Đề tài “ Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững ngành nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam” pot - Pdf 11

Chuyên đề tốt nghiệp

“ Thực trạng và giải pháp phát
triển bền vững ngành nuôi trồng
thuỷ sản Việt Nam”
GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Sơn
SVTT: Nguyễn Thị Tuyết
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
LỜI MỞ ĐẦU
Thủy sản Việt nam trong hơn 10 năm qua đã có những bước phát triển vượt
bậc, trở thành một trong những nước có tốc độ phát triển thủy sản nhanh trên thế giới.
Trong đó, ngành nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam được coi là tiến bộ nhanh nhất, bất
chấp sự khởi đầu muộn và hiện chiếm khoảng 1/3 tổng sản lượng thuỷ sản của cả
nước, góp phần quan trọng trong việc nâng cao sản lượng và giá trị xuất khẩu và tạo
công ăn việc làm cho nhiều người dân, đặc biệt là vùng dân nghèo ven biển, vùng sâu
vùng xa, hải đảo…Từ đó tiến tới sụ ổn định các mặt của xã hội. NTTS đang ngày
càng chiếm vị trí quan trọng trong các hoạt động kinh tế thế giới, và thể hiện vai trò
quan trọng của mình trong nền kinh tế -xã hội nhất là với một nước nghèo đi lên từ
nền sản xuất nông nghiệp như Việt Nam. Việc phát triển mạnh mẽ NTTS thay thế cho
khai thác hải sản đã phần nào giảm áp lực khai thác quá mức đối với vùng biển Việt
Nam, tiến tới bảo tồn nguồn tài nguyên biển tự nhiên của đất nước.
Tuy nhiên, ngành nuôi trồng thủy sản vẫn còn không ít những bất cập và phải
đối mặt với hàng loạt thách thức như: công tác quy hoạch chưa không theo kịp với
tốc độ phát triển, đầu tư còn dàn trải, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, hàm lượng khoa học

+ Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam.
+ Đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam trong
thời gian tới.
- Nhiệm vụ:
+ Lựa chọn những vấn đề lý luận và thực tiễn hiện nay liên quan đến vấn đề
nghiên cứu.
+ Phân tích, đánh giá tình hình nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam.
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam.
2. Phạm vi nghiên cứu đề tài.
Tình hình nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, nước ngọt, nước lợ ở Việt Nam giai
đoạn từ năm 2000 đến nay.
Đánh giá hoạt động nuôi trồng thuỷ sản từ đó rút ra vấn đề cần giải quyết.
3. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu.
- Quan điểm: phát triển bền vững ngành NTTS.
- Phương pháp nghiên cứu: trên cơ sở thu thập được những số liệu thực tế của
ngành NTTS những năm qua, bài viết của em tiến hành phân tích những kết quả đạt
được, so sánh đối chiếu với những nguyên tắc, mục tiêu về sự phát triển bền vững, từ
đó đánh giá sự phát triển của ngành NTTS đã đạt tiêu chuẩn hay chưa, còn những tồn
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
tại, bất cập gì để từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm khắc phục và phát trỉên
hơn nữa ngành NTTS Việt Nam.
4. Kết cấu đề tài:
Phần I: Cơ sở lý luận về vấn đề phát triển bền vững ngành NTTS.
Phần II: Thực trạng phát triển bền vững nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam giai
đoạn từ năm 2000 đến nay.
Phần III: Giải pháp phát triển bền vững nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2020.
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Lớp: Kinh tế phát triển 47A
Ở đâu có nước là ở đó có nuôi trồng thủy sản.Vì vậy, nuôi trồng thủy sản phát
triển rộng khắp tại mọi vùng địa lý từ miền núi xuống miền biển. Thủy sản nuôi rất đa
dạng, nhiều giống loài mang tính địa lý rõ rệt, có quy luật riêng của từng khu hệ sinh
thái điển hình. Do vậy, công tác quản lý và chỉ đạo sản xuất của ngành cần chú ý đến
các vấn đề như: xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch,
triển khai thực hiện các chính sách… phải phù hợp với từng khu vực lãnh thổ hay
từng vùng khác nhau.
2.2. Số lượng, chất lượng nguồn nước và nguồn lợi thủy sản rất khác nhau.
Mỗi mặt nước nuôi trồng thủy sản có độ màu mỡ khác nhau phụ thuộc vào thổ
nhưỡng vùng đất và nguồn nước, nguồn cung cấp. Vật nuôi trong ao hồ rất khó quan
sát trực tiếp được như trên cạn vì thế rủi ro trong sản xuất lớn hơn nhiều. Người nuôi
cần có kinh nghiệm và kiến thức kỹ thuật cần thiết về vấn đề thuỷ lợi, bởi vì thuỷ lợi
như chìa khoá để mở ra cánh cửa cho người làm thuỷ sản có thể đạt được những thành
tựu to lớn.
2.3. Hoạt động nuôi trồng thủy sản có tính mùa vụ rõ nét.
Nuôi trồng thủy sản mang tính mùa vụ vì thủy sản có quy luật sinh trưởng và
phát triển riêng. Theo Lenin, tính mùa vụ thể hiện ở chỗ thời gian lao động không ăn
khớp với thời gian sản xuất. Thời gian lao động là thời gian tác động tới sự hình thành
của sản phẩm, còn thời gian sản xuất kéo dài hơn vì bao gồm cả thời gian lao động
không tác động đến sản phẩm.
Ví dụ : thời gian sản xuất kéo dài từ A đến B, nhưng thời gian lao động chỉ
bao gồm: thời gian cải tạo ao (phơi đáy ao 2 tuần lễ), thả giống, chăm sóc (cho ăn 2
lần/ ngày), thu hoạch. Như vậy, rõ ràng người nuôi phải tuân theo quy luật sinh
trưởng và phát triển của thuỷ sản.
A B

Cải tạo Thả giống Chăm sóc Thu hoạch
Trong NTTS phải lưu giữ và chăm sóc đặc biệt đối với đàn vật nuôi bố mẹ
(đàn cá bố mẹ, tôm bố mẹ…) để sản xuất con giống cho các vụ nuôi tiếp theo. Đây là

- Nuôi quảng canh cải tiến: là hình thức nuôi chủ yếu bằng nguồn giống và
thức ăn tự nhiên, nhưng bổ sung them giống nhân tạo ở mức độ nhất định, đồng thời
có đầu tư cải tạo thủy vực nhằm tăng sản lượng.
- Nuôi bán thâm canh: : là hình thức nuôi chủ yếu bằng giống nhân tạo và thức
ăn nhân tạo, nhưng kết hợp nguồn thức ăn tự nhiên trong thủy vực. Ngoài ra, hệ thống
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
hồ ao nuôi còn được đầu tư cơ sở hạ tầng như điện, thiết bị cơ khí, thủy lợi…nhất là
chủ động về nguồn nước cung cấp. Có khả năng xử lý và khống chế môi trường bằng
hệ thống máy bơm sục khí.
- Nuôi thâm canh: : là hình thức nuôi hoàn toàn bằng con giống và thức ăn
nhân tạo, được đầu tư cơ sở hạ tầng đầy đủ (quy hoạch hệ thống ao hồ, thủy lợi, giao
thông, điện nước, cơ khí ), có thể chủ động khống chế các yếu tố môi trường. Mật độ
giống thả dầy, năng suất cao.
- Nuôi công nghiệp: (nuôi siêu thâm canh) là hình thức nuôi hoàn toàn bằng
con giống và thức ăn nhân tạo với mật độ rất cao. Sử dụng các máy móc và thiết bị
nhằm tạo cho vật nuôi một môi trường sinh thái và các điều kiện tối ưu, sinh trưởng
tốt nhất, không phụ thuộc vào thời tiết và mùa vụ, trong thời gian ngắn nhất đạt các
mục tiêu sản xuất và lợi nhuận. Một số nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Đức,
Nhật…có trình độ nuôi thủy sản công nghiệp tương đối cao và phổ biến, mỗi năm đạt
tời hàng ngàn tấn sản phẩm.
3.2. Các hình thức nuôi năng suất cao ở Việt Nam.
Các hình thức nuôi năng suất cao ở Việt Nam.
Tại Việt Nam trong hơn 40 năm qua từng bước hình thành và phát triển các
hình thức nuôi trồng thủy sản năng suất cao, đa dạng về giống loài và các loại thủy
vực.
3.2.1. Nuôi cá nước ngọt ở các loại hình mặt nước.
- Nuôi cá nước tĩnh: để đạt năng suất cao, người ta thường nuôi ghép nhiều
loại có tập tính ăn khác nhau. Trong ao nuôi truyền thống, nuôi ghép: mè, trôi ta, trắm
đen, chép. Sau này nuôi trồng thủy sản phát triển người ta đưa ra một vài công thức

nước ta và các nước Đông Nam Ấ. Hiện nay, có các loại hình nuôi cá ruộng phổ biến
là xen canh và luân canh. Ở các tỉnh phía Bắc kết hợp trồng lúa – nuôi cá ở các chân
ruộng trũng hoặc luân canh một vụ lúa, một vụ cá. Đối tượng nuôi chủ yếu là cá chéo,
rô phi, các ruộng nuôi cá phải được quy hoạch, có bờ vùng, bờ thửa. Bờ phải cao hơn
mức nước cao nhất hàng năm là 0.5m. Mặt bờ rộng 0.7- 0.8m để có thể trồng cây ăn
quả và lấy bong râm. Trong ruộng phải có mương, chuôm cho cá trú nắng khi nhiệt
độ cao. Tại nhiều tỉnh miền Tây Nam Bộ như Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Kiên
Giang…nuôi xen canh lúa – cá, lúa –tôm nước mặn hoặc nuôi luân canh một vụ lúa,
một vụ tôm. Ở nước ta hiện nay có những vùng ruộng trũng rộng lớn, tập trung mang
ý nghĩa kinh tế - sinh thái quan trọng cho sự phát triển lâu dài và bền vững.
3.2.2. Nuôi cá nước lợ và cá biển.
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
Nuôi cá nước lợ và cá biển phát triển rất chậm, mới được tập trung chủ đạo
vào cuối những năm cuối thế kỷ 20. Nuôi cá nước lợ có hiệu quả kinh tế khá cao, tỷ
suất lợi nhuận đạt 60 - 90%. Hình thức nuôi phổ biến trong đầm, eo vịnh và lồng bè.
Hiện nay, các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Bà Rịa –Vũng Tàu đã có nghề
nuôi phát triển ổn định.
3.2.3. Nuôi tôm và các thủy sản khác.
Giống như các hình thức nuôi cá nước ngọt
Nuôi tôm nước ngọt có tôm càng xanh, chủ động được giống bằng cho đẻ
nhân tạo thành công. Chủ yếu phát triển mạnh nuôi tôm sú nước lợ và một số loài tôm
khác như tôm rảo, tôm thẻ. Kết quả nuôi tôm sú cho hiệu quả kinh tế cao ở nhiều tỉnh.
Năng suất ở một số địa phương như sau :
Nuôi tôm thâm canh: đạt từ 2.5-5 tấn/ ha (Quảng Nam – Đà Nẵng, Bến Tre,
Bạc Liêu)
Nuôi tôm bán thâm canh: đạt từ 1.2 -2.5 tấn/ha (Phú Yên, Bình Thuận, Thừa
Thiên Huế).
Nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến, luân canh: đạt từ 0.6 – 0.87 tấn/ha.
4. Vai trò của ngành nuôi trồng thuỷ sản.

tấn, trong đó khoảng 40% dành cho công nghiệp chế biến xuất khẩu. Đến năm 2005,
nhu cầu nguyên liệu cho chế biến thủy sản là 2.030.000 tấn và năm 2010 là 2.650.000
tấn. Để đáp ứng đủ nhu cầu, ngành Thủy sản phải chủ động được nguồn nguyên liệu.
Bởi nguyên liệu là khâu rất quan trọng trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh
thủy sản. Có một nguồn nguyên liệu ổn định, giá cả có sức cạnh tranh thì ngành công
nghiệp chế biến thủy sản mới có cơ hội phát triển.
Trong xu thế ngày càng hạn chế khai thác thủy sản nhằm bảo vệ môi trường
như hiện nay thì NTTS đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp nguyên liệu cho chế
biến xuất khẩu. Việc cung cấp từ NTTS cũng đảm bảo ổn định và phù hợp với nhu
cầu của thế giới nhờ thực hiện tốt công tác khuyến ngư và phát triển giống mới.
Nuôi trồng thủy sản đã tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho công nghiệp chế
biến, nhất là chế biến xuất khẩu và đã đóng góp phần quan trọng vào việc tăng kim
ngạch xuất khẩu thủy sản. Trong cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu thủy sản Việt Nam,
tôm chiếm tỉ trọng giá trị kim ngạch xuất khẩu là 43,7% (năm 2001), 46,9% (năm
2002), trong đó tôm nuôi chiếm phần lớn.
4.3. Giải quyết việc làm và tăng thu nhập.
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
NTTS là một ngành kinh tế tạo cơ hội công ăn việc làm cho nhiều cộng đồng
nhân dân, đặc biệt ở những vùng nông thôn và vùng ven biển. Những năm gần đây,
đặc biệt từ năm 2001 đến năm 2004, công tác khuyến ngư đã tập trung vào hoạt động
trình diễn các mô hình khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, hướng dẫn người nghèo làm
ăn. Hiện tại, mô hình kinh tế hộ gia đình được đánh giá là đã giải quyết cơ bản công
ăn việc làm cho ngư dân ven biển. Bên cạnh đó, mô hình kinh tế tiểu chủ và kinh tế tư
bản tư nhân đã góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động ở các vùng, nhất là
lao động nông nhàn ở các tỉnh Nam Bộ và Trung Bộ. Nghề NTTS ở sông Cửu Long
được duy trì đã tạo công ăn việc làm cho 48.000 lao động ở ven sông.
Đến năm 2005 do chuyển đổi diện tích sang nuôi trồng thuỷ sản đã góp phần
đưa số lao động nuôi trồng thuỷ sản là 2.550.000 lao động (bao gồm cả lao động thời
vụ).

Hơn nữa, NTTS cũng đã thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế như
Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp TNHH, doanh
nghiệp cổ phần NTSS phát triển cũng kép theo sự phát triển của các ngành Dịch vụ
– Công nghiệp. Vì vậy, phát triển NTSS đã góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam ngày
càng phát triển nhanh và bền vững.
III. Các nhân tố tác động đến sự phát triển bền vững ngành nuôi trồng thuỷ sản.
1. Đối tượng nuôi trồng thủy sản.
Cũng giống như sản xuất nông nghiệp, đối tượng của NTTS là các cơ thể
sống. Chúng phát triển theo quy luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phát triển và
diệt vong). Các cơ thể sống rất nhạy cảm với những điều kiện ngoại cảnh, chỉ một sự
biến động nhỏ của môi trường sống cũng dễ gây ảnh hưởng đến bản thân các vật nuôi
này. Các ảnh hưởng của điều kiện bên ngoài như : gió, mưa, bão, lũ, hạn hán… đều
ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của chúng.
- Nguồn lợi cá nước ngọt: Việt Nam đã thống kê được 544 loài trong 18 bộ, 57
họ, 228 giống. Với thành phần giống loài phong phú, nước ta được đánh giá có đa
dạng sinh học. Trong 544 loài đó có nhiều loài có gía trị kinh tế cao.
- Nguồn lợi cá nước lợ, mặn: Theo số liệu được thống kê, hiện nay nước ta có
186 loài chủ yếu. Một số loài có giá trị kinh tế như: Cá song, cá hồng, cá tráp, cá
vựợc, cá măng, cá cam…
- Nguồn lợi tôm: Hiện nay, Việt Nam đã thống kê được 16 loài chủ yếu .
- Về nhuyễn thể: Có một số loài chủ yếu: trai, hầu, điệp, nghêu, sò , ốc…
- Về rong tảo: Với 90 loài có giá trị kinh tế, trong đó đáng kể là rong câu (11
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
loài), rong mơ, rong sụn…
2. Điều kiện tự nhiên về mặt nước.
Có thể nói nguồn nước là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành
công của ngành NTTS. Môi trường nước được phân thành ba loại: nước ngọt, nước
mặn, nước lợ. Đối với mỗi loại nước có một đối tượng nuôi trồng phù hợp. Đặc biệt
nguồn nước phục vụ NTTS yêu cầu khá khắt khe nghiêm ngặt về chất lượng: nước

Lớp: Kinh tế phát triển 47A
sản là khoảng 1.7 triệu ha gồm : 120.000 ha hồ chứa mặt nước lớn: 446.000 ha ruộng
úng trũng, nhiễm mặn, cấy lúa một vụ hoặc hai vụ bấp bênh: 635.000 ha vùng triều.
Ngoài ra, còn phải kể đến khoảng trên 100.000 ha eo vịnh, đầm phá ven biển đang
được quy hoạch nuôi trồng thủy sản
3. Những thuận lợi về khí hậu, thủy văn và lao động.
- Về khí hậu: Các điều kiện thời tiết, khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động NTTS nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát sinh và lan tràn dịch bệnh cho
vật nuôi.
Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới pha trộn tính ôn đới, vì vậy
mà điều kiện thời tiết khí hậu có ảnh hưởng sâu sắc đến ngành NTTS. Nuôi trồng
thủy sản ở nước ta tiến hành được cả từ Bắc vào Nam nhờ khí hậu Á nhiệt nóng ẩm
và một số vùng pha chút khí hậu ôn đới. Tài nguyên khí hậu thực sự quan trọng, đã
trở thành một yếu tố đầu vào thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh thủy
sản, giống như một món quà tặng của tự nhiên cho con người.
Chế độ thủy văn ở hầu hết các sông vùng đồng bằng, đặc biệt là vùng hạ lưu
sông đều thích hợp cho nhiều loài thủy sản sinh sống và phát triển, tạo thành một
vùng sinh thái đặc trưng về nhiệt độ, dòng chảy, tính chất thủy lý hóa và nguồn thức
ăn tự nhiên cho thủy sinh vật.
Bên cạnh những yếu tố thuận lợi giúp cho sự phát triển của ngành NTTS thì
cũng có nhiều yếu tố ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của ngành như: lũ lụt, hạn hán ,
bão…gây thiệt hại nghiêm trọng cho NTTS, từ đó làm cho ngành thuỷ sản có tính
bấp bênh, không ổn định. Nhiệt độ đóng một vai trò quan trọng cho quá trình sinh
trưởng của sinh vật nói chung và các loài thuỷ sản nới riêng. Khả năng chống chịu
của chúng nằm trong khoảng giới hạn nhất định. Sự tăng nhiệt độ có thể làm suy giảm
sản lượng thuỷ sản trong các ao hồ. Thay đổi nhiệt độ còn là điều kiện phát sinh của
nhiều loài dịch bệnh xảy ra cho các loài nuôi. Nhiệt độ tăng cao làm cho sức khoẻ của
các loài nuôi, môi trường nước xấu đi, là điều kiện thuận lợi cho các loài vi sinh vật
gây hại.
Đối với nghề NTTS nước mặn, lợ thì độ mặn là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến

Như chúng ta đã biết ngành NTTS có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân trong tương lai ngành sẽ là một nghề có lợi và phát triển mạnh. Với những
điều kiện thuận lợi về diện tích mặt nước, khí hậu, nguồn nhân lực dồi dào, nguồn lợi
giống loài phong phú, đa dạng chúng ta còn thấy được sự cần thiết của việc tăng
cường và phát triển đầu tư vào lĩnh vực này hơn nữa
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
Vốn đầu tư cho chương trình nuôi trồng thủy sản được huy động từ các nguồn:
- Vốn ngân sách nhà nước (kể cả vốn vay và vốn viện trợ chính thức của Chính phủ
các nước, tài trợ của các tổ chức Quốc tế).
- Vốn tín dụng trung hạn và dài hạn, Vốn tín dụng ngắn hạn.
- Vốn huy động từ các tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư.
- Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam và các Bộ, ngành liên quan có giải pháp cân đối các nguồn vốn và bố
trí theo kế hoạch hàng năm trình Chính phủ quyết định để đầu tư theo dự án thực hiện
chương trình.
6. Công tác quản lý và chỉ đạo của Nhà nước.
Do đặc điểm của ngành nuôi trồng thủy sản là nhỏ bé, manh mún và phân tán
nên ngoài việc tăng nguồn vốn đầu tư để để phát triển giống, xây dựng trang trại nuôi
trồng quy mô, đầu tư kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực… thì vai trò của Nhà nước
trong việc quản lý, chỉ đạo là vô cùng cần thiết để những đồng vốn đầu tư đó được sử
dụng đúng mực đích và hiệu quả. Có thể nói vai trò của Nhà nước như kim chỉ nam
trong công tác quy hoạch nhằm khắc phục những vấn đền còn tồn tại, yếu kém trong
quá trình hoạt động và phát triển của ngành NTTS như: nạn ô nhiễm môi trường, dịch
bệnh đang có nguy cơ bùng nổ, cơ sở hạ tầng yếu kém, nguồn nhân lực, khả năng ứng
dụng KH –CN còn thấp Vì thế, nhà nước cần có những chính sách và thiết chế tổ
chức có hiệu lực để khắc phục những tình trạng còn tồn tại trên
II – Sự cần thiết phải phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản.
1. Khái niệm về phát triển bền vững:

ngành
- Đóng góp của ngành thuỷ sản vào tăng trưởng kinh tế và kim ngạch xuất
khẩu: thể hiện tầm quan trọng của ngành nuôi trồng thuỷ sản đối với nền kinh tế.
- Tỷ lệ vay vốn/ tổng vốn đầu tư.
2.1.2. Về mặt chất:
- Hình thức nuôi trồng thuỷ sản của các hộ gia đình: ảnh hưởng quan trọng tới
chất lượng, sản lượng của ngành, đảm bảo vệ sinh môi trường.
- Năng suất lao động: giúp tiết kiệm chi phí, tăng sản lượng đầu ra, tăng thu
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
nhập cho người lao động.
2.2. Về mặt xã hội:
Sự phát triển bền vững về mặt xã hội của ngành nuôi trồng thuỷ sản Được
đánh giá qua một số tiêu chí như chỉ số phát triển con người (HDI), chỉ số phát triển
giới (GDI), hệ số bình đẳng thu nhập, các tiêu chí giá dục, dịch vụ y tế, hoạt động văn
hoá, khả năng giải quyết công ăn việc làm nâng cao đời sống cho người dân được thể
hiện ở 1 số chỉ tiêu cụ thể sau
- Số lượng lao động tham gia nuôi trồng thủy sản
- Tỷ lệ vay nợ trong tổng số hộ nuôi trồng thủy sản
- Tỷ lệ vùng nuôi có sự tham gia của cộng đồng
- Tỷ lệ vùng nuôi áp dụng phương pháp nuôi sạch
- Tỷ lệ đối tượng nuôi được kiểm soát dịch bệnh hàng năm
2.3. Về mặt môi trường – sinh thái:
Sự phát triển bền vững về mặt môi trường được thể hiện ở việc đảm bảo môi
trường sinh thái: ao hồ, đầm, kênh, rạch…ngăn ngừa dịch bệnh. Ngoài ra, còn được
thể hiện ở việc bảo vệ và phát huy các giống thuỷ sản.
Một số chỉ tiêu đánh giá sự phát triển bền vững về mặt môi trường.
- Tỷ lệ hệ thống quan trắc dịch bệnh, cảnh báo môi trường so với nhu cầu.
- Tỷ lệ sử dụng nước ngầm cho nuôi trồng thủy sản, tính theo ha nuôi trồng
thủy sản.

NTTS đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm, đáp ứng được yêu cầu cụ
thể là tăng nhiều đạm và vitamin cho thức ăn. Có thể nói Ngành NTTS đóng vai trò
quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân. Trong thời gian tới, các mặt
hàng thủy sản sẽ ngày càng có vị trí cao trong tiêu thụ thực phẩm của mọi tầng lớp
nhân dân Việt Nam.
- Ngoài ra, sự bền vững về mặt xã hội còn được thể hiện ở khía cạnh khắc
phục tình trạng làm ăn theo mùa vụ, đảm bảo đầu ra cho thủy sản được ổn định, đảm
bảo công ăn việc làm, góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng thêm thu nhập cho hàng
triệu người dân, phát triển kinh tế xã hội nhất là đối với địa phương vùng ven biển,
hải đảo.
Ngành Thuỷ sản đã lập nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo bằng việc phát
triển các mô hình nuôi trồng thuỷ sản đến cả vùng sâu, vùng xa, không những cung
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
cấp nguồn dinh dưỡng, đảm bảo an ninh thực phẩm mà còn góp phần xoá đói giảm
nghèo. Tại các vùng duyên hải, từ năm 2000, nuôi thuỷ sản nước lợ đã chuyển mạnh
từ phương thức nuôi quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm
canh, thậm chí nhiều nơi đã áp dụng mô hình nuôi thâm canh theo công nghệ nuôi
công nghiệp. Các vùng nuôi tôm rộng lớn, hoạt động theo quy mô sản xuất hàng hoá
lớn đã hình thành, một bộ phận dân cư các vùng ven biển đã giàu lên nhanh chóng, rất
nhiều gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo nhờ nuôi trồng thuỷ sản.
Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản ở các mặt nước lớn như nuôi cá hồ chứa cũng
đã phát triển, hoạt động này luôn được gắn kết với các chương trình phát triển trung
du miền núi, các chính sách xoá đói giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa.
3.3. Về mặt môi trường:
Môi trường trong nuôi trồng thuỷ sản có ý nghĩa to lớn bởi nuôi trồng thuỷ sản
sản xuất trực tiếp trên môi trường, tận dụng và phát huy những lợi thế của môi trường
để nâng cao năng suất và chất lượng ngành là tiêu điểm của sự phát triển bền vững
ngành NTTS hiện nay. Hiện nay, vấn đề môi trường đang nhận được rất nhiều sự
quan tâm của cộng đồng thế giới. Như chúng ta đã biết môi trường trong NTTS có ý

ng là nư
ng là nư
ớc duy nhất trên thế
ớc duy nhất trên thế
giới có sả
giới có sả
n lư
n lư
ợng nuôi trồ
ợng nuôi trồ
ng vư
ng vư
ợt quá sả
ợt quá sả
n lư
n lư
ợng khai thác.
ợng khai thác.
Năm 2004, t
Năm 2004, t
ổng sả
ổng sả
n lư
n lư
ợng
ợng
thủy sản của Trung Quố
thủy sản của Trung Quố
c đ
c đ

ạnh
ạnh
trong thời gian tới, từ
trong thời gian tới, từ
25 kg/ngư
25 kg/ngư


i năm 2004 lên 36 kg/ngư
i năm 2004 lên 36 kg/ngư


i vào năm 2020.
i vào năm 2020.
Việc Trung Quố
Việc Trung Quố
c đ
c đ


u tư m
u tư m
ạnh vào sản xuất cá rô phi cũng góp phần phát triển
ạnh vào sản xuất cá rô phi cũng góp phần phát triển
ngành thủy sả
ngành thủy sả
n trong nư
n trong nư



cho sự phát triển bền vững của ngành thuỷ sản Trung Quốc trong tương lai. Vì vậy đã
tạo nên một sức mạnh mới cho ngành NTTS Trung quốc phát triển mạnh mẽ sau này.
Các biện pháp quan trọng có thể kể đến là:
- Tăng cường cung cấp các dịch vụ tiền sản xuất và hỗ trợ sau thu hoạch
thông qua việc đầu tư xây dựng nhiều trại sản xuất giống, các trạm kiểm soát dịch
bệnh thuỷ sản, phổ biến kỹ thuật cho ngư dân. Bên cạnh đó chính phủ còn đề ra các
chính sách ưu đãi về đầu tư, thuế và tín dụng cho các hộ gia đình nuôi trồng thuỷ sản
ở nông thôn.
- Ưu tiên thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ thuỷ sản, chú trọng ứng
dụng thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất. Thông qua các chính sách ưu đãi
của chính phủ, nhiều nhà khoa học được khuyến khích làm việc cùng ngư dân và
người nuôi thuỷ sản. Ước tính đóng góp của khoa học và công nghệ trong giá trị gia
tăng của sản suất thuỷ sản đã tăng từ 30% vào đầu những năm 1980 lên 47% năm
1996. Ví dụ, nhờ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, năng suất nuôi cá thương phẩm trong ao
từ mức bình quân 724kg/ha năm 1979, đã tăng 4,7 lần, đạt 4.097kg/ha năm 1996. Sự
phát triển của công nghệ nuôi lồng và nuôi rào chắn đã giúp tăng diện tích mặt nước
có thể sử dụng để nuôi thuỷ sản. Sự thành công của công nghệ nuôi và sản xuất giống
nhân tạo các loài có giá trị cao như tôm, bào ngư, điệp, hải sâm, cá rô mo thân cao,
cua đồng, đã làm tăng thu nhập cho người nuôi và mở rộng thị trường xuất khẩu.
- Tăng cường hiệu lực hệ thống pháp luật thuỷ sản và quản lý nguồn lợi thuỷ
sản: Để bảo vệ và sử dụng nguồn lợi thuỷ sản hợp lý, chính phủ Trung Quốc đã chú
trọng đến việc xây dựng Luật Thuỷ sản. Ngay từ năm 1979, Hội đồng Nhà nước đã
thông qua “Quy định về bảo vệ và nhân giống nguồn lợi thuỷ sản”.
- Mở rộng hợp tác quốc tế: đến năm 1996, Trung Quốc đã tiến hành nhiều
hoạt động hợp tác thuỷ sản với hơn 60 quốc gia và các tổ chức quốc tế. Những hoạt
động này đã mang đến cho Trung Quốc một triển vọng mới trong nuôi trồng thủy sản.
Bên cạnh đó, Trung Quốc đã tạo ra một môi trường đầu tư tốt để thu hút ngày càng
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
Lớp: Kinh tế phát triển 47A
nhiều nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản của nước này.

Lớp: Kinh tế phát triển 47A


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status