Thực trạng và một số giải phỏp nâng cao chất lượng tín dụng tại NHNo & PTNT huyện Thanh Trì - Pdf 29

PHẦN I: MỞ ĐẦU.
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Ngân hàng thương mại(NHTM) là một trong những trung gian tài chính
quan trọng của nền kinh tế, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển như
Việt Nam. Thông qua hoạt động của mình, các NHTM đã góp phần huy động
sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy sản xuất và lưu thông
hàng hóa phát triển, là công cụ để điều hòa vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu của
nền kinh tế một cách hữu hiệu. Bên cạnh đó, hệ thống NHTM đã trở thành cầu
nối trung gian của ngân hàng Trung ương(NHTƯ) trong việc thực hiện các
chính sách kinh tế quốc gia, góp phần phát triển kinh tế xã hội. Với thị phần
chiếm hơn 70% cả về huy động vốn và cho vay, các NHTM đang giữ vị trí
thống lĩnh trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng của nước ta.
Trong những năm qua, hệ thống NHTM đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ
về quy mô và chất lượng các hoạt động với sự đa dạng về các loại hình dịch vụ
cung cấp, cụ thể như: thiết lập các chi nhánh, các phòng giao dịch, các ngân
hàng bán lẻ trực thuộc từ trung ương đến địa phương… với các dịch vụ như là:
bảo lãnh, thanh toán, kinh doanh kiều hối, chứng khoán... Tuy nhiên, hoạt động
tín dụng vẫn là hoạt động bao trùm, là dịch vụ sinh lời chủ yếu và là lĩnh vực
chứa đựng nhiều rủi ro nhất.
Quả đúng như vậy, hầu hết các hoạt động của ngân hàng nước ta hiện nay
phụ thuộc phần lớn vào nguồn vốn mà hoạt động tín dụng cung cấp. Cho nên,
nó giữ một vị trí rất quan trọng trong các hoạt động của ngân hàng. Hoạt động
tín dụng là hoạt động rất nhạy cảm liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế khác
nhau, chịu sự tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan như: kinh tế,
chính trị, xã hội, sự cạnh tranh găy gắt của các ngân hàng và TCTD khác… nên
chứa đựng rất nhiều rủi ro.
Việc gia nhập WTO đã mở ra những cơ hội phát triển mới cho các hoạt
động tín dụng của hệ thống ngân hàng nước ta nói chung và NHTM nói riêng.
Các ngân hàng có điều kiện mở rộng thị trường, tận dụng những kinh nghiệm
quản lý, kế thừa các thành tựu công nghệ, tiếp cận và chuyên môn hóa các
nghiệp vụ ngân hàng hiện đại từ đó cải thiện chất lượng tín dụng, nâng cao hiệu

tại các ngân hàng thương mại.
+ Tìm hiểu tổng quan tình hình tín dụng của ngân hàng Việt Nam nói
chung và thực trạng hoạt động tín dụng tại NHNo & PTNT huyện Thanh Trì
nói riêng.
+ Qua dó đưa ra được những đánh giá và một số giải pháp nâng cao chất
lượng tín dụng tại ngân hàng.
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu:
+ Thực trạng và một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng tín dụng của hệ
thống ngân hàng thương mại trong và ngoài nước.
+ NHNo & PTNT huyện Thanh Trì.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu:
+ Nội dung: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng
tại NHNo và PTNT tại huyện Thanh Trì.
+ Thời gian:
Tài liệu được thu thập từ năm 2005 đến năm 2007.
Thời gian thực hiện đề tài: từ ngày 12/01/2008 đến ngày 12/05/2008
+Không gian: NHNo & PTNT huyện Thanh Trì
PHẦN II:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.
2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN:
2.1.1 Khái niệm, đặc điểm và các loại hình tín dụng ngân hàng:
2.1.1.1 Khái niệm:
Tín dụng là một phạm trù kinh tế, phản ánh quan hệ vay mượn giữa các
chủ thể trong nền kinh tế theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời
hạn, có mục đích và bảo đảm tiền vay. Theo nghĩa nguyên thủy, tín dụng
( credit) là sự tin tưởng, tín nhiệm mà cho vay mượn các loại vật tư, hàng hóa,
tiền tệ. Như vậy, tín dụng không chỉ là sự vay mượn thông thường mà là sự vay
mượn với một mức tín nhiệm nhất định; tức là khi thực hiện quyền cho vay,
người cho vay tin vào khả năng trả nợ của người đi vay. Hiểu theo nghĩa rộng,

kinh tế.
2.1.1.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng:
Tín dụng ngân hàng huy động vốn và cho vay đều thực hiện dưới hình
thức tiền tệ.
Như chúng ta đã biết, tín dụng hình thành và phát triển gắn liền với quá
trình hình thành và phát triển của nền sản xuất hàng hóa(SXHH). SXHH càng
phát triển thì nhu cầu đầu tư và mở rộng cho sản xuất càng gia tăng. Trong khi
các hình thức tín dụng khác chỉ đáp ứng được nhu cầu của xã hội trong một giới
hạn nào đó (VD như: tín dụng thương mại chỉ áp dụng với đối tượng cho vay là
hàng hóa bán chịu hay tín dụng nhà nước đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu của
Chính phủ, các NHTƯ) thì TDNH lại có khả năng đáp ứng phần lớn cho nhu
cầu về vốn của các hoạt động kinh tế, xã hội cả trong ngắn hạn và dài hạn. Xuất
phát từ đối tượng kinh doanh của ngân hàng chính là tiền tệ cho nên hầu hết các
hoạt động của ngân hàng đều liên quan đến tiền và hoạt động tín dụng cũng như
vậy. Tiền là một công cụ có khả năng lưu thông rất nhanh chóng, thuận lợi
trong dữ trữ, thanh toán, và dễ dàng chuyển đổi thành các hình thức khác như là
hàng hóa hay là các công cụ tương đương tiền. Với các chức năng đặc biệt như
vậy, tiền và các công cụ tương đương tiền đã góp phần đưa TDNH tham gia vào
rất nhiều lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế. Bằng cơ chế lãi suất thích hợp và
mạng lưới chi nhánh rộng khắp, các ngân hàng có khả năng thu hút tối đa
nguồn lực tài chính và phân phối chúng để đáp ứng cho nhu cầu vay vốn của
toàn xã hội.
Trong tín dụng ngân hàng, các ngân hàng đóng vai trò là tổ chức trung
gian tài chính trong quá trình huy động vốn và cho vay vốn.
Ngân hàng hoạt động chủ yếu là dựa vào nguồn vốn huy động được từ
nền kinh tế. Để hoạt động kinh doanh của ngân hàng thực hiện hiệu quả thì cần
phải thực hiện tốt cả 2 hoạt động: huy động vốn và cho vay. Khi huy động vốn
ngân hàng thực hiện vai trò là người đi vay, còn khi ngân hàng thực hiện cấp tín
dụng thì ngân hàng thực hiện vai trò là người cho vay. Ngân hàng đứng ở vị trí
trung gian trong việc phân phối lại nguồn tài chính nhàn rỗi của những người

+Cho vay nông nghiệp.
+Cho vay các định chế tài chính.
+Cho vay cá nhân.
+Cho thuê.
Phân loại theo thời hạn cho vay:
+Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn đến 12 tháng được sử
dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của
cá nhân.
+Cho vay trung hạn: là là khoản vay có thời hạn từ 12 tháng đến 5 năm
được dung vào đầu tư TSCĐ và còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường
xuyên của các doanh nghiệp đặc biệt là ngững doanh nghiệp mới thành lập.
+Cho vay dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn
tối đa có thể lên đến 20 đến 30 năm. Được dùng đáp ứng cá nhu cầu dài hạn.
Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
+Cho vay không đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, câm
cố hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của
khách hàng.
+Cho vay có đảm bảo: là loại cho vay dựa trên các cơ sở đảm bảo như
thế chấp, cầm cố hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba.
Phân loại theo phương pháp hoàn trả:
+Cho vay có thời hạn: là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể
theo hợp đồng.
+Cho vay không có thời hạn cụ thể: với hình thức này ngân hàng có thể
yêu cầu hoặc người đi vay tự nguyện trả nợ vào bất kì lúc nào, nhưng phải báo
trước 1 thời hạn hợp lí, thời gian này có thể được thỏa thuận trong hợp đồng.
Phân loại theo xuất xứ tín dụng:
+Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu,
đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ cho ngân hàng.
+Cho vay gián tiếp: là các khoản cho vay được thực hiện thông qua việc
mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh

chính những ưu điểm của TDNH, do việc ngân hàng có thể cho vay số tiền lớn
hơn nhiều so với số vốn tự có hoặc sự chuyển hóa thời hạn và phạm vi tín dụng
rất rộng.
2.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng:
Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung, tích tụ và điều hòa vốn
giữa các chủ thể trong nền kinh tế.
Việc tập trung và tích lũy vốn có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh
tế đang phát triển như nước ta. Đứng trước các yêu cầu cấp bách cho sự phát
triển kinh tế đòi hỏi 1 lượng vốn lớn tập trung cho việc phát triển các ngành và
các vùng kinh tế. Hiện nay, nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi được nắm giữ ở các
chủ thể khác nhau trong nền kinh tế là rất lớn. Nhưng nhiều người tích lũy
không muốn đầu tư bởi vì họ bị hạn chế về khả năng và kiến thức tài chính.
Trong khi đó, hệ thống tín dụng ngân hàng có đủ độ tin cậy do tính chuyên môn
hóa cao và làm giảm bớt rủi ro các cá nhân của những người tích lũy. Do đó,
TDNH làm cho quá trình tập trung vốn được thực hiện nhanh chóng và có hiệu
quả, tăng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là nguồn vốn dài
hạn.
Trong nền kinh tế thị trường, vấn đề hiệu quả tài chính được đặt lên hàng
đầu và việc tính toán sử dụng vốn bao giờ cũng gắn liền với chi phí bỏ ra bao
gồm cả chi phí cơ hội. Một khi vốn tạm thời nhàn rỗi chưa được sử dụng thì sẽ
lãng phí và tốn kém chi phi cơ hội do vốn chưa được sử dụng vào mục tiêu sinh
lợi. Khi ấy, vốn cần được đem cho vay hay phân phối lại từ nơi tạm thời nhàn
rỗi sang nơi thiếu hụt vốn. Ngược lại, khi thiếu hụt vốn cần có sự bổ sung kịp
thời nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục
hoặc tăng trưởng như hoạch định. Nhờ có TDNH, việc điều hòa hay phân phối
lại nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu có thể được thực hiện 1 cách nhanh
chóng kịp thời, tránh hiện tượng tồn đọng nguồn vốn gây lãng phí cho nền kinh
tế.
Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kích thích sản xuất và lưu thông hàng hóa
phát triển.

các công cụ trực tiếp như: hạn mức tín dụng, lãi suất, tỷ giá đồng thời thiết lâp
và bước đàu sử dụng các công cụ gián tiếp như dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn,
nghiệp vụ thị trường mở… đã góp phần giúp nhà nước tăng cường phạm vi và
hiệu quả điều tiết kiểm soát tiền tệ. góp phần quan trọng trong ổn định hệ thống
tài chính, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo vốn cho quá trình tăng trưởng kinh tế và tạo
điều kiện phát triển thị trường tiền tệ.
Tín dụng góp phần nâng cao đời sống của nhân dân và thực hiện các
chính sách xã hội của nhà nước.
Với hệ thống ngân hàng rộng khắp, TDNH giúp cho mọi người dân có
thể tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng từ đó có điều kiện nâng cao thu nhập
và chất lượng cuộc sống. Gắn trách nhiệm của người dân đối với nguồn vốn
vay, tạo sức ép buộc chủ thể kinh doanh phải thiết lập và phát triển các dự án
kinh doanh có hiệu quả để vừa có thể trả lãi ngân hàng đồng thời kinh doanh có
lãi, tái sản xuất sức lao động, làm giàu cho mình và cho xã hội.
Nhà nước sử dụng TDNH không chỉ là 1 công cụ thực hiện các chính
sách điều tiết kinh tế mà còn hướng tới các mục tiêu xã hội nhằm giải quyết các
vấn đề cấp bách đang diễn ra hiện nay là xóa đói giảm nghèo, dân số, việc
làm…Với việc áp dụng các ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện và thời hạn vay
cho các đối tượng chính sách và các hộ nghèo, TDNH đã đóng vai trò rất quan
trọng trong thực hiện xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, giải quyết công ăn
việc làm, xây dựng đội ngũ cán bộ cho địa phương giảm dần khoảng cách
chênh lệch giữa nông thôn và thành thị.
Tín dụng góp phần mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
Trong nền kinh tế mở, nhu cầù vay vốn nước ngoài trở thành nhu cầu bức
thiết đối với nhiều quốc gia. Việt Nam là một đất nước đang phát triển cho nên
nguồn vốn vay từ nước ngoài là một nguồn lực rất quan trọng trong thúc đẩy
phát triển kinh tế. Tận dụng được nguồn vốn vay từ nước ngoài nước ta có điều
kiện nâng cao năng lực sản xuất, tiếp cận trình độ công nghệ hiện đại và kinh
nghiệm quản lí của các nước trên thế giới. Đồng thời mở rộng các quan hệ hợp
tác và khẳng định được vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Bởi vì, khi

ổn giá và thực hiện các mục tiêu tăng trưởng kinh tế đất nước.
Công thức tính của LSTD được xác định như sau:
Lãi suất tín dụng
=
Tổng lợi tức tín dụng thu được trong kỳ
Tổng doanh số cho vay trong kỳ
Mặc dù, LSTDNH giữ một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế nhưng
nó là một biến số rất nhạy cảm và chịu nhiều tác động từ các yếu tố khác nhau
bao gồm cả yếu tố kinh tế và phi kinh tế. Xét về mặt lý thuyết, LSTDNH cũng
là một loại giá của tiền tệ vì nó là cái giá phải trả để có được quyền sử dụng vốn
vay. Đã là giá cả của hàng hóa thì luôn luôn phải chịu sự tác động của các quy
luật cung cầu trên thị trường. Khi nhu cầu vốn thị trường tăng lên mà khả năng
cung cấp vốn không thể đáp ứng được thì lãi suất cho vay có xu hướng tăng lên
và ngược lại. Đây là vấn đề mang tính quy luật trong nền kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, LSTDNH là một loại hàng hóa đặc biệt. Đặc điểm làm nên sự khác
biệt của LSTDNH so với các loại giá cả thông thường khác ở chỗ, giá cả của
các hàng hóa thông thường được hình thành trên cơ sở giá thành là chủ yếu; các
yếu tố về quan hệ cung cầu trên thị trường có ảnh hưởng nhất định đến sự tăng
giảm giá của giá cả trên thị trường nhưng không phải là quyết định; thường có
tính chất tạm thời và phạm vi ảnh hưởng, tác động của nó là không lớn. Trong
khi đó, LSTDNH thường được xác định bằng “giá mua vào” tức là “giá vốn”
trên thị trường và chi phí sử dụng vốn. Giá vốn và chi phí sử dụng vốn thì luôn
luôn chịu sự chi phối của các quy luật cung cầu về vốn, mà các quan hệ cung
cầu trên thị trường vốn thì thường xuyên có sự biến động và gắn liền với đặc
điểm kinh tế - xã hội nơi các ngân hàng hoạt động. Vì vậy, các quy luật cung
cầu trên thị trường vốn là yếu tố tác động mang tính chất quyết định đối với sự
biến động của LSTDNH. Ngoài ra, LSTD còn chịu sự tác động của nhiều yếu tố
khác như: tỷ lệ lạm phát hàng năm, kỳ hạn ngân hàng hay các chính sách tài
khóa và tiền tệ của Nhà nước.
2.1.3.2. Các loại lãi suất tín dụng:

+ Lãi suất nội tệ là lãi suất để huy động vốn hoặc cho vay bằng đồng nội
tệ trên thị trường vốn trong nước.
+ Lãi suất ngoại tệ là lãi suất dung để huy động vốn hoặc cho vay bằng
dồng ngoại tệ trên thị trường vốn trong nước.
2.1.4 Chất lượng tín dụng:
2.1.4.1 Khái niệm:
Trong bất kì một hoạt động kinh doanh nào chất lượng hoạt động, chất
lượng sản phẩm luôn là yếu tố quyết định tới sự thành công của mỗi doanh
nghiệp, đối với ngân hàng cũng như vậy.
Ngân hàng là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ,
tín dụng là sản phẩm đặc biệt và chiếm vị trí chủ yếu trong mọi hoạt động của
ngân hàng. Chính vì vậy chất lượng hoạt động ngân hàng được thể hiện rõ nét
nhất qua chất lượng của hoạt động tín dụng.
Khái niệm về chất lượng tín dụng là một phạm trù rộng bao hàm nhiều
nội dung về khả năng tài chính ngân hàng, mức độ thích nghi với sự thay đổi
môi trường, khả năng thu hút khách hàng, tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ nợ quá hạn,
trình độ quản lí, trình độ cán bộ CNV …Chất lượng tín dụng thể hiện ở khả
năng đáp ứng nhu cầu khách hàng, đáp ứng nhu cầu phát triển của ngân hàng và
mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Cụ thể như sau:
Đối với khách hàng: Chất lượng tín dụng thể hiện ở mức độ thỏa mãn của
khách hàng qua các hình thức tín dụng và dịch vụ mà ngân hàng cung cấp. Xét
về góc độ huy động vốn và cho vay thì ngân hàng cần phải có quy trình thủ tục
hồ sơ đơn giản, thực hiện nhanh chóng, lãi suất đầu vào cao, lãi suất đầu ra
thấp, đáp ứng đủ nhu cầu vay vốn và không gây phiền hà cho khách hàng.
Đối với ngân hàng: Chất lượng tín dụng thể hiện ở chỗ ngân hàng có
hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch hàng năm. Tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ an toàn vốn
có phù hợp với các tiêu chuẩn của nhà nước nước quy định và các chuẩn mực
thông lệ quốc tế. Tốc độ phát triển nguồn vốn và dư nợ có đảm bảo với khả
năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường tài chính hay không?...
Đối với góc độ kinh tế xã hội: Chất lượng tín dụng thể hiện ở chỗ hoạt

ngân hàng, đảm bảo cho tăng cường CSVC – KT, đào tạo và nâng cao trình độ
cho cán bộ CNV. Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng tín dụng cũng góp phần
nâng cao khả năng đáp ứng cho nhu cầu của khách hàng, thúc đẩy quá trình
phát triển KT –XH của địa phương và đất nước.
2.1.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng:
a) Tỷ lệ nợ quá hạn/ tổng dư nợ:
Tỷ lệ nợ quá hạn được tính theo công thức sau:

Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng
của NHTM. Bởi vì chỉ tiêu này thể hiện chất lượng của những khoản vay. Khi
tỷ lệ này vượt mức giới hạn cho phép nó thể hiện sự yếu kém của hoạt động tín
dụng. Chính vì vậy, tỷ lệ này càng thấp thì chất lượng hoạt động tín dụng của
ngân hàng càng cao. Theo chuẩn mực quốc tế chỉ tiêu này nằm trong khoảng từ
2% - 5% là có thể chấp nhân được.
Theo quy định số 493/QĐ – NHNN ngày 22/4/2005 về việc ban hành
quy định phân loại nợ, trích lập và dử dụng dự phòng để xử lí rủi ro và quyết
định số 18/2007/QĐ- NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc NHNN về việc
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Nợ quá hạn
Tổng dư nợ
bổ sung sửa đổi một số điều của Quyết định 493, nợ của các NHTM được phân
thành 5 nhóm bao gồm:
+ Nợ nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn.
+ Nợ nhóm 2: Nợ cần chú ý.
Bao gồm: Các khoản nợ quá hạn 90 ngày và các khoản cơ cấu lại thời
hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn đã cơ cấu lại.
+ Nợ nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn.
Là các khoản nợ quá hạn từ 90 – 180 ngày hoặc là cá khoản nợ cơ cấu lại
thời hạn trả nợ quá hạn 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại.
+ Nợ nhóm 4: Nợ nghi ngờ.

đánh giá hiệu quả của hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Công thức tính cụ thể như sau:
- Xét về mặt tuyệt đối:
Lợi nhuận từ
hoạt động tín dụng
=
Doanh thu từ
hoạt động tín dụng
-
Chi phí hoạt động
tín dụng
- Xét về mặt tương đối:
Tỷ lệ nợ xấu =
Nợ xấu
x 100
Tổng dư nợ
Tỷ suất lợi nhuận
trên doanh thu
=
Lãi thu từ hoạt động tín dụng
x 100
Doanh thu từ hoạt động tín dụng
Đối với chỉ tiêu lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng cho ta biết mức
tăng tuyệt đối của doanh thu so với chi phí phát sinh từ hoạt động tín dụng.
Thông qua chỉ tiêu này, ta sẽ tính toán mức được tăng, giảm lợi nhuận qua các
năm, mức tăng giảm lợi nhuận bình quân từ đó thể hiện mức độ phát triển lợi
nhuận mà ngân hàng đạt được.
Đối với chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cho biết một đồng doanh
thu từ hoạt động tín dụng tạo ra được bao nhiều đồng lợi nhuận. Nếu chỉ tiêu
trên cho ta thấy sự tăng giảm về mặt lượng của lợi nhuận thu được từ hoạt động

Tổng nguồn vốn huy động được

e) Tỷ lệ sử dụng vốn sai mục đích:
Công thức:
Tỷ lệ sử dụng vốn sai mục đích cho phép ngân hàng đánh giá được trong
tổng dư nợ có bao nhiêu phần trăm vốn sử dụng sai mục đích. Nếu tỷ lệ này
càng cao càng chứng tỏ ngân hàng đã chủ quan trong việc kiểm tra, giám sát
Tỷ lệ sử dụng vốn sai mục đích =
Dư nợ sử dụng sai mụch đích
Tổng dư nợ
các khoản vay. Thông qua tính toán chỉ tiêu này góp phần cho biết khả năng của
ngân hàng trong quản lý việc sử dụng vốn của khách hàng đồng thời đánh giá
chất lượng của các khoản vay để có thể thực hiện việc trích lập và xử lý các
khoản nợ rủi ro. Chính vì vậy, chỉ tiêu này càng thấp thì chất lượng tín dụng
càng đạt hiệu quả cao và ngược lại.
2.1.4.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng:
a) Nhân tố khách quan:
Nhân tố khách quan tác động đến chất lượng tín dụng (CLTD) bao gồm 3
nhân tố chính: tự nhiên - kinh tế, xã hội và pháp lý.
+ Nhân tố tự nhiên, kinh tế:
Mọi thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh trong môi trường kinh tế
luôn chịu sự chi phối của các chính sách kinh tế vĩ mô hoặc chịu sự chi phối của
các quy luật cung cầu, quy luật giá trị…. Hoạt động TD ngân hàng cũng chịu sự
tác động rất lớn của môi trường kinh tế vĩ mô và vi mô. Quả vậy, trong điều
kiện nền kinh tế bình thường, tạo điều kiện các loại hình doanh nghiệp thực
hiện SXKD thuận lợi không gây biến động lớn tới khả năng trả nợ của khách
hàng, ngân hàng có điều kiện thực hiện nhiều biện pháp mở rộng và nâng cao
chất lượng hoạt động của mình. Ngược lại, khi nền kinh tế bất ổn, lạm phát gia
tăng, hoạt động SXKD bị ngừng trệ ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của khách
hàng, thì ngân hàng là đối tượng chịu rủi ro lớn nhất. Bởi vì nguồn vốn cho vay

Sự ổn định của môi trường chính trị xã hôi có tác động rất lớn đến nhu
cầu đầu tư và các hoạt động của ngân hàng. Trong điều kiện bất ổn về chính trị
sẽ kéo theo sự bất ổn về kinh tế tác động tiêu cực tới toàn bộ hoạt động của của

Trích đoạn Đánh giá cụ thể về chất lượng tín dụng: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status