Giải pháp tăng cường khả năng huy động vốn tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Hà Thành - Pdf 12

Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Với chức năng là trung gian tài chính, hệ thống Ngân hàng đã giúp luân
chuyển vốn trong nền kinh tế, từ nơi thừa sang nơi thiếu, qua đó nguồn vốn
được sử dụng hiệu quả, góp phần vào quá trình phát triển kinh tế xã hội. Với
các Ngân hàng thương mại như quy mô, thời hạn, cơ cấu tài sản và các hoạt
động dịch vụ ngoại bảng tổng kết tài sản, từ đó quyết định đến khả năng sinh
lời và mức độ rủi ro của Ngân hàng.
Thực hiện đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước, trong những năm
qua, ngành Ngân hàng nói chung và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà
Thành nói riêng đã không ngừng đổi mới và hoàn thiện cho phù hợp với tình
hình mới, tìm tòi và phát triển thêm những hình thức huy động vốn mới nhằm
thu hút thêm nguồn vốn huy động. Chính vì vậy đã góp phần vào sự phát triển
kinh tế xã hội của thủ đô. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó thì Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Hà Thành cũng gặp không ít khó khăn trong việc
huy động vốn trung và dài hạn. Do thực trang kinh tế hiện nay rất khó khăn
khiến điều kiện kinh doanh cũng gặp rất nhiều bất lợi,sự cạnh tranh giữa các
ngân hàng gay gắt về lãi suất cho vay.lãi suất huy động,chi phí dịch vụ..đã
khiến Ngân hàng Đầu từ và Phát triển Hà Thành đứng trước một thách thức
vô cùng lớn.
Nhận thức được vấn đề này, sau một thời gian thực tập tại Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Hà Thành, được tiếp cận với các hoạt động của Ngân
hàng, em đã chọn đề tài: "Một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng huy
động vốn của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Hà Thành" làm
chuyên đề thực tập. Với đề tài này, huy động vốn nợ được tập trung nghiên
cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa những lí luận cơ bản của vấn đề tăng cường khả năng
huy động vốn của Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.
- Phân tích thực trạng phát triển khả năng huy động vốn của Ngân hàng

cho chuyên đề của em hoàn thiện hơn.
Em xin gửi lời cám ơn chân thành tới THS.Đặng Thị Lệ Xuân, người đã
giúp đỡ em trong suốt quá trình làm chuyên đề thực tập, cùng các thầy cô
trong khoa, ban lãnh đạo và các anh chị tại phòng kế hoạch tổng hợp
NHĐT&PT chi nhánh Hà Thành đã nhiệt tình giúp đỡ và tận tình chỉ bảo cho
em trong suốt thời gian qua, giúp em hoàn thành tốt bài chuyên đề thực tập
này.
SV: Phạm Hoàng Nam Lớp: KTPT 47B
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1 . Khái niệm, hoạt động chủ yếu NHTM
1.1.1. Khái niệm NHTM:
Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ
tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và
thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh
doanh nào trong nền kinh tế.
1.1.2. Hoạt động chủ yếu của NHTM:
Hoạt động cho vay
Là hoạt động cung ứng vốn của Ngân hàng trực tiếp cho nhu cầu sản
xuất, tiêu dùng trên cơ sở thoả mãn các điều kiện vay vốn của Ngân hàng.
Đây là hoạt động sinh lời chủ yếu cho Ngân hàng, phần lớn vốn của Ngân
hàng tập trung cho hoạt động này. Khi thực hiện nghiệp vụ cho vay, Ngân
hàng có thể kiểm soát trực tiếp và thường xuyên mục đích sử dụng tiền vay.
Các hình thức cho vay chủ yếu sau:
- Chiết khấu thương phiếu
- Cho vay ứng trước
- Cho vay vượt chi
- Tín dụng uỷ thác hay bao thanh toán

Ngân hàng. Các Ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ
phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ và
tài trợ cho Chính phủ. Các ngân hàng phải mua trái phiếu Chính phủ theo một
tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được hoặc
phải cho vay với các điều kiện ưu đãi cho các doanh nghiệp Nhà nước.
Bảo lãnh
Ngân hàng có thể bảo lãnh cho các khách hàng của mình, với sự bảo
lãnh này khách hàng có thể dễ dàng tiến hành các hoạt động kinh doanh của
mình. Do khả năng thanh toán của ngân hàng rất lớn và do ngân hàng nắm giữ
tiền gửi của khách hàng, nên ngân hàng có uy tín bảo lãnh cho khách hàng.
Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và phát
triển mạnh.
Hoạt động cho thuê thiết bị trung và dài hạn (Leasing)
Các ngân hàng có vốn lớn thường tiến hành mua tài sản về sau đó cho
thuê. Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa
chọn thuê các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua. Hợp
SV: Phạm Hoàng Nam Lớp: KTPT 47B
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
đồng cho thuê thường phải đảm bảo yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3
giá trị của tài sản cho thuê. Do vậy, cho thuê của ngân hàng cũng có nhiều
điểm giống cho vay, và được xếp vào tín dụng trung dài hạn.
Cung cấp dịch vụ uỷ thác tư vấn
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng có rất nhiều chuyên gia
tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản lý
tài sản và hoạt động tài chính. Dịch vụ uỷ thác còn phát triển sang cả uỷ thác
cho vay, uỷ thác đầu tư...
Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm
Các ngân hàng bán bảo hiểm cho khách hàng để đảm bảo trường hợp
khách hàng gặp rủi ro.
Bên cạnh những dịch vụ như trên thì ngân hàng cũng cung cấp một số

Ngân hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ hạn. Người gửi không được sử
dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán để áp dụng đối với
loại tiền gửi này. Nếu cấn chi tiêu, người gửi phải đến ngân hàng để rút tiền
ra. Tuy không thuận lợi cho tiêu dùng bằng hình thức tiền gửi thanh toán,
song tiền gửi có kỳ hạn được hưởng lãi suất cao hơn tuỳ theo độ dài của kỳ
hạn.
* Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: Các tầng lớp dân cư đều có các khoản
thu nhập tạm thời chưa sử dụng (các khoản tiền tiết kiệm). Trong điều kiện có
khả năng tiếp cận với ngân hàng, họ đều có thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện
các mục tiêu bảo toàn và sinh lời đối với các khoản tiết kiệm, đặc biệt là nhu
cầu bảo toàn. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các ngân hàng đều
cố gắng khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà
bằng cách mở rộng mạng lưới huy động, đua ra các hình thức huy động đa
dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn (ví dụ như tiền gửi với các kỳ hạn khác
nhau, tiết kiệm bằng ngoại tệ, bằng vàng…). Ngân hàng có thể mở cho mỗi
người tiết kiệm nhiều chương mục tiết kiệm (hoặc là sổ tiết kiệm) cho mỗi kỳ
hạn và mỗi lần gửi khác nhau. Sổ tiết kiệm này không dùng để thanh toán tiền
hàng và dịch vụ, song có thể thế chấp để vay vốn nếu ngân hàng cho phép.
* Tiền gửi của Ngân hàng khác: Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và
một số mục đích khác, Ngân hàng thương mại này có thể gửi tiền tại Ngân
hàng khác. Tuy nhiên, quy mô này thường không lớn.
1.2.2. Nguồn đi vay:
Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM. Tuy nhiên, khi cần,
NHTM vay mượn thêm. Tại nhiều nước, NHTW thường quy định tỷ lệ giữa
nguồn tiền huy động và vốn của chủ. Do vay nhiều Ngân hàng vào những giai
SV: Phạm Hoàng Nam Lớp: KTPT 47B
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
đoạn cụ thể phải vay mượn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy
động bị hạn chế.
a. Vay Ngân hàng Nhà nước (vay NHTW): Đây là khoản vay nhằm giải

SV: Phạm Hoàng Nam Lớp: KTPT 47B
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
hạn. Do vậy, các khoản vay trung và dài hạn nhằm bổ sung cho các nguồn
tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trung và dài hạn. Thông thường,
đây là khoản vay không có đảm bảo. Những Ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi
suất cao sẽ vay mượn được nhiều hơn. Các Ngân hàng nhỏ thường khó vay
mượn trực tiếp bằng cách này, họ thường phải vay thông qua các ngân hàng
đại lý hoặc được bảo lãnh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển. Khả năng vay
mượn vốn còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị trường tài chính,tạo
khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của Ngân hàng. Nghiệp vụ
vay mượn tương đối phức tạp, Ngân hàng cần nghiên cứu kĩ thị trường để
quyết định quy mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay mượn thích hợp. Các
vấn đề chuyển nhượng, điều chỉnh lãi suất, bảo quản hộ… cũng được các
Ngân hàng quan tâm.
1.2.3. Huy động khác
Loại này bao gồm nguồn uỷ thác, nguồn trong thanh toán, các nguồn
khác.
a. Nguồn uỷ thác
Ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho
vay, uỷ thác đầu tư, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ… Các hoạt
động này tạo nên nguồn uỷ thác tại Ngân hàng.
b. Nguồn trong thanh toán
Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể hình thành nguồn
trong thanh toán (séc trong quá trình chi trả, tiền ký quỹ để mở L/C…).
Những Ngân hàng là Ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ có kết số dư từ
tiền của các Ngân hàng thành viên chuyển về để thực hiện cho vay.
c. Nguồn khác: Các khoản nợ khác như thuế chưa nộp, lương chưa trả…
1.2.4 Ưu và nhược điểm của các hình thức
* Tiền gửi ngân hàng :
- Ưu điểm :

tình trạng nợ xấu, nợ khó đòi.
+ Thủ tục còn nhiều vấn đề, còn chậm rườm rà, mất nhiều thời gian
khiến gây khó chịu cho khách hàng.
* Nguồn đi vay :
- Ưu điểm :
+ Vay của ngân hàng nhà nước có thể được hưởng nhiều lợi ích, nhiều
chương trình hỗ trợ và đảm bảo mức lãi suất thấp cho các ngân hàng cần vay
vốn.
+ Trong nền kinh tế thị trường thì hiện tượng thừa thiếu vốn của các
doanh nghiệp là thường xuyên xảy ra, vì vậy các doanh nghiệp, ngân hàng có
SV: Phạm Hoàng Nam Lớp: KTPT 47B
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
thể huy động trên thị trường vốn đáp ứng được nhu cầu vốn của những doanh
nghiệp thiếu vốn, và giúp các doanh nghiệp khác sử dụng được số vốn tồn
đọng của mình.
- Nhược điểm :
+ Nghiệp vụ vay mượn tương đối phức tạp, cần điều tra thật kĩ lưỡng
để có được quyết định đi vay phù hợp.
+ Các ngân hàng nhỏ thường khó có thể vay vốn do lãi suất cao, nên
chỉ phù hợp với những ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi suất cao.
Có thể thấy các hoạt động trên có nhiều mặt mạnh và yếu riêng biệt,
nhưng đối với tình hình tài chính của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi
nhánh Hà Thành chủ yếu sử dụng loại hình huy động thông quá tiền gửi ngân
hàng( nhận tiền gửi..) và huy động từ các nguồn ủy thác. Các hình thức đó
được chi nhánh sử dung có hiệu quả đem lại nhiều lợi ích và khả năng huy
động vốn cao.
1.3. Vai trò của huy động vốn đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội
và hoạt động kinh doanh của NHTM
1.3.1. Huy động vốn đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội.
Vốn đầu tư có ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế, không những nó tạo ra

Hoạt động tín dụng cần một khối lượng vốn lớn, ổn định và có chi phí thấp.
Chỉ có huy động vốn mới đáp ứng đầy đủ các điều kiện đó. Vốn tự có có tính
chất ổn định cao song không phải ngân hàng nào cũng có một khối lượng vốn
tự có lớn để đáp ứng nhu cầu bên tài sản có. Vốn đi vay không ổn định mà chi
phí vốn lại cao hơn so với huy động vốn từ dân cư và các tổ chức xã hội.
Thông thường, các Ngân hàng nhỏ thường có các khoản mục đầu tư và cho
vay kém đa dạng hơn, phạm vi khối lượng cho vay cũng nhỏ hơn so với các
ngân hàng lớn. Thêm vào đó, do khả năng vốn hạn hẹp nên các ngân hàng
nhỏ không phản ứng nhạy bén với sự biến động về lãi suất, gây ảnh hưởng
đến khả năng thu hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế. Trong khi đó,
ngân hàng có quy môn vốn lớn thì khả năng cho vay cũng tốt hơn, có nhiều
điều kiện hơn trong việc mở rộng các loại hình dịch vụ ngân hàng, đầu tư
công nghệ, nâng cao chất lượng phục vụ, tăng khả năng thu hút các khách
hàng lớn, góp phần mở rộng thị trường tín dụng và các dịch vụ khác.
- Vốn huy động quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của
ngân hàng trên thị trường
SV: Phạm Hoàng Nam Lớp: KTPT 47B
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
Trong nền KTTT, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các ngân hàng phải đặc
biệt coi trọng uy tín. Uy tín được thể hiện trước hết ở khả năng thanh toán,
sẵn sàng chi trả cho khách hàng khi có nhu cầu. Do đó, đòi hỏi ngân hàng
phải có tính chủ động cao đối với nguồn vốn của mình. Nguồn vốn tự huy
động càng lớn, ngân hàng càng nắm được ưu thế trong việc sử dụng vốn và
khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao và ngược lại.
- Vốn huy động quyết định năng lực cạnh tranh của Ngân hàng
Để nâng cao năng lực cạnh tranh đòi hỏi ngân hàng phải tiến hành nhiều
giải pháp mang tính đồng bộ nhưng không ngừng nâng cao chất lượng phục
vụ, đội ngũ cán bộ, hiện đại hoá công nghệ ngân hàng... Để thực hiện được
các biện pháp đó đòi hỏi ngân hàng phải có một lượng vốn lớn. Mặt khác, khả
năng huy động vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối với ngân hàng trong việc mở

vốn không hiệu quả thì ngân hàng cũng sẽ hạn chế khả năng huy động vốn và
ngược lại. Lượng vốn huy động bằng VNĐ về cơ bản đáp ứng tốt nhu cầu cho
vay, đảm bảo cho việc sử dụng vốn có hiệu quả. Tuy nhiên, lượng vốn huy
động bằng USD còn thấp nên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vay USD của
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Công nghệ Ngân hàng: Trong cạnh tranh Ngân hàng không ngừng cải
tiến công nghệ, bởi lẽ các dịch vụ đặc biệt về chuyên môn NH sẽ đa dạng, đổi
mới ngày càng tốt hơn, đáp ứng nhu cầu khách hàng. Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển chi nhánh Hà Thành không ngừng nâng cao công nghệ ngân hàng,
áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật.
Chính sách cán bộ: Một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn được
đặt đúng chỗ luôn tạo nền tảng cho thành công của một tổ chức. Nói chung,
người ta muốn giao dịch kinh doanh với một hạng có bề dày kinh nghiệm và
có đội ngũ cán bộ công nhận viên lịch thiệp và tận tình. Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển chi nhánh Hà Thành luôn tạo điều kiện cho nhân viên không ngừng
trau dồi, nâng cao kiến thức, tham gia các khoá học về nghiệp vụ để nâng cao
trình độ chuyên môn. Hàng năm, ngân hàng vẫn thường xuyên cử cán bộ đi
học cao học, cũng như tham gia các khóa học nhằm hoàn thiện nghiệp vụ
chuyên môn của mình.
Chính sách quảng cáo: Không thể phủ nhận vai trò to lớn của ngành
quảng cáo hiện nay. Ngân hàng nếu làm tốt công tác này thì có khả năng huy
động được nhiều vốn hơn.Sử dụng triệt để phương pháp quảng cáo có thể sẽ
mang về rất nhiều lợi ích cho các ngân hàng nói chung và với ngân hàng Đầu
tư và Phát triển chi nhánh Hà thành đã từng bước thực hiện có hiệu quả, và áp
dụng tốt các chính sách quảng cáo.
SV: Phạm Hoàng Nam Lớp: KTPT 47B
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
1.4.2- Nhân tố khách quan
Nhân tố tiết kiệm của nền kinh tế: Nguồn vốn huy động của ngân hàng
chủ yếu là nguồn vốn của dân cư, tổ chức kinh tế, ... Do vậy, nếu các đơn vị

Thực hiện việc thanh toán giữa các tổ chức và cá nhân trong và ngoài
nước.
Thực hiện cho vay, bảo lãnh tài trợ thương mại, kinh doanh ngoại tệ đối
với các tổ chức kinh tế và cá nhân trong địa bàn thành phố Hà Nội nhằm phục
vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển.
- Huy động vốn bằng nội tệ và ngoại tệ từ dân cư và các tổ chức kinh
tế với nhiều hình thức ( tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn, phát
hành trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, tiền gửi của các tổ chức kinh
tế…)
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng VND và ngoại tệ.(trong
đó cho vay trung, dài hạn đầu tư phát triển, cho vay các dự án theo chỉ định
của Chính phủ, cho vay thiết bị theo hình thức cho thuê tài chính, cho vay hỗ
trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho vay mua nhà trả góp…)
- Làm đại lý uỷ thác cấp vốn, cho vay từ nguồn hỗ trợ phát triển chính
thức của Chính phủ của các nước, các tổ chức tài chính, tín dụng nước ngoài
và trong nước đối với các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam.
Đầu tư dưới hình thức: hùn vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh
tế, tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, cho vay đồng tài trợ.
2.2- Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
chi nhánh Hà Thành:
2.2.1. Diễn biến quy mô vốn huy động, tín dụng và các hoạt động khác:

Biểu 1 : Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2008
SV: Phạm Hoàng Nam Lớp: KTPT 47B
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
Đơn vị: tỷ đồng, %
TT Chỉ tiêu TH 2006 TH 2007 KH 2008
TH
31/12/08
% HT


2.1
Thu nợ hạch
toán ngoại
bảng gốc
64.50 1.70 1.80 105.9%
2.2
Thu nợ hạch
toán ngoại
bảng lãi
13.30
3
Tỷ lệ nợ
xấu, nợ quá
hạn

3.1 Tỷ lệ nợ xấu 3.70 2.40 2.00 1.35 65.5%
3.2
Tỷ lệ nợ xấu
gộp
2.40 2.00 1.35 65.5%
4
Cơ cấu tín
dụng

4.1
Dư nợ
TDH/Tổng
dư nợ
15.52 21.00 15.60 74.3

kinh doanh

1
Chênh lệch
thu chi thực
(không gồm
thu nợ
HTNB,
trước trích
DPRR)
54 129 115.00 131.30 114.2
2
Trích Dự
phòng rủi
ro (thương
mại)
78.84 9.90 9.90 100.0

Số phải
trích
59.00 9.90
3
CLTC thực
BQ đầu
người
0.181 0.84 0.77
V
Định biên
lao động
1

không kỳ hạn là do trong năm chi nhánh mở rộng công tác với các công ty
chứng khoán,các công ty quản lý quỹ,cung ứng dịch vụ một cách toàn diện và
hiệu quả cho nhóm khách hàng này.Do vậy thị trường bị tác động bởi xu
hướng giảm lãi suất và tác động ngược của thị trường chứng khoán cũng như
việc đầu tư, đầu cơ vào bất động sản,khiến cho luồn tiền gửi có kì hạn của dân
cư giảm mạnh nhưng chi nhánh vẫn duy trì được nền vốn tiền gửi thanh toán
với quy mô lớn.
-Tín dụng
Tăng trưởng tín dụng trong giới hạn cho phép,dư nợ tín dụng tại thời
điểm 31/12/2008 đạt 1.546 tỷ VND(tăng trưởng 14% so với đầu năm),gắn
chặt việc tăng trưởng các nguồn vay với yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu
quả,bảo đảm an toàn trong hoạt động.Những tháng đầu năm,chi nhánh cũng
gặp nhiều khó khăn trong việc giải ngân tín dụng,dư nợ tín dụng gặp nhiều
khó khăn trong thời gian dài, ảnh hưởng đến nhiều hoạt động của chi nhánh
SV: Phạm Hoàng Nam Lớp: KTPT 47B
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
như dịch vụ,thanh toán….Trước khó khăn,thách thức đó tập thể cán bộ chi
nhánh đã tập chung toàn lực cho việc tìm ra nhưng hướng đi,phát triển khách
hàng,khai thác sản phẩm mới,do vậy bước vào quý 3 hoạt động của chi nhánh
đã thực sự khởi sắc và có nhiều kết quả đáng khiách lệ.
Trong năm,chi nhánh đã đẩy mạnh việc triển khai các sản phẩm tín dụng
tiêu dùng như sản phẩm cho vay mua ôtô, cho vay sinh viên (trường đại hoc
FPT) cho vay mua hoặc sửa chữa nhà, cho vay cầm cố chứng khoán, cho vay
ứng trước tiền bán chứng khoán đồng thời đẩy mạnh tín dụng tài trợ xuất
nhập khẩu.
SV: Phạm Hoàng Nam Lớp: KTPT 47B
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
Biểu 2 : Cụ thể từng mặt hoạt động năm 2008
Đơn vị: Tỷ đồng, %


3 Tỷ lệ nợ xấu 3.76 2.40 1.47 1.31 2.00 65.5
4 Tỷ trọng dư nợ bán lẻ 6.81 5.25 5.10 5.00 102.0
5 Thu dịch vụ ròng 10.11 18.15 34.50 35.8 30.00 119.33
6 DT khai thác bảo hiểm - 1.20 1.60 1.64 1.60 102.5
II. NHÓM CHỈ TIÊU THAM CHIẾU
1 Thu nợ HTNB (gốc và lãi) 78.00 1.80 1.80 1.70 106
2 Trích DPRR 19 25.00 9.90 9.90 9.90 100
3 Tỷ trọng dư nợ TDH 16 15.52 16.78 15.60 21.00 74.3
4 Tỷ trọng dư nợ NQD 83 93.67 93.57 93.01 92.00 101.1
5 Tỷ trọng dư nợ có TSĐB 76 84.92 64.70 78.35 75.00 104.5
III. NHÓM CHỈ TIÊU QUẢN TRỊ ĐIỀU HÀNH
1 Tỷ lệ nợ quá hạn 1.07 5.91 2.33
2 HĐV cuối kỳ 3,112.9 4,888 5,256 5,004.8 4,660 107.4
3 HĐV Bình quân 2,183. 4,121 4,600 4,483 4.500 99.62
4 Dư lãi treo của dư nợ nội bảng 1.2 5.8 8 7.36 2.78 264.75
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
Ngay từ đầu năm 2008, sau khi NHTM CP FPT được cấp giấy phép
thành lập và chuyển khoản 1000 tỷ đồng sang NHNN, Chi nhánh đã rất tích
cực trong việc huy động tiền gửi của tổ chức đặc biệt của các Công ty Chứng
khoán, các Công ty Quản lý Quỹ để bù đắp các khoản tiền trên. Đồng thời,
Chi nhánh cũng luôn đẩy mạnh công tác huy động vốn, điều hành chính sách
lãi suất thích hợp cùng với việc tăng cường, tiếp thị các khách hàng lớn.
Tuy nhiên do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, diễn
biến phức tạp của thị trường tiền tệ năm 2008, cũng như sự sụt giảm mạnh mẽ
của Thị trường chứng khoán, dư tiền gửi của các Công ty chứng khoán, Công
ty Quản lý quỹ, Trung tâm GDCK Hà Nội, Trung tâm lưu ký đã giảm hơn
50% so với năm 2007, đã ảnh hưởng bất lợi đến công tác huy động vốn của
chi nhánh. Huy động vốn cuối kỳ của Chi nhánh ước đến 31/12/2008 chỉ đạt
5.004 tỷ VND, bằng 2.4% so với năm 2007 trong khi đó tổng nguồn vốn huy
động của toàn hệ thống tăng trưởng 19% so với năm trước. Đặc biệt là tiền

Trên nền lãi suất tiếp tục tăng cao và biến động phức tạp, Chi nhánh luôn
kịp thời thay đổi lãi suất cho vay phù hợp với thị trường, đảm bảo tuân thủ lãi
suất cho vay tối đa theo quy định của Hội sở chính và các quy định của Ngân
hàng Nhà nước. Kiểm soát cho vay bất động sản, cho vay kinh doanh chứng
khoán theo đúng tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam.
Tăng trưởng tín dụng trong giới hạn cho phép, dư nợ tín dụng tại thời
điểm 31/12/2007 đạt 1.546 tỷ VND (tăng trưởng 14% so với năm 2006),
31/12/2008 đạt 2.289 tỷ VND (tăng trưởng 48,05% so với năm 2007 mặc dù
trong năm 2008 dư nợ cho vay các Công ty Chứng khoán và Repo trái phiếu
của Chi nhánh giảm 450 tỷ VND so với 31/12/2007), gắn chặt việc tăng
trưởng các khoản vay mới với yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả, đảm
bảo an toàn trong hoạt động. Nợ xấu, nợ quá hạn được kiểm soát chặt chẽ.
Tập trung thu hồi các khoản tín dụng đáo hạn và lãi vay của các khoản thu
này, dốc sức tận thu lãi treo, kiên quyết không để lãi treo phát sinh. Tập trung
quyết liệt xử lý nợ xấu. Thắt chặt cho vay tiêu dùng, kiểm soát cho vay đầu tư
kinh doanh chứng khoán và bất động sản.
Tín dụng phát triển theo đúng định hướng của Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam, tập trung phục vụ khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh,
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Những nỗ lực phấn đấu của Chi nhánh trong năm
2008 đã góp phần nâng số khách hàng quan hệ tín dụng với Chi nhánh từ 80
khách hàng là doanh nghiệp với tổng dư nợ 1.228 tỷ VND lên 145 khách hàng
là doanh nghiệp quan hệ vay vốn thường xuyên với dư nợ tín dụng của Chi
nhánh đạt gần 2.300 tỷ VND trong đó, 93% khách hàng là khách hàng ngoài
SV: Phạm Hoàng Nam Lớp: KTPT 47B
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
quốc doanh. Những tháng đầu năm 2008, Chi nhánh cũng gặp nhiều khó khăn
trong việc giải ngân tín dụng, dư nợ tín dụng giảm trong một thời gian dài,
ảnh hưởng đến những hoạt động khác của chi nhánh như dịch vụ, thanh
toán….

Nam, cũng như tìm ra được hướng đi đúng đắn và với một tinh thần nỗ lực,
sáng tạo của một tập thể đoàn kết nhất trí, đến 31/12/2008 Chi nhánh đã đạt
được kết quả sau:
- Chênh lệch thu chi (Không bao gồm thu nợ hạch toán ngoại bảng)
trong năm 2007 đạt 129 tỷ VND (Trong đó có 24 tỷ VND thu từ hoạt động
đầu tư), tăng trưởng 252,5% so với năm 2006; Năm 2008 đạt 131.3 tỷ VND,
hoàn thành 114.17% KH TW giao (trong đó thu từ hoạt động đầu tư đạt 321
triệu VND), tăng trưởng 102% so với năm 2007.
- Có thể thấy rằng chênh lệch thu chi của Chi nhánh đã có bước chuyển
biến tích cực theo thông lệ quốc tế. Nếu trong năm 2007 thu từ tiền gửi và
hoạt động đầu tư chiếm tỷ trọng lớn trong chênh lệch thu chi của Chi nhánh,
thu từ dịch vụ chỉ chiếm 14% thì bước sang năm 2008 thì thu từ dịch vụ
chiếm 30% chênh lệch thu chi.
- Năng suất lao động bình quân; Chênh lệch thu chi không bao gồm thu
nợ hạch toán ngoại bảng bình quân đầu người năm, năm 2008 đạt 770 triệu
đồng/người cao hơn mức bình quân của khối Chi nhánh (mức bình quân đạt
480 triệu đồng/người. Lợi nhuận sau thuế bình quân đầu người năm 2008 đạt
462 triệu VND.
- Trích DPRR năm 2008 đạt 9,9 tỷ VND đảm bảo trích đúng trích đủ
DPRR của năm.
- Thu nợ hạch toán ngoại bảng đạt 106% kế hoạch HSC giao mặc dù Chi
nhánh gặp rất nhiều khó khăn trong công tác phát mại tài sản do ảnh hưởng
thị trường bất động sản đóng băng.
- Chỉ tiêu thu dịch vụ:
Năm 2008, bằng quyết tâm và tư duy sáng tạo, Chi nhánh Hà Thành đã
thu được những kết quả mang ý nghĩa đột phá trong hoạt động dịch vụ, hoàn
thành xuất sắc kế hoạch dịch vụ được giao: Thu dịch vụ ròng của Chi nhánh
trong năm 2007 đạt hơn 18 tỷ VND tăng trưởng 80% so với năm 2006, hoàn
thành 106% kế hoạch năm 2007; tiếp tục đà tăng trưởng đó, thu dịch vụ năm
2008 của Chi nhánh đạt 35.8 tỷ VND, tăng 97.25% so với năm 2007 và hoàn

Năm 2008, Chi nhánh Hà Thành cũng như toàn hệ thống gặp không ít
khó khăn trong hoạt động tín dụng. Sức ép về nâng cao chất lượng hoạt động
hướng tới chuẩn mực quốc tế kèm theo tác động của nền kinh tế hấp thụ vốn
kém, lãi suất cho vay tăng cao khiến cho dư nơ tín dụng những tháng đầu năm
sụt giảm, đồng thời, kế hoạch thu nợ ngoại bảng được nêu ra rất cấp thiết. Để
giải quyết những vấn đề này, chi nhánh đã đề ra nhiều biện pháp, chính sách
khách hàng để thúc đẩy hoạt động theo đúng chỉ đạo và định hướng của hệ
thống. Kết quả là:
SV: Phạm Hoàng Nam Lớp: KTPT 47B

Trích đoạn CHƯƠNG III TƯ VÀ PHÁT TRIỂN CHI NHÁNH HÀ THÀNH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status