận và áp dụng nhiều
nước trên thế giới cách đây rất lâu. Tại Việt Nam giá trị hợp lý cũng đã xuất hiện để
định giá các đối tượng kế toán. Tuy nhiên, do còn mới mẻ nên việc áp dụng chưa được
rộng rãi và chưa đạt được mục đích của giá trị hợp lý, cũng như chưa được quy định
một cách cụ thể, rõ ràng trong chuẩn mực kế toán Việt Nam. Với mục đích đưa kế toán
Việt Nam ngày càng tiệm cận với thông lệ kế toán quốc tế trong giai đoạn hội nhập, vì
vậy “Thực tiễn và giải pháp vận dụng giá trị hợp lý trong doanh nghiệp Việt Nam theo
Chuẩn mực kế toán quốc tế” là vấn đề cấp thiết hiện nay để giúp các doanh nghiệp:
- Cung cấp được những thông tin trung thực và đáng tin cậy giúp cho các nhà
đầu tư có niềm tin khi đưa ra quyết định.
- 4 -
- Làm rõ bản chất của giá trị hợp lý và khẳng định một công cụ định giá mới
phục vụ công tác kế toán Việt Nam.
- Mang đến sự tiếp cận ngày càng ngắn về định giá giữa Việt Nam và quốc tế
Phương pháp tổng hợp:
• Tổng hợp khái niệm định giá trong kế toán Việt Nam
• Tổng hợp quá trình hình thành và phát triển giá trị hợp lý trong kế toán
Việt Nam qua các thời kỳ.
Phương pháp phân tích và nội suy: Phân tích những vấn đề về sử dụng giá
trị hợp lý trong kế toán Việt Nam.
Phương pháp thu thập Thông tin thứ cấp và sơ cấp: Khảo sát và điều tra các
công ty cổ phần niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tp.HCM.
Phương pháp thống kê và kiểm định mô hình:
• Thống kê các số liệu khảo sát qua bảng câu hỏi.
• Kiểm định mô hình theo phần mềm SPSS
Nội dung 3: Đề xuất giải pháp nhằm áp dụng thước đo giá trị hợp lý của Chuẩn
mực kế toán Mỹ và kế toán Quốc tế vào các doanh nghiệp Việt Nam.
Phương pháp phân tích và nội suy:
• Quan điểm việc sử dụng giá trị hợp lý trong kế toán Việt Nam.
• Giải pháp vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán Việt Nam.
1.5 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi kế toán tài chính doanh nghiệp trên cơ
sở luật kế toán, chuẩn mực, chế độ kế toán, không đề cập đến kế toán quản trị cũng như
lĩnh vực kế toán khác.
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở số liệu điều tra các đối tượng doanh nghiệp trên
phạm vi Thành phố Hồ Chí Minh là các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng
khoán Tp.HCM.
- 6 -
1.6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu:
Luận văn góp phần:
- Hệ thống hóa về định giá trong kế toán, nêu lên bản chất và nội dung cơ bản
của giá trị hợp lý.
- Hệ thống hóa định giá trong kế toán Việt Nam, khái quát các yêu cầu về giá
Mục tiêu của đề tài: xây dựng mô hình và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc
vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán của các doanh nghiệp Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán
Tp.HCM.
Nghiên cứu thực hiện 2 giai đoạn: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định
lượng.
Bố cục luận văn gồm 5 chương: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu; Cơ sở lý luận về
giá trị hợp lý; Thực trạng giá trị hợp lý được áp dụng trong hệ thống kế toán doanh
nghiệp Việt Nam; Xây dựng mô hình giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp Việt
Nam; Một số giải pháp và kiến nghị để triển khai giá trị hợp lý trong kế toán doanh
nghiệp Việt Nam.
- 8 -
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ
2.1 Định giá trong kế toán:
2.1.1 Khái niệm định giá trong kế toán:
Định giá là một tiến trình xác định giá trị tiền tệ của các yếu tố báo cáo tài chính
được ghi nhận và trình bày trên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh
[19] hay định giá là xác định giá trị bằng tiền tệ cho các đối tượng hoặc sự kiện liên
quan đến doanh nghiệp. Định giá thường diễn ra thường xuyên trong hoạt động kinh tế
của doanh nghiệp như khi giao dịch, mua bán, sản xuất. Định giá là một công việc
ảnh hưởng rõ rệt đến định giá dựa trên khuôn mẫu lý thuyết của Ủy ban chuẩn mực kế
toán quốc tế (IASB framework) đưa ra hai giả định cơ bản (cơ sở dồn tích, hoạt động
liên tục) và bốn đặc điểm chất lượng (tính có thể hiểu được, tính thích hợp, tính có thể
so sánh được và tính đáng tin cậy).
Cơ sở dồn tích (Accrual Basis):
Nhằm cung cấp các thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng ra quyết định,
báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích.
Theo cơ sở dồn tích, ảnh hưởng của các nghiệp vụ kinh tế hay sự kiện khác được
ghi nhận khi chúng xảy ra. Một nghiệp vụ kinh tế phải được ghi nhận trong sổ sách kế
toán và trình bày trên các báo cáo tài chính vào các thời kỳ mà chúng có liên quan.
Hoạt động liên tục (Going concern):
Báo cáo tài chính được lập trên giả định rằng doanh nghiệp đang hoạt động và sẽ
không có ý định ngừng hoạt động trong một tương lai gần.
Giả định này ảnh hưởng quan trọng đến việc định giá. Nó là cơ sở cho phép giá
gốc được sử dụng để đánh giá và trình bày các yếu tố báo cáo tài chính. Nếu giả định
này bị vi phạm thì tài sản doanh nghiệp phải trình bày theo giá trị thuần có thể thực
hiện được.
- 10 -
Tính có thể hiểu được (Understandability):
Liên quan đến việc phân loại, diễn giải và trình bày một cách rõ ràng và súc tích.
Người đọc được yêu cầu phải có kiến thức hợp lý về hoạt động kinh doanh và kinh tế,
nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, có thể hiểu được. Một số trường hợp phức tạp, người
đọc có thể cần tư vấn để hiểu được. Các thông tin thích hợp không được loại trừ khỏi
báo cáo tài chính vì chúng quá phức tạp hoặc khó hiểu đối với một số người sử dụng
không có sự trợ giúp.
Tính thích hợp (Relevance):
nghiệp vụ giống nhau phải được đánh giá và trình bày một cách nhất quán trong toàn
doanh nghiệp, giữa các thời kỳ và giữa các doanh nghiệp. Việc thuyết minh là cần thiết
để đảm bảo tính so sánh được.
Đặc điểm này chính là lý do để thông tin được trình bày theo hình thức tiền tệ.
Không những thế, nó còn chi phối đến phương pháp định giá: các phương pháp định
giá khác nhau sẽ dẫn đến tình hình tài chính và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
khác nhau.
2.1.4 Các loại giá được sử dụng:
Quá trình phát triển các lý thuyết và thực tiễn hoạt động kế toán đã dẫn đến sự ra
đời nhiều loại giá khác nhau, theo hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS
– International Fianancial Reporting Standards) các loại giá được phân thành các loại
sau:
2.1.4.1 Giá đầu vào hay Chi phí đầu vào (Cost based):
Giá gốc (Historical cost): là số tiền hoặc các khoản tương đương tiền đã trả hay
giá trị hợp lý của tài sản tại thời điểm có được tài sản. Giá gốc còn được coi là giá phí
lịch sử, giá phí, giá thực tế.
Giá hiện hành (Curent cost) hay giá thay thế (Replacement cost): là số tiền hoặc
các khoản tương đương tiền sẽ phải trả để có được tài sản tương tự tại thời điểm hiện
tại. Giá thay thế được ước tính dựa vào giá thị trường, hoặc chỉ số giá đặc biệt, hoặc sự
ước lượng của nhà quản lý.
- 12 -
2.1.4.2 Giá đầu ra (Value based):
Giá trị thuần có thể thực hiện (Net realizable value): là số tiền hoặc tương đương
tiền thuần sẽ thu được khi bán tài sản hoặc sẽ phải trả để thanh toán nợ hiện tại. Giá trị
thuần có thể thực hiện là giá bán ước tính trong điều kiện kinh doanh bình thường trừ
chi phí ước tính cho việc hoàn thành và tiêu thụ.
Hiện giá (Present value): là giá trị hiện tại chiết khấu của các khoản tiền thuần
đồng nghĩa với tài sản thuần hoặc vốn chủ sở hữu.
Theo khái niệm vật chất vốn như là năng lực hoạt động, năng lực sản xuất của
một doanh nghiệp.
Khái niệm bảo toàn vốn:
Khái niệm bảo toàn vốn tài chính: lợi nhuận phần vượt của giá trị tài sản thuần
cuối kỳ so với đầu kỳ sau khi loại trừ ảnh hưởng của các khoản góp vốn hoặc chia lãi
cho cổ đông. Theo IASB framework có hai phương án để xác định bảo tồn vốn tài
chính:
- Theo định nghĩa tiền tệ danh nghĩa: lợi nhuận là khoản gia tăng vốn danh
nghĩa trong kỳ. Khoản gia tăng về giá cả của tài sản hiện có trong kỳ là lợi nhuận, tuy
nhiên chúng chưa được ghi nhận cho đến khi tài sản đó được bán hoặc trao đổi.
- Theo đơn vị sức mua ổn định: lợi nhuận là khoản gia tăng sức mua của vốn
trong kỳ. Khoản gia tăng giá cả của tài sản vượt phần tăng của sức mua chung thì được
coi là lợi nhuận.
Khái niệm bảo tồn vật chất: lợi nhuận là phần vượt của năng lực sản xuất vật chất
cuối kỳ so với đầu kỳ khi trừ đi khoản góp vốn và chia lãi cho các cổ đông. Khái niệm
bảo toàn vốn về mặt vật chất yêu cầu báo cáo dựa trên cơ sở giá hiện hành.
2.1.5.2 Các hệ thống định giá kế toán:
Kế toán giá gốc (Historical cost accounting): dựa trên giá mua vào quá khứ để
ghi nhận các giao dịch và lập báo cáo tài chính. Hệ thống này sử dụng giá gốc là chủ
yếu và kết hợp với các loại giá khác: giá trị hợp lý, giá trị thuần có thể thực hiện, hiện
giá.
- 14 -
Kế toán theo mức giá chung (General price-level accounting): dựa trên chỉ số giá
để điều chỉnh báo cáo tài chính nhằm loại trừ ảnh hưởng của biến động giá, đặc biệt là
lạm phát.
Kế toán giá hiện hành (Current cost accounting): dựa trên giá hiện hành hay còn
triển các hoạt động giao dịch và đầu tư đã bộc lộ những hạn chế của giá gốc, nhất là
trong giai đoạn nền kinh tế thế giới chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của lạm phát. Bên
cạnh đó, các lý thuyết quy chuẩn đã thấy được những vấn đề trong nền tảng lý thuyết
của giá gốc trong việc phản ánh lợi nhuận và tình hình tài chính của doanh nghiệp dưới
các góc độ khác nhau:
Mục đích kế toán:
Trong khi những người bảo vệ giá gốc nhấn mạnh đến việc sử dụng giá gốc giúp
đánh giá trách nhiệm giải trình, các lập luận phê phán cho rằng để đạt được mục tiêu
này không nhất thiết phải phản ánh các giao dịch dựa trên quá khứ (giá gốc). Trái lại,
việc phản ánh theo giá hiện hành sẽ cung cấp thông tin hữu ích hơn. Bởi các nhà đầu tư
cần biết là các nhà quản lý có làm cho giá trị khoản đầu tư của họ tăng trưởng hay
không.
Lợi nhuận:
Lợi nhuận kế toán tính theo giá gốc bị phê phán về ý nghĩa kinh tế của nó, đặc
biệt là với doanh nghiệp sản xuất. Theo kinh tế học, chi phí dùng để tính ra lợi nhuận là
chi phí cơ hội, nghĩa là cái phải hy sinh để dùng vào sản xuất thay vì bán ra vào thời
điểm sử dụng. Khi đó, giá gốc sẽ không phù hợp.
Các giả định cơ bản của giá gốc:
Các giả định làm nền tảng cho giá gốc bị phê phán là phi hiện thực. Ngoài giả
định đơn vị tiền tệ luôn bị thách thức vì lạm phát, giả định về tính hoạt động liên tục
cũng bị nghi ngờ. Sterling lập luận: “tỷ lệ phá sản cao của các doanh nghiệp cho thấy
khó có cơ sở bảo vệ cho dự đoán về tính hoạt động liên tục. Không có công ty nào tồn
- 16 - tại một thời gian vô định trong tương lai. Tất cả các công ty đều đã phá sản, trừ các
công ty tồn tại tại thời điểm hiện tại. Do đó, có lẽ giả định về sự chấm đứt hoạt động thì
hợp lý hơn giả định về tính hoạt động liên tục” [14].
Nguyên tắc phù hợp:
Nguyên tắc phù hợp là nguyên tắc cơ bản trong hệ thống giá gốc phục vụ cho
Đến năm 1970: giá trị hợp lý chính thức xuất hiện được đề cập trong Ý kiến của
Ủy ban nguyên tắc số 16 và 17 ghi nhận lợi thế thương mại và giá trị của tài sản hợp
nhất:
APB Opinion 16 – Hợp nhất doanh nghiệp “Tất cả tài sản, nợ phải trả có được
trong hợp nhất doanh nghiệp nên được ghi nhận tại giá trị hợp lý của chúng tại ngày
mua”
APB Opinion 17 - Tài sản vô hình “Sự khác nhau giữa giá trị hợp lý và chi phí sẽ
được coi như lợi thế thương mại”
Sau khi xuất hiện, giá trị hợp lý tiếp tục được thừa nhận và phạm vi sử dụng của
giá trị hợp lý dần dần được mở rộng. Giá trị hợp lý bắt đầu nhận được sự quan tâm và
áp dụng của nhiều nước cũng như Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) được sử
dụng trong nhiều lĩnh vực: ngân hàng, viễn thông … và cũng xuất hiện những hướng
dẫn hạn chế về cách xác định và trình bày giá trị hợp lý trên báo cáo tài chính.
Năm 1982: văn bản đầu tiên của hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) đề
cập đến định nghĩa giá trị hợp lý là chuẩn mực kế toán quốc tế số 16 “Bất động sản,
Nhà xưởng và Máy móc thiết bị” (IAS 16) đã được ban hành. Theo chuẩn mực kế toán
này, “giá trị hợp lý là giá trị tài sản có thể đem trao đổi giữa các bên có thể hiểu biết,
thiện chí trong một giao dịch trao đổi ngang giá”.
Định nghĩa giá trị hợp lý được bổ sung trong chuẩn mực kế toán quốc tế số 17
“Thuê tài sản” (IAS 17) ban hành năm 1982. Theo chuẩn mực kế toán này, “giá trị hợp
lý là giá trị tài sản có thể đem trao đổi, hay nợ phải trả được thanh toán giữa các bên có
- 18 - hiểu biết, có thiện chí trong một giao dịch trao đổi ngang giá”. IAS 17 đề cập đến giá
trị hợp lý của cả tài sản và nợ phải trả.
Giai đoạn từ 1991 đến nay: Giá trị hợp lý phát triển mạnh mẽ được khẳng định
qua 2 giai đoạn:
Từ năm 1991 – 2000: được đánh dấu bằng hàng loạt chuẩn mực của Mỹ: FASB
Statement 107 (1991) - giá trị hợp lý của công cụ tài chính, FASB Statement 104 – hợp
đã thống kê có 17 chuẩn mực yêu cầu áp dụng giá trị hợp lý trong một số trường hợp
cụ thể, 8 chuẩn mực yêu cầu giá trị hợp lý Thông qua tham gia chiếu đến một chuẩn
mực khác và 13 chuẩn mực không yêu cầu giá trị hợp lý [19].
Bảng 2.2: Các chuẩn mực kế toán quốc tế yêu cầu áp dụng giá trị hợp lý
STT Chuẩn mực kế toán quốc tế
1 IAS 11 “Hợp đồng xây dựng”
2 IAS16 “Tài sản cố định hữu hình”
3 IAS 17 “Thuê tài sản”
4 IAS 18 “Doanh thu”
5 IAS 19 “Phúc lợi lao động”
6
IAS 20 “Kế toán các khoản trợ cấp của chính phủ và trình bày các khoản
hỗ trợ chính phủ”
7 IAS 26 “Kế toán và báo cáo quỹ hưu trí”
8 IAS 33 “Lãi trên cổ phiếu”
9 IAS 36 “Tổn thất tài sản”
10 IAS 38 “Tài sản cố định vô hình”
11 IAS 39 “Ghi nhận và đánh giá công cụ tài chính”
12 IAS 40 “Bất động sản đầu tư”
13 IAS 41 “Nông nghiệp”
- 20 - 14
IFRS 1 “Lần đầu áp dụng các chuẩn mực quốc tế về trình bày báo cáo
tài chính”
15 IFRS 2 “Thanh toán trên cơ sở cổ phiếu”
16 IFRS 3 “Hợp nhất kinh doanh”
17 IFRS 5 “Tài sản dài hạn giữ để bán và hoạt động không liên tục”
Bảng 2.3: Các chuẩn mực yêu cầu giá trị hợp lý tham chiếu đến một chuẩn mực khác
Thị trường chính (hay có nhiều thuận lợi):
Đo lường giá trị hợp lý giả sử rằng giao dịch để bán tài sản hay thanh toán nợ
phải trả diễn ra trên thị trường chính của tài sản hay nợ phải trả, trong trường hợp
không có thị trường chính thì thị trường mà có nhiều thuận lợi đối với tài sản hay nợ
phải trả. Thị trường chính là thị trường mà ở đó doanh nghiệp báo cáo có thể bán được
tài sản hay thanh toán nợ phải trả với giá trị lớn nhất và mức độ linh hoạt của tài sản và
nợ phải trả lớn nhất. Thị trường với nhiều thuận lợi là thị trường mà ở đó đơn vị báo
cáo sẽ bán được tài sản với giá tối đa mà có thể nhận được từ tài sản và giá trị tối thiểu
sẽ phải thanh toán cho khoản nợ phải trả khi xem xét chi phí giao dịch trong các thị
trường tương ứng.
Trong quá trình xác định giá trị hợp lý cần phải tham khảo những thông tin và
những dữ liệu lấy được từ thị trường:
Thị trường hối đoái (exchange market): thị trường này cung cấp sự rõ ràng
và minh bạch để trao đổi công cụ tài chính. Trên thị trường này thì giá thực hiện giao
dịch được xác định dễ dàng và thường xuyên.
Thị trường bán buôn (dealer market): thị trường này người mua sử dụng
vốn để giữ hàng tồn kho nào đó và sau đó bán lại, giá trả và giá chào có được dể dàng
và thường xuyên hơn.
Thị trường môi giới (brokered market): thị trường này những người môi
giới không sử dụng vốn của họ để giữ tài sản, hàng hóa mà chỉ cố gắng kết hợp người
mua và người bán với giá giao dịch đã thực hiện thường có sẵn.
- 22 - Thị trường trực tiếp (principal - to principal market): là những nơi giao dịch
trực tiếp, thỏa thuận độc lập không qua trung gian với thông tin ít công khai.
2.2.2 Các phương pháp định giá:
Các kỹ thuật định giá bao gồm phương pháp thị trường, phương pháp thu nhập
hay phương pháp chi phí được sử dụng để đo lường giá trị hợp lý.
2.2.2.1 Phương pháp thị trường: 2.2.3 Vai trò của giá trị hợp lý trong chuẩn mực kế toán quốc tế:
Giá trị hợp lý khi sử dụng trong hệ thống IFRS được xem xét trong các trường
hợp sau:
2.2.3.1 Giá trị hợp lý là cơ sở đo lường các nghiệp vụ phát sinh ban đầu:
Khuôn mẫu lý thuyết của IASB không đề cập đến giá trị hợp lý như một cơ sở đo
lường sử dụng trong việc xác định các yếu tố báo cáo tài chính mà chỉ đề cập đến việc
có thể sử dụng giá trị hợp lý để xác định giá gốc.
Bảng 2.4: Sử dụng giá trị hợp lý trong đo lường các nghiệp vụ phát sinh ban đầu [4]
STT Chuẩn mực
Nội dung
1 IAS 16
Ghi nhận nhà xưởng, máy móc, thiết bị trong nghiệp vụ trao đổi
với các tài sản khác.
Hình
2
.1
:
Sơ đồ phương pháp xác định giá tr
ị
h
ợ
p lý
Ước tính
Ước tính
cấp độ
3
Phương pháp tiếp
cận thị trường
Phương pháp tiếp
cận thu nhập
Phương pháp tiếp
cận chi phí
Lựa chọn kết
quả đáng tin
cậy nhất phù
hợp với tiền
đề định giá
- 24 - 2 IAS 17
Bên đi thuê ghi nhận ban đầu tài sản thuê tài chính theo giá trị
hợp lý (trừ khi giá trị hợp lý cao hơn hiện giá và khoản thanh
toán tiền thuê tối thiểu)
3 IAS 18 Ghi nhận doanh thu
4 IAS 20 Ghi nhận nghiệp vụ nhận tài sản từ nhà nước
5 IAS 38
Ghi nhận tài sản cố định vô hình trong nghiệp vụ trao đổi với
các tài sản khác
5 IAS 28 Các khoản đầu tư vào công ty liên kết
6 IAS 31 Các khoản đầu tư vào các đơn vị đồng kiểm soát
7 IAS 38 Đo lường tài sản cố định vô hình
8 IAS 39 Đo lường tài sản và nợ tài chính
9 IAS 40 Đo lường bất động sản đầu tư
10 IAS 41 Đo lường tài sản sinh học và sản phẩm thu được từ nông nghiệp
2.2.3.4 Giá trị hợp lý sử dụng trong đánh giá sự suy giảm giá trị tài sản:
Giá trị hợp lý được sử dụng để thử nghiệm phải chăng một tài sản đang giảm giá
trị và cần ghi nhận sự giảm giá trị tài sản. Theo IAS 36 “Tổn thất tài sản”, dấu hiệu cho
thấy tài sản đang giảm giá trị là khi giá trị có thể thu hồi của tài sản thấp hơn giá trị còn
lại của tài sản thể hiện trên báo cáo tài chính tại thời điểm cuối niên độ. Giá trị có thể
thu hồi của một tài sản hay được xác định là giá trị lớn hơn giữa giá trị hợp lý sau khi
trừ đi chi phí cần thiết để bán tài sản và giá trị sử dụng của tài sản. Đây được xem như
sự áp dụng giá trị hợp lý trong việc xác định sự giảm giá trị tài sản. Các khoản chênh
lệch phát sinh do sự thay đổi giá trị hợp lý giữa các thời điểm báo cáo có thể được xử
lý theo các phương án:
Ghi nhận là thu nhập, chi phí trong báo cáo lãi lỗ.
Ghi nhận điều chỉnh chỉ tiêu thuộc nguồn vốn chủ sở hữu trên Bảng cân đối
kế toán.
Ngoài ra các khoản chênh lệch giá đánh giá lại được tính trên cơ sở giá trị hợp lý
(áp dụng với nhà xưởng, máy móc thiết bị, tài sản vô hình) được xử lý theo nguyên tắc:
Chênh lệch giá trị đánh giá lại của tài sản giảm (do giá trị hợp lý giảm) được
ghi nhận là chi phí trên báo cáo lãi, lỗ hoặc ghi giảm vốn chủ sở hữu nếu trước đó có
phát sinh chênh lệch giá đánh giá lại tăng đã được ghi nhận vào vốn chủ sở hữu.