Giải pháp quản lý nhằm nâng cao khả năng huy động vốn tại ngân hàng đầu tư và phát triển tỉnh Hải Dương - Pdf 17

PHẦN MỞ ĐẦU
Sau hơn hai mươi năm năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã gặt hái
được khá nhiều kết quả như tốc độ phát triển kinh tế cao, đời sống tinh
thần vật chất người dân được cải thiện rõ rệt, uy tín của Việt Nam trên
thế giới ngày càng được nâng cao. Tuy đã đạt được thành tựu to lớn đó
nhưng quy mô nền kinh tế nước ta còn nhỏ bé, sản xuất nhỏ. Vì xuất phát
điểm của chúng ta quá thấp nên muốn để hoà nhập vào nền kinh tế phát
triển của thế giới, chúng ta cần phải đẩy nhanh sự nghiệp CNH- HĐH đất
nước. Như vậy, nhu cầu về vốn cho sự nghiệp CNH-HĐH sẽ là rất lớn,
đặc biệt là Việt Nam đang cần một khối lượng vốn lớn để đầu tư cơ sở hạ
tầng kinh tế, xây dựng các công trình công nghiệp, nền tảng của tăng
trưởng kinh tế dài lâu. Đại hội Đảng IX khẳng định “ Nhà nước có chính
sách động viên các nguồn lực trong nước là chính và tranh thủ tối đa
nguồn lực nước ngoài; mở rộng đầu tư tín dụng, góp phần giải phóng
mọi năng lực sản xuất , phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh
tế ” . Nội dung này lại khẳng định một lần nữa nhu cầu to lớn về vốn đối
với nền kinh tế, đồng thời chỉ rõ tầm quan trọng của nguồn vốn trong
nước và quốc tế.
Là một trung gian tài chính – đi vay để cho vay Ngân hàng đầu tư và
phát triển đã chủ trương tăng cường hoạt động huy động vốn, trước hết
là để thực hiện kinh doanh của đơn vị mình, sau đó góp phần là một trong
những kênh huy động vốn tích cực cho nền kinh tế
Sau khi được tìm hiểu về vấn đề trên, em đã lựa chọn đề tài “Giải
pháp quản lý nhằm nâng cao khả năng huy động vốn tại ngân hàng
đầu tư và phát triển tỉnh Hải Dương” làm đề tài viết chuyên đề thực

1
tập tốt nghiệp của mình. Thông qua đề tài em mong muốn được góp phần
nào đó, dù rất nhỏ bé vào việc tăng cường hoạt động huy động vốn của
ngaan hàng đầu tư và phát triển tỉnh Hải Dương.
Đề tài này gồm ba chương :

Nguồn hình thành vốn chủ sở hữu bao gồm :
Vốn ban đầu :
Là nguồn vốn do các chủ sở hữu đóng góp và được ghi trong điều
lệ của ngân hàng và nó không được nhỏ hơn vốn pháp định. Nguồn vốn
này được hình thành khác nhau tuỳ vào hình thức sở hữu của ngân hàng.
Nếu ngân hàng thuộc sở hữu của nhà nước thì vốn ban đầu sẽ do nhà
nước cấp. Với các ngân hàng là ngân hàng cổ phần thì vốn ban đầu sẽ do

3
các cổ đông đóng góp thông qua mua cổ phiếu. Còn ngân hàng liên
doanh thì vốn ban đầu sẽ do các bên liên doanh đóng góp. Ngân hàng tư
nhân thì sẽ do chủ sỡ hữu của ngân hàng đó bỏ tiền của mình ra để làm
vốn ban đầu.
Vốn bổ sung :
Để mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh các ngân hàng sẽ tăng số
vốn chủ sở hữu lên từ các nguồn là :
Vốn từ lợi nhuận :
Nguồn này chỉ trích ra khi lãi ròng của các ngân hàng lớn hơn 0. Và
tỉ lệ nguồn vốn này được trích ra lại tuỳ thuộc vào từng chủ sở hữu ngân
hàng, dựa trên cơ sở giữa lọi ích tiêu dùng và lợi ích tiêu dùng.
Vốn thu từ việc phát hành thêm cổ phiếu và trái phiếu :
Các NHTM sẽ thực hiện việc này khi vốn chủ sở hữu và quy mô hoạt
động chưa đảm bảo, tích tụ lợi nhuận thu được chưa đủ lớn. Nguồn thu
nhập này lại phụ thuộc vào quy định chặt chẽ và sự quản lý của nhà nước
về việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu, do vậy nguồn vốn này không
thu nhập thường xuyên.
Các quỹ : Quỹ dự phòng tổn thất, quỹ phúc lợi, quỹ thặng dư,…
2.2 Vốn tiền gửi
Là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các cá nhân
trong và các tổ chức kinh tế trong xã hội thông qua các quá trình thực

5
hạn và qui mô xác định trước, do vậy tạo được sự ổn định cho ngân hàng.
Nguồn vốn này có thể không phải chịu dự trữ bắt buộc và bảo hiểm tiền
gửi. Tuy nhiên do rủi ro lớn nên lãi suất cho vay thường lớn hơn lãi suất
tiền gửi với cùng kỳ hạn. Các NHTM vay NHTW dưới hai hình thức vay:
thanh toán và tái cấp vốn. Việc NHTW cho các NHTM vay dưới hình
thức chiết khấu và tái chiết khấu các giấy tờ có giá trước kia mà NHTM
đã mua trên thị trường sơ cấp. Ngoài ra NHTW còn cho các NHTM vay
theo sơ đồ tín dụng.
Các nhân tố ảnh hưởng quan trọng nhất là thu nhập của dân cư và
sự ổn định vĩ mô sau đến là các kĩ thuật nhiệp vụ của ngân hàng nhằm tạo
tính thanh khoản của các giấy nợ và thuận tiện đối với người cho vay.
Mặc dù lãi suất thường xuyên cao hơn các nguồn khác, song ngân hàng
vẫn phải sử dụng phát hành giấy tờ nợ trung và dài hạn khi tiền gửi
khong đáp ứng được những yêu cầu như ổn định, qui mô đủ lớn trong
khoảng thời gian xác định.
2.4 Các nguồn vốn khác
Bao gồm nguồn uỷ thác, nguồn trong thanh toán
Nguồn uỷ thác
NHTM thực hiện các dịch vụ ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư, ủy
thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ. Các hoạt động này tạo nên
nguồn ủy thác tại ngân hàng.Cùng với sự phát triển các mối quan hệ đa
phương, rất nhiều tổ chức kinh tế xã hội có cùng mục tiêu như ngân hàng,
có nguồn tài chính, đã sử dụng mạnh lưới ngân hàng như kênh dẫn vốn
tới các mục tiêu. Kết quả là hình thành nguồn ủy thác, làm gia tăng
nguồn vốn của ngân hàng.

6
Nguồn trong thanh toán
Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể hình thành

doanh, cho vay tiêu dùng.
Huy động vốn dài hạn
Là hình thức huy động vốn trong thời gian lớn hơn 5 năm. Nguồn cung
cấp cho hình thức huy động vốn này thường nhỏ hơn nhiều lần so với
hình thức huy động vốn ngắn hạn hơn và nó chủ yếu bao gồm vốn thu
được do phát hành trái phiếu ngân hàng, vốn uỷ thác. Ngoài ra, tiền gửi
tiết kiệm dài hạn thông thường, tiết kiệm hưu trí, tiết kiệm cho các kế
hoạch chi tiêu trong tương lai của cư cũng như đóng góp một tỷ lệ không
nhỏ.
Ở nước ta, vốn huy động trong thời hạn dưới 1 năm được gọi là
ngắn hạn, từ 1-3 năm gọi là vốn trung hạn và từ 3 năm trở lên gọi là vốn
dài hạn
2.2 Phân loại theo đối tượng huy động
Theo cách phân loại này, huy động vốn có thể chia ra làm 4 nhóm
sau :
Dân cư

8
Đây là nguồn có nhiều tiềm năng nhất, cung cấp cho ngân hàng
một nguồn vốn có qui mô lớn và tính ổn định cao. Dân cư có thu nhập và
tích trữ nhưng một bộ phận lại không có khả năng hoặc điều kiện trực
tiếp đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Nhu cầu sinh lợi đã khiến cho bộ
phận này tiến hành đầu tư gián tiếp thông qua việc gửi vào ngân hàng, ủy
thác vốn cho ngân hàng, nắm giữ các chứng khoán mua bảo hiểm. Lý do
khác khiến người dân gửi tiêng vào ngân hàng là do nhu cầu đảm bảo an
toàn vốn của họ hoặc giúp họ thực hiện các chương trình tiết kiệm cho
tương lai hoặc vì những tiện ích mà các sản phẩm của ngân hàng mang
lại.
Tổ chức kinh tế
Ngày nay, hầu hết các tổ chức kinh tế đều mở tài khoản tiền gửi

NHTM phải quản lý nguồn vốn của mình một cáhc có hiệu quả, đảm bảo
cho các nhu cầu sử dụng và khả năng thanh toán của mình, đồng thời
cũng buộc các NHTM phải năng động và nỗ lực tìm kiếm các nguồn
khác trên thị trường tài chính trước khi nghĩ đến việc vay từ NHTW.
2.3 Phân loại theo loại đồng tiền huy động
Tuỳ thuộc vào nhu cầu sử dụng của bản thân và khả năng cung cấp
của thị trường mà NHTM có thể huy động vốn bằng các loại tiền tệ khác
nhau. Huy động vốn bằng đồng ngoại tệ, các ngân hàng phải cân nhắc
đến rủi ro hối đoái, lạm phát, lãi suất tương ứng trên thị trường quốc tế để
có lãi suất, kỳ hạn, qui mô huy động cho phù hợp đảm bảo kế hoạch huy
động và hiệu quả.

10
Theo tiêu thức phân loại này, huy động vốn chia làm hai loại :
+ Huy động vốn bằng đồng bản tệ
+ Huy động vốn bằng đồng ngoại tệ
Ở Việt Nam hiện nay, USD và EUR là đồng ngoại tệ chủ yếu được
NHTM tổ chức huy động và nó trở thành một nguồn vốn quan trọng,
chiếm một tỉ trọng không nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động của
NHTM.
2.4 Phân loại theo công cụ huy động
Huy động bằng nghiệp vụ nhận tiền gửi
NHTM thực hiện nghiệp vụ nhận tiền gửi từ các đối tượng khác nhau
như : dân cư, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội ,các ngân hàng, chúng ta
có thể phân các món tiền gửi này theo các nhóm
Tiền gửi thanh toán là tiền gửi không kỳ hạn trước hết được sử
dụng để tiến hành thanh toán chi trả các hoạt động hàng hoá, dịch vụ và
các chi phi phát sinh khác trong quá trình kinh doanh hoạt động một cách
thưòng xuyên, an toàn và thuận tiện. Tiền gửi thanh toán thường dược
bảo quản ở ngân hàng trên hai loại tài khoản : tài khoản tiền gửi thanh

muốn. Trong trường hợp này thì khách hàng sẽ chỉ được nhận với lãi suất
bằng lãi suất gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
Tiền gửi tiết kiệm, đặc biệt là loại có kỳ hạn được đánh giá là nguồn
vốn quan trọng đối với các NHTM bởi tính ổn định và khả naeng cung
ứng cực lớn của thị trường mặc dù chi phí huy động tương đối cao. Nắm

12
giữ nguồn vốn này trong tay, các NHTM vó thể tiến hành cjo vay trung
và dài hạn nhiều hơn với độ rủi ro thanh khoản thấp.
Các NHTM ở nước ta hiện nay đang thiếu vốn để cho vay trung và dài
hạn. Trong tình hình nhu cầu của nền kinh tế về loại vốn này không
ngừng gia tăng, tăng cường huy động tiền gửi tiết kiệm của dân cư đang
là nhiệm vụ trọng tâm của nhiều ngân hàng.
Phát hành kỳ phiếu và trái phiếu
Để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của mình, đặc biệt là việc
cho vay trung và dài hạn, NHTM chủ động huy động vốn bằng việc phát
hành kỳ phiếu và trái phiếu trên thị trường tái chính.
Kỳ phiếu và trái phiếu ngân hàng đều là các giấy tờ nhận nợ của ngân
hàng, trong đó ngân hàng cam kết thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ
cả gốc và lãi cho người nắm giữ nó. Kỳ hạn huy động là điểm khác nhau
cơ bản giữa hai công cụ ghi nợ trên: kỳ phiếu ngân hàng dùng để huy
động vốn ngắn hạn ; trái phiếu ngân hàng dùng để huy động vốn trung và
dài hạn. Kỳ phiếu có thời gian ngắn hơn, tính lỏng hơn trái phiếu nên
được thị trường ưa thích hơn. Vì vậy, các NHTM phát hành kỳ phiếu
thường xuyên hơn phát hành trái phiếu. Trái phiếu thường được các ngân
hàng phát hành để chuẩn bị tài trợ cho những dự án cụ thể có vốn đầu tư
lớn, thời hạn dài.
Huy động vốn qua nghiệp vụ uỷ thác
NHTM thực hiện các nghiệp vụ ủy thác như : ủy thác cho vay. ủy thác
đầu tư, ủy thác giải ngân, ủy thác thu hộ. Theo đó ngân hàng thực hiện

công nhân thất nghiệp… dẫn đến thu nhập của các doanh nghiệp và dân
chúng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, điều đó đồng nghĩa tích luỹ trong nền
kinh tế giảm mạnh. Các nhà đầu tư không muốn đầu tư vào kinh doanh
sản xuất. Và sự lạm phát luôn đi kèm với nền kinh tế suy thoái, làm giá
trị đồng tiền giảm. Tâm lý của dân chúng không muốn gửi tiền vào ngân
hàng để tránh bị trượt giá của đồng tiền, họ chuyển sang cất trữ bằng
ngoại tệ hay vàng để đảm bảo an toàn hơn. Như vậy hoạt động huy động
vốn của ngân hàng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
1.2 Môi trường kinh tế
Sự phát triển của hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán có
ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động huy động vốn của các NHTM.
Khi hệ thống ngân hàng phát triển mạnh mẽ dẫn đến sự cạnh tranh
giữa các ngân hàng với nhau và với các tổ chức tài chính phi ngân hàng
có ảnh hưởng mạnh mẽ trực tiếp đến hoạt động huy động vốn của các
NHTM. Nói chung sự cạnh tranh mà càng gay gắt thì càng bất lợi cho các
ngân hàng, ít nhất là việc gia tăng chi phí đầu vào và thu hẹp giá cả đầu
ra. Tuy nhiên trong cuộc cạnh tranh này thì lại mang cho các ngân hàng
những cơ hội và thách thức, nếu ngân hàng nào biết quản lý và có những
chiến lược tốt thì sẽ chiến thắng. Khi đó ngân hàng sẽ mở rộng được thị
phần cả đầu vào và đầu ra của mình; ngược lại sẽ bị thu hẹp qui mô hoạt
động có thể dẫn tới phá sản.
Sự phát triển của thị trường chứng khoán cũng là một yếu tố ảnh
hưởng đến khả năng huy động vốn của NHTM. Khi thị trường chứng

15
khoán phát triển nó sẽ dễ thu hút được các nguồn vốn của các nhà đầu tư
vì nó có ưu điểm là đầu tư trực tiếp, tinh lỏng cao và nhiều tiện ích hơn.
Tuy nhiên sự phát triển của thị trường chứng khoán không chỉ toàn
những tác động tiêu cực tới hoạt động huy động vốn của NHTM. Nhờ có
thị trường chứng khoán các NHTM sẽ dễ dàng thực hiện trong việc phát

biện pháp sau : tăng lãi suất chiết khấu, bán ra thị trường mở các giấy tờ
có giá ngắn hạn, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Tất cả những động thái này sẽ
dẫn đến sự giảm mức cung tiền trong nền kinh tế, lãi suất gia tăng…
NHTM vì thế rất khó khăn trong hoạt động huy động vốn nói riêng và
các hoạt động kinh doanh khác nói chung. Ngược lại một chính sách tiền
tệ nới lỏng sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho hoạt động huy động vốn
của NHTM.
1.3 Tập quán tiêu dùng, cất trữ và yếu tố tâm lý của khách hàng
Những thói quen thanh toán hoặc cất trữ bằng tiền mặt của một bộ
phận dân cư ở nước ta vẫn rất lớn, thậm chí có cả một số bộ phận tổ chức
kinh tế xã hội ( vì nhiều lí do khác nhau như tính bí mật, hoạt động
ngầm….) đã làm hạn chế khả năng huy động vốn của các NHTM. Dân cư
nắm trong tay một vốn lớn, và nếu tập lập cho họ được thói quen sử dụng
các dịch vụ ngân hàng thì ngân hàng sẽ huy động được một nguồn vốn vô
cùng tiềm năng này.
Tâm lý của khách hàng cũng ảnh hưởng nhiều đến huy động vốn của
ngân hàng. Khi muốn gửi tiền vào ngân hàng thì tâm lý chung của khách

17
hàng muốn gửi vào ngân hàng nào có bề thế, uy tín cao, có lãi suất huy
động vốn hấp dẫn, thủ tục gửi vào rút ra thuận tiện, đặc biệt là phải giữ
được bí mật về việc gửi tiền của họ. Ngân hàng nào thoả mãn được các
yếu tố trên của khách hàng thì ngân hàng đó sẽ được khách hàng lựa
chọn.
2. Những yếu tố bên trong
Trong tình hình cạnh tranh rất gay gắt như hiện nay thì khả năng và
hiệu quả huy động vốn phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh của các
NHTM. Năng lực cạnh tranh đó chủ yếu được thể hiện qua chính sách lãi
suất, chính sách sản phẩm, chính sách ưu đãi và chăm sóc khách hàng.
2.1 Chính sách lãi suất

kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng của một ngân
hàng.

19
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN TỈNH HẢI DƯƠNG
I. Khái quát tình hình hoạt động của ngân hàng
1. Lịch sử hình thành và phát triển
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam được thành lập theo
quyết định số 177/ TTg ngày 26/04/1957 của Thủ tướng chính phủ với
tên gọi Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam trực thuộc bộ tài chính, có nhiệm
vụ quản lý cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Là một thành viên của
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, chi nhánh Hải Dương cũng
được thành lập từ rất sớm ngay từ những ngày đầu của sự nghiệp khôi
phục và phát triển kinh tế. Với số lượng cán bộ có 9 đồng chí: - Đ/c Đặng
Huy Sách giữ chức vụ trưởng chi nhánh , có 2 bộ phận cấp phát và kế
toán. Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh Hải Dương đã trưởng thành
gắn liền với sự nghiệp cách mạng, sự chuyển mình của đất nước, của
ngành và của địa phương với các tên gọi :
Ngân hàng kiến thiết Hải Dương ( 26/4/1957)
Ngân hàng Đầu tư và xây dựng Hải Hưng (1981) trực thuộc Ngân
hàng nhà nước Việt Nam
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Hải Hưng (1991)
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Hải Dương (12/1996)
Đến nay Ngân hàng Đầu tư và phát triên tỉnh Hải Dương đã trở
thành một ngân hàng lớn có tổng tài sản hàng ngàn tỷ đồng, còn có 2
phòng giao dịch tại 2 khu vực công nghiệp quan trọng của tỉnh là Hoàng

20
Thạch ( Kinh Môn) và Tiền Trung (Nam Sách), 2 điểm giao dịch, 12

địa bàn. Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh Hải Dương tham gia đầu tư
có hiệu quả cao vào các công trình dự án mũi nhọn của tỉnh và đất nước
như: Kinh Môn, Thành phố Hải Dương, công trình nông nghiệp và nông
thôn, xây dựng cở sở hạ tầng, văn hoá xã hội.
Công nghệ ngân hàng ngày càng phát triển, từ chỗ lao động thủ công
đến nay chi nhánh đã thiết bị dàn hệ thống vi tính hiện đại, ứng dụng
nhiều tiến bộ kĩ thuật công nghệ vào hoạt động kinh doanh và điều hành,
các chương trình phần mền phục vụ công tác: quản trị điều hành, kế toán,
nguồn vốn, tín dụng, thanh toán quốc tế, ngân quỹ, tiền lương, quản lý hồ
sơ… Do vậy việc hoạch toán, thanh toán, chuyển tiền kịp thời, chính xác,
phục vụ khách hàng thuận tiện, nhanh chóng.
Trong quá trình hội nhập và phát triển, để đáp ứng nhu cầu ngày càng
đa dạng của khách hàng, Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh Hải Dương
đã phát triển và mở rộng các dịch vụ thanh toán trong nước, thanh toán
quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh, đại lý uỷ thác đầu tư… nhằm khai
thác tiềm năng, thế mạnh trên địa bàn như xuất khẩu các sản phẩm nông
sản, các sản phẩm công nghiệp nhẹ của ngành giầy, may và các sản phẩm
thủ công mỹ nghệ khác ra thị trường thế giới, tạo nhiều thuận lợi cho các
doanh nghiệp trong thanh toán…
Ngân hàng đã nhiều năm liền đạt danh hiệu đơn vị xuất sắc trong toàn
bộ hệ thống ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, lá cờ đầu ngành
ngân hàng trên địa bàn tỉnh. Được chủ tịch nước tặng huân chương lao

22
động hạng ba, huân chương lao động hạng nhì. Thủ tướng chính phủ,
Thống đốc ngân hàng nhà nước, chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương, tổng
giám đốc ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam và các cấp ngành
tặng nhiều bằng khen, giấy khen cho tập thể và cá nhân cán bộ công nhân
viên chức. Đản bộ đạt danh hiệu đảng bộ trong sạch vững mạnh. Các tổ
chức đoàn thể vững mạnh xứng đáng là thành viên “Đơn vị anh hùng lao

16,77% 7% 4,6%
5 Giới hạn dư nợ tín
dụng cuối kỳ
801 1.300 1.286
60,5% 98,9%
6 Dư nợ cao nhất trong
kỳ kế hoạch
801 1.350 1.286
7 Doanh thu khác thác
phi Bh
0,085 1,26 1,798
2.015% 142,7%
II
Chỉ tiêu tham
chiếu
8 Trích DPRR
15,0 20,0 24,0
60,0% 120%
9 Tỷ lệ giảm dư lãi treo
với cuối 2006
- -76% -51.3%
10 Tỷ trọng dư nợ TDH
33,8% 60% 45,3%
11 Tỷ trọng dư nợ NQD
72% 50% 69%
12 Tỷ trọng dư nợ có
TSĐB
62% 60% 66%
13 Định biên lao động
112 125 125


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status