Mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Nớc ta là một nớc nông nghiệp. Sau hơn 10 năm đổi mới nền kinh tế Việt
Nam đã có những chuyển biến quan trọng và đạt đợc nhiều thành quả to lớn
trong phát triển kinh tế, xã hội, cùng với sự hội nhập với các nớc trong khu vực
và quốc tế. Để xây dựng Việt Nam trở thành một nớc công nghiệp có cơ sở vật
chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp
với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần đợc
nâng cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nớc mạnh xã hội công bằng
văn minh thì một trong những nguồn lực cực kỳ quan trọng mang tính quyết
định trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nguồn vốn cho nền kinh
tế.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá
VIII đã khẳng định: Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, khơi dậy và phát
huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm công nghiệp hoá, hiện
đại hoá....( trích Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ơng
Đảng khoá VIII) và Chính phủ đã giao cho ngành ngân hàng: ...Có chính sách
để đẩy mạnh huy động vốn nhằm đóng góp vốn cho nền kinh tế, nâng cao tỷ lệ
tiết kiệm của dân chúng....(Trích Quyết định số 1179/1997/TTG/QĐ - TTg
ngày 30/12/1997 của Thủ tớng Chính phủ)
Nhu cầu vốn rất lớn cho sự nghiệp công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá
(HĐH) nền kinh tế Việt Nam cho hiện tại và những năm sau tạo đà cho mục
tiêu đến năm 2020 Việt Nam trở thành một nớc công nghiệp là thách thức lớn
đối với tất cả chúng ta.
Hoà Bình là một tỉnh nghèo thuộc miền núi phía Tây Bắc Việt Nam. Nền
kinh tế của tỉnh cha có tích luỹ. Điểm xuất phát của Hòa Bình quá thấp so với
cả nớc. Tuy nhiên, Hoà Bình là tỉnh có nhiều tiềm năng về phát triển kinh tế,
đặc biệt là tiềm năng về nông, lâm nghiệp nh: đất đai rộng, quỹ đất cha sử dụng
hay sử dụng với hiệu quả thấp còn rất lớn, khí hậu có nhiều thuận lợi cho việc
phát triển một số loại cây con đặc chủng có giá trị kinh tế cao. Những năm qua
1
Đi tìm lời giải đáp cho vấn đề trên trong khuôn khổ một Luận văn thạc sĩ
khoa học kinh tế, tác giả lựa chọn đề tài: Giải pháp mở rộng nguồn vốn tại
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hoà Bình. Đây là đề
tài có ý nghĩa thiết thực gắn việc nghiên cứu khoa học với giải quyết vấn đề
thực tiễn bức bách của hệ thống NHNo&PTNT Hoà Bình.
2. Mục đích nghiên cứu:
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đã đề cập ở trên, tác giả luận văn tập trung
nghiên cứu nhằm:
- Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ huy động vốn của
NHTM.
- Phân tích thực trạng nguồn vốn của NHNo&PTNT Hoà Bình.
- Đa ra các giải pháp tạo bớc chuyển biến mới trong hoạt động huy động
vốn, cải thiện cơ cấu vốn đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và phát triển
kinh tế tỉnh Hoà Bình.
3. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đối tợng nghiên cứu: Những nội dung chủ yếu của nghiệp vụ huy động
vốn của ngân hàng thơng mại.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: chỉ giới hạn nghiên cứu nghiệp vụ huy
động vốn tại NHNo&PTNT Hoà Bình, những giải pháp đa ra cũng giới hạn
trong phạm vi áp dụng tại NHNo&PTNT tỉnh Hoà Bình.
4. Phơng pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phơng pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
để xem xét các sự vật, hiện tợng trong trạng thái vận động biến đổi không
ngừng và thờng xuyên có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau; phơng pháp
phân tích tổng hợp số liệu thực tế, vận dụng lý luận vào thực tiễn để giải thích
nguyên nhân từ đó đa ra các giải pháp thích hợp.
5. Những đóng góp mới của luận văn:
Phân tích những luận cứ khoa học mang tính lý luận và thực tế về hoạt
động tạo vốn của ngân hàng thơng mại.
3
tế.
Tuy khái niệm về NHTM ở mỗi nớc có những điểm khác nhau, nhng
nhìn chung đều thống nhất coi NHTM là doanh nghiệp chuyên kinh doanh tiền
tệ và cung ứng những dịch vụ tài chính cho nền kinh tế, là một trong số những
định chế tài chính của nền kinh tế. Các định chế tài chính này có chức năng
giống nhau là dẫn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu.
ở Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng (Luật số 02/1997/QH10, Điều
20) giải thích: Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp đợc thành lập theo quy định
của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền
tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp
tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.
5
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng đợc thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.... Trong đó Hoạt
động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội
dung thờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng tiền này để cấp tín dụng và cung
ứng các dịch vụ thanh toán.
Chức năng của NHTM là các hoạt động mà chúng đợc phép tiến hành
căn cứ các điều kiện kinh tế và luật pháp, thông qua các hoạt động đó chúng tác
động đến nền kinh tế và đời sống kinh tế xã hội. Cơ sở kinh tế khách quan của
các chức năng mà hệ thống NHTM đảm nhận là sự cần thiết có các trung gian
tài chính dẫn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, làm trung gian thanh toán trong nền
kinh tế....NHTM là tổ chức tài chính trung gian giữa NHNN (Ngân hàng Trung
ơng) với nền kinh tế. Thông qua NHTM các chính sách vĩ mô của Nhà nớc về
tiền tệ, tín dụng, thanh toán, lãi suất, tỷ giá... đợc chuyển tải tới các đối tợng của
nền kinh tế (tổ chức kinh tế xã hội, dân c) và đợc phản hồi ngợc trở lại.
Do luật pháp ở các nớc có những quy định về giới hạn các hoạt động mà
các NHTM đảm nhận, nên có sự khác biệt nhất định. Tuy nhiên những chức
năng truyền thống của NHTM là giống nhau đó là: Nhận tiền gửi và tiền tiết
kiệm, cho vay, làm trung gian thanh toán, bảo quản tài sản ...Vì vậy, mỗi
khoản mục nguồn vốn cũng đóng một vai trò quan trọng nh thu nhập từ các
khoản mục tài sản trong việc đạt đợc mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng.
Các mặt hoạt động nghiệp vụ của NHTM có mối quan hệ mật thiết, hỗ
trợ và thúc đẩy nhau cùng phát triển. Chỉ huy động đợc vốn thì mới có nguồn
vốn để cho vay và đầu t. Ngợc lại, việc sử dụng vốn cho vay có hiệu quả sẽ giúp
cho nền kinh tế phát triển, là cơ sở tạo ra nguồn vốn dồi dào để huy động vào
7
ngân hàng. Mặt khác muốn cho vay và huy động vốn tốt thì ngân hàng phải làm
tốt các dịch vụ trung gian của mình.
NHTM nhận tiền gửi hoặc phát hành các công cụ nợ để huy động vốn, sử
dụng vốn này để cho vay với một lãi suất và kỳ hạn ấn định. Sau một thời gian
nhất định, ngời vay phải trả cho ngân hàng vốn và một số tiền lãi. Lãi thu đợc từ
các khoản cho vay và các khoản đầu t vào chứng khoán tạo nên bộ phận thu
nhập của ngân hàng.
Để tạo lập đợc nguồn vốn nhằm tài trợ cho danh mục tài sản của mình,
NHTM phải chi phí huy động vốn bao gồm những chi phí nh: Tiền lãi; phí bảo
hiểm; các khoản chi phí cho bộ máy quản lý và các chi phí khác. Với mục tiêu
tăng cờng hoạt động kinh doanh và tối đa hoá lợi nhuận, NHTM thờng xuyên
tìm cách khai thác các nguồn vốn với chi phí thấp nhất để mở rộng cho vay và
đầu t . Đây là cách kiếm lời chủ yếu của các NHTM ở Việt Nam hiện nay. Bên
cạnh đó NHTM còn cung cấp đa dạng các loại dịch vụ tài chính nh: Bảo hiểm,
tín thác, đầu t,...Xuất phát từ xu hớng phát triển trong hoạt động của NHTM
hiện đại là mở rộng các hoạt động dịch vụ, bên cạnh việc vẫn duy trì các nghiệp
vụ ngân hàng truyền thống, thông qua việc đa dạng hoá hoạt động, các NHTM
có thể vừa tăng thu nhập vừa có thể cạnh tranh với các định chế tài chính phi
ngân hàng trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ.
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ đem lại cho ngân hàng những khoản thu
nhập từ chênh lệch tỷ giá và các dịch vụ thanh toán quốc tế gọi là doanh lợi
hối đoái.
Nh vậy, thu nhập của ngân hàng đợc hình thành từ các nguồn chính là lãi
trong hoạt động của ngân hàng, cung cấp những nguồn lực ban đầu để giúp
ngân hàng mới thành lập hoạt động, cung cấp nền tảng cho sự tăng trởng, giúp
9
ngân hàng chống lại rủi ro, duy trì niềm tin của công chúng và của các cổ đông
vào khả năng quản lý và phát triển của ngân hàng.
a. Vốn tự có
Vốn tự có là vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, đợc tạo ra bằng cách bán
cổ phần hoặc từ lợi nhuận giữ lại hoặc vốn mà ngân hàng đợc phép sử dụng lâu
dài theo pháp luật riêng của từng nớc. Đối với NHTM thuộc sở hữu Nhà nớc thì
vốn tự có là vốn pháp định do ngân sách Nhà nớc cấp 100%. Đối với ngân hàng
cổ phần vốn này do các cổ đông đóng góp dới hình thức vốn cổ phần. Đối với
ngân hàng liên doanh vốn này do các bên liên doanh đóng góp.
Điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng (số 02/1997/QH10) xác định rõ: Vốn
tự có gồm giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ, một số tài sản Nợ
khác của tổ chức tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nớc. Vốn tự có là
căn cứ để tính toán các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng.
Vốn này chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của NHTM, song
lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi mới thành lập một ngân hàng. Trong quá
trình hoạt động kinh doanh nguồn vốn này đợc bổ xung do việc góp thêm vốn
của các chủ ngân hàng bằng việc mua cổ phiếu hoặc tích luỹ từ tiền lãi, lợi
nhuận cha chia và các quỹ. NHTM có thể chủ động sử dụng vốn này để mở
rộng màng lới, mua sắm tài sản cố định, trang thiết bị, phát triển công nghệ
ngân hàng hoặc hùn vốn liên doanh liên kết. Mặt khác vốn này đợc coi nh tài
sản đảm bảo gây lòng tin với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong
những trờng hợp ngân hàng thua lỗ. Vốn tự có còn quyết định đến quy mô và
khối lợng vốn đợc huy động của NHTM.
ở nớc ta theo Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của
các tổ chức tín dụng(ban hành kèm theo Quyết định số 297/1999/QĐ-NHNN5
ngày 25/08/1999 của Thống đốc NHNN) thì: Tổ chức tín dụng (trừ chi nhánh
ngân hàng nớc ngoài) phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% giữa vốn tự có
11
kỳ hạn) hoặc khi họ có nhu cầu rút vốn để chi trả (đối với tiền gửi không kỳ
hạn). Nguồn vốn này đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh
doanh của NHTM.
Nguồn tiền gửi của khách hàng luôn biến động, nên ngân hàng không thể
sử dụng hết số vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để
đảm bảo khả năng thanh toán.
Tiền gửi của khách hàng bao gồm các loại:
a. Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán) hay còn gọi là tiền gửi
giao dịch
Đây là loại tiền gửi do khách hàng gửi vào ngân hàng nhằm mục đích
giao dịch thanh toán, chi trả cho các hoạt động mua bán hàng hoá, dịch vụ và
các khoản chi phí phát sinh trong kinh doanh một cách an toàn thuận tiện. Tiền
gửi này không có sự thoả thuận về thời gian, khách hàng có thể sử dụng tiền vào
bất kỳ lúc nào khi họ có nhu cầu.
Đối với khách hàng đây là khoản ký thác để ngân hàng quản lý và thực
hiện các nghiệp vụ theo yêu cầu. Số tiền gửi có thể đợc lấy ra hoặc chuyển nh-
ợng cho bất kỳ ai, vào bất kỳ lúc nào dới dạng tiền mặt hay chuyển khoản, hoặc
sử dụng các công cụ thanh toán khác của ngân hàng.
Đối với ngân hàng đây là nguồn vốn huy động có chi phí thấp. ở các nớc
phát triển loại tiền gửi này thờng không đợc hởng lãi nhng bù lại khách hàng có
thể đợc sử dụng các dịch vụ ngân hàng miễn phí. ở Việt Nam để khuyến khích
khách hàng thanh toán qua ngân hàng từ đó mở rộng đợc qui mô nguồn vốn
này, nên ngoài việc cạnh tranh bằng chất lợng dịch vụ thanh toán, các NHTM
đã thực hiện trả lãi cho loại tiền gửi này và không ngừng đa ra các sản phẩm
dịch vụ ngày càng hoàn thiện hơn, đa dạng hơn và tiện ích hơn cho khách hàng.
Tuy vậy, loại tiền gửi này vẫn luôn là nguồn vốn có chi phí thấp nhất do ngời
gửi tiền quan tâm đến tính lỏng trong tài sản của họ nhiều hơn.
12
Tiền gửi giao dịch là khoản nợ mà ngân hàng luôn phải chủ động trả cho
Có hai loại tiền gửi tiết kiệm:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có thể gửi vào và rút
ra bất cứ lúc nào, ngân hàng trả lãi theo số d bình quân hàng tháng với lãi suất t-
ơng ứng, tiền lãi đợc nhập vào gốc hàng tháng hoặc quý.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có sự thoả thuận về thời
gian rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn. nếu đến hạn
ngời gửi không có nhu cầu sử dụng thì ngân hàng tự động nhập gốc vào lãi và
tiếp tục đợc hởng lãi kỳ tiếp theo. Khách hàng có nhu cầu lĩnh ra trớc hạn có thể
đợc hởng lãi suất không kỳ hạn.
d. Các khoản tiền gửi khác
Bao gồm các nguồn vốn trong thanh toán (ký quỹ, chênh lệch thanh toán
liên ngân hàng...). Thực chất đây cũng là vốn tiền gửi nhng do yêu cầu quản lý
ngời ta tách riêng.
Trong quá trình làm trung gian thanh toán, NHTM tạo ra đợc một khoản
vốn trong thanh toán: vốn trên tài khoản mở th tín dụng, tài khoản tiền gửi séc
bảo chi, séc định mức và các khoản tiền phong toả do ngân hàng chấp nhận hối
phiếu thơng mại...Các khoản tiền tạm thời đợc trích khỏi tài khoản này nhập
vào tài khoản khác chờ sử dụng nên đợc coi là tiền nhàn rỗi. Thông qua nghiệp
vụ đại lý NHTM cũng thu hút đợc một lợng vốn đáng kể trong quá trình thu, chi
hộ khách hàng, làm đại lý cho tổ chức tín dụng khác, nhận và chuyển vốn cho
khách hàng hay cho dự án đầu t (do việc phát tiền đợc thực hiện theo tiến độ
công việc nên ngân hàng có thể sử dụng tạm thời tồn khoản đó vào kinh doanh).
1.2.1.3 Nguồn vốn đi vay
Vốn đi vay đợc hình thành trên cơ sở quan hệ vay mợn giữa NHTM với
NHNN hoặc giữa các NHTM với nhau hay với các tổ chức tín dụng khác.
14
Các NHTM vay vốn của NHNN dới hình thức chiết khấu, tái chiết khấu
để bù đắp thiếu hụt trong thanh toán, bổ xung vốn dự trữ... Để đợc vay chiết
khấu các NHTM phải sử dụng các công cụ vay nợ nh thơng phiếu, chứng khoán
của Chính phủ...,và thờng là các loại có uy tín chất lợng cao, thời gian đáo hạn
NHTM không chỉ đơn thuần về mặt qui mô mà chủ yếu mang ý nghĩa nh là một
biện pháp quản lý các mục tài sản. Chi phí cho tiền vay thờng lớn hơn so với
các nguồn vốn khác.
1.2.1.4 Vốn uỷ thác đầu t
Là nguồn vốn tài trợ, uỷ thác đầu t của Nhà nớc, của các tổ chức tài
chính trong nớc và quốc tế đầu t vốn một cách gián tiếp vào nền kinh tế dới
dạng vốn bằng tiền hoặc dây chuyền sản xuất theo các chơng trình, dự án có
mục tiêu riêng. ngân hàng chỉ đóng vai trò là ngời trung gian hởng phí. Đây là
một nguồn mà qua đó ngân hàng dùng để đáp ứng vốn cho nền kinh tế. Hiện
nay nguồn vốn này ngày càng đợc tăng cờng, và đã hỗ trợ tích cực cho phát
triển nền kinh tế trong nớc.
Các tổ chức quốc tế nh: Ngân hàng Thế giới (World bank), Ngân hàng
Phát triển Châu á (Asia development bank), Quỹ tài chính của Chính phủ Pháp
(CFD)uỷ thác cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
cho vay theo các dự án thuộc kinh tế nông nghiệp, nông thôn nh: Dự án phục
hồi và phát triển nông thôn, tín dụng nông thôn...
Thực hiện các dự án này, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Việt Nam đợc hởng một tỷ lệ trên lãi thực thu và trả lãi theo lãi suất ghi
trong hiệp định. Các chi nhánh ngân hàng tỉnh đợc phép giải ngân trong hạn
mức đợc thông báo. Lãi suất cho vay các nguồn vốn này thờng bằng lãi suất cho
vay thông thờng của Việt Nam tại từng thời điểm.
1.2.2 Vai trò của nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM
16
Khi nghiên cứu nền sản xuất T bản chủ nghĩa Mác đã tìm ra qui luật vận
động của t bản (vốn) thể hiện bằng công thức:
TLSX
T H ........SX......H T (T > T)
SLĐ
Nh vậy, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn thực hiện quá trình sản xuất
kinh doanh cũng phải trải qua 3 giai đoạn: Mua Sản xuất Bán. Điều quan
danh mục tài sản đầu t, từ đó ảnh hởng đến thu nhập của NHTM.
Quy mô, cơ cấu nguồn vốn quyết định chi phí trả lãi và quy mô, thành
phần tài sản. Đến lợt nó, tài sản với thành phần ấy lại quy định tiền lãi thu đợc.
Nh vậy, nguồn vốn có vai trò quyết định đối với chi phí trả lãi và thu
nhập từ đó quyết định lãi ròng của ngân hàng.
Để tăng thu nhập từ lãi, các ngân hàng thờng tìm kiếm các nguồn vốn có
chi phí thấp, tăng quy mô nguồn vốn, quản lý lãi suất phải trả bình quân và tối
đa các tài sản sinh lời, tức là nâng cao hiệu suất sử dụng vốn. Đồng thời, ngân
hàng còn có thể tăng thu nhập phi lãi suất khi cung cấp các dịch vụ nh dịch vụ
thanh toán quốc tế và nội địa, nghiệp vụ bảo lãnh, quản lý hộ tài sản, chuyển
đổi ngoại tệ, môi giới và mua bán chứng khoán .v.v.. Các dịch vụ này đem lại
những khoản thu nhập về dịch vụ phí cho ngân hàng, đó chính là lợi thế kèm
theo của hoạt động huy động vốn. Nh vậy, khách hàng vừa cung cấp quyền sử
dụng tiền cho các ngân hàng với giá thấp hơn vừa sử dụng các dịch vụ khác của
ngân hàng. Ngân hàng còn phải chi phí các khoản nh tổ chức mạng lới huy
động vốn, quảng cáo, kiểm ngân, quản lý tiền, kho tàng lu trữ chứng từ, giấy tờ
in và khấu hao nhà cửa, hệ thống máy tính, .v.v... để có đợc nguồn vốn. Những
18
chi phí này phụ thuộc vào qui mô kinh doanh nói chung, quy mô nguồn vốn nói
riêng.
1.2.2.2 Vốn của ngân hàng quyết định năng lực cạnh tranh
Đối với một ngân hàng, khả năng nguồn vốn lớn là điều kiện thuận lợi
trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về qui
mô, khối lợng tín dụng, thời hạn cho vay. Đó là một yếu tố để thu hút ngày
càng nhiều khách hàng, doanh số hoạt động của ngân hàng sẽ tăng lên nhanh
chóng và ngân hàng có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh. Đây cũng là điều
kiện bổ xung thêm vốn tự có của ngân hàng, tăng cờng cơ sở vật chất và qui mô
hoạt động của ngân hàng trên mọi lĩnh vực. Đồng thời nguồn vốn của ngân
hàng lớn sẽ giúp ngân hàng kinh doanh đa năng trên thị trờng, không chỉ đơn
thuần là cho vay mà còn mở rộng hình thức liên doanh, liên kết, kinh doanh
nhập từ lãi. Nh vậy, quản lý rủi ro lãi suất luôn gắn liền với quản lý nguồn vốn
và sử dụng vốn.
Nguồn vốn của các ngân hàng ngày càng trở nên nhạy cảm hơn với lãi
suất do sự biến động thờng xuyên của lãi suất và sự phát triển của các công cụ
nợ trên thị trờng tiền tệ. Ngày nay, những ngời gửi tiền, nhà đầu t có xu hớng sử
dụng những tài sản tài chính ngắn hạn nhằm tránh rủi ro lãi suất thì các ngân
hàng phải trả lãi suất hấp dẫn hơn nhằm khuyến khích những khoản tiền gửi có
thời hạn dài hơn, hoặc phải xác định lại lãi suất một cách thờng xuyên. Lãi suất
trả cho nguồn vốn tuỳ theo sự thay đổi lãi suất trên thị trờng.
Mặc dù trong thời gian gần đây ngân hàng đã tìm ra những phơng pháp
mới nhằm hạn chế rủi ro lãi suất (các hợp đồng tài chính kỳ hạn, các hợp đồng
quyền, hợp đồng trao đổi lãi suất...) nhng những rủi ro này vẫn cha đợc và cũng
không thể bị loại bỏ hoàn toàn. Hơn nữa, cạnh tranh trong kinh doanh ngân
hàng ngày càng quyết liệt sẽ đẩy các ngân hàng lâm vào tình trạng phải đối mặt
20
với nhiều rủi ro, nhất là rủi ro lãi suất vì cho vay và đầu t chiếm phần lớn trong
tổng tài sản.
Nguồn vốn và rủi ro thanh khoản:
Rủi ro về khả năng thanh toán luôn gắn chặt với cơ cấu, tính chất vận
động của nguồn vốn. Để duy trì các mối quan hệ dài hạn với những ngời gửi
tiền và quản lý các nguồn tiền gửi do những ngời gửi tiền luôn đòi hỏi những lợi
ích lớn hơn trên các khía cạnh lãi suất và dịch vụ mà ngân hàng cung ứng cho
họ. Nếu không đợc đáp ứng thoả đáng, kịp thời những ngời này có thể rút tiền
hoặc chuyển tiền đến gửi tại các ngân hàng khác. Do đó, yêu cầu quản lý rủi ro
thanh khoản là sức ép rất lớn đối với các NHTM. Mặt khác, ngân hàng còn chịu
rủi ro về việc nếu không đủ tiền mặt để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và cho vay
đối với những khách hàng chất lợng tốt, nếu không tăng nguồn tiền mặt kịp thời
có thể sẽ mất nhiều khách hàng và dẫn tới sự sụt giảm về lợi nhuận. Tình trạng
thiếu hụt tiền mặt cũng có thể dẫn đến ngời gửi tiền không ngừng rút vốn và
cuối cùng là ngân hàng sụp đổ.
bán các dịch vụ cho khách hàng. ở các nớc phát triển loại tiền gửi này giữ một
vị trí tơng đối quan trọng trong kết cấu nguồn vốn của NHTM, chẳng hạn ở Mỹ
số tiền trên các tài khoản thuộc loại này chiếm khoảng 30% tiền gửi ngân hàng.
ở Việt Nam một trong các yêu cầu bắt buộc khi một doanh nghiệp hoạt
động sản xuất, kinh doanh là phải mở tài khoản tiền gửi giao dịch tại một
NHTM. Tài khoản này vừa là nơi thu nhận tiền từ những ngời mua hàng hoặc
dịch vụ mà doanh nghiệp này cung ứng, vừa là nơi bảo quản tài sản tài chính an
toàn, khi cần có thể đợc chi trả bất cứ lúc nào và trong nhiều trờng hợp, số d của
nó đợc dùng để bảo lãnh hay đặt cọc cho các hợp đồng hoặc các thoả ớc khác.
Qua đó ngân hàng vừa là thủ quĩ, vừa cung cấp dịch vụ thanh toán theo yêu cầu
của khách hàng. Các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân thờng mở tài
khoản tiền gửi giao dịch tại một hoặc một số NHTM nhất định.
22
Trong khi thực hiện là trung gian thanh toán các ngân hàng thơng mại
còn nhận đợc tiền gửi các tổ chức tín dụng là một loại tiền gửi giao dịch.
Để thu hút đợc tiền gửi phi giao dịch của các tổ chức và cá nhân, ngân
hàng sử dụng các tài khoản tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn các tổ chức
kinh tế xã hội hoặc phát hành các loại giấy tờ có giá nh kỳ phiếu, trái phiếu,
giấy chứng nhận tiền gửi.
Ngân hàng phát hành thẻ tiết kiệm không kỳ hạn để thu hút những món
tiền nhỏ lẻ hoặc những khoản tiền có thời gian nhàn rỗi ngắn. Tài khoản này có
thể gửi thêm hoặc rút ra bất cứ lúc nào nhng không đợc phát hành séc (đây là
điểm khác biệt với tiền gửi giao dịch).
Do nhu cầu gửi tiền của khách hàng rất đa dạng tuỳ theo kế hoạch sử
dụng tiền của họ trong hiện tại cũng nh tơng lai nên ngân hàng qui định nhiều
loại kỳ hạn gửi tiền cho khách hàng lựa chọn ,có thể kỳ hạn 1 tháng, 2 tháng, 3
tháng, 6 tháng hoặc 12 tháng.v.v..để thu hút tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
Để huy động khối lợng vốn lớn theo nhu cầu tài sản từng thời kỳ, NHTM
phát hành kỳ phiếu, trái phiếu với lãi suất hấp dẫn hơn vì đối tợng khách hàng
này rất quan tâm đến thu nhập từ tài sản của họ .
ớc và các tổ chức tài chính trong nớc và quốc tế theo các chơng trình, dự án có
mục tiêu cụ thể. Để đợc nhận nguồn vốn này, các ngân hàng phải lập dự án cho
từng đối tợng hoặc nhóm đối tợng phù hợp với đối tợng các khoản vay. Hiện
nay, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đang nhận vốn
uỷ thác của các dự án: Phục hồi và phát triển nông thôn, dự án tín dụng nông
thôn ...
1.2.3.5 Các nguồn vốn khác
Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, các ngân hàng thơng mại có
thể sử dụng kết d trên các tài khoản thanh toán vãng lai nh chênh lệch thu hộ
lớn hơn chi hộ các ngân hàng khác trong thanh toán liên hàng. Ngoài ra còn có
24
thể có số d trên các tài khoản ký quĩ hoặc các khoản quản lý, giữ hộ nhng số
vốn này không nhiều và ngân hàng không chủ động trong việc tập trung nguồn
vốn này.
Nh vậy, các NHTM tạo lập nguồn vốn chủ yếu bằng phơng thức huy
động vốn để khai thác nguồn vốn nhàn rỗi của khách hàng, trờng hợp mất cân
đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn có thể vay vốn các tổ chức tín dụng hoặc dới
hình thức chiết khấu của Ngân hàng Trung ơng và có thể nhận vốn ủy thác đầu
t cùng với số vốn của chủ sở hữu để có nguồn vốn với qui mô nhất định đủ tài
trợ cho danh mục tài sản. Trong số các phơng thức này, huy động vốn nhàn rỗi
trong xã hội giữ vai trò quan trọng nhất do nó cho phép khai thác, phát huy nội
lực để phát triển kinh tế đồng thời nguồn vốn này thờng có chi phí thấp hơn so
với các nguồn vốn khác vì nguồn này nhận đợc trực tiếp từ ngời gửi tiền.
1.2.4. Đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn:
Trên đây chúng ta đã nghiên cứu các bộ phận cơ bản của nguồn vốn, đặc
điểm của chúng và vai trò đối với mục tiêu an toàn và lợi nhuận của ngân hàng
cùng các phơng thức tạo lập vốn trong đó nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội là
trọng tâm để khai thác .
Nguồn vốn của NHTM khá đa dạng và gồm nhiều thành phần, trong số
đó có những thành phần không ổn định, đổi lại khả năng giao dịch của nó lại