Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thanh toán chuyển tiền điện tử tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Đống Đa-Hà Nội - Pdf 29

Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Đổi mới hoạt động Ngân hàng phục vụ phát triển kinh tế đất nớc và hội nhập
kinh tế quốc tế đã đặt ra những yêu cầu, thách thức về mở rộng các dịch vụ Ngân
hàng. Trớc những yêu cầu về hội nhập nói chung và quá trình đàm phán gia nhập
WTO nói riêng, ngành ngân hàng cần phải xây dựng cho mình một chiến lợc,
chính sách thích hợp để đảm bảo quá trình hội nhập thành công, mang lại lợi ích
thật sự cho nền kinh tế Việt Nam. Chiến lợc ấy chắc chắn phải đặt vị thế của công
tác thanh toán lên hàng đầu. Bởi hoạt động của ngân hàng ở bất cứ hình thức nào
cũng đợc kết thúc ở việc thanh- quyết toán.
Trong tình hình mới, một trong những khó khăn, trăn trở nhiều nhất của các
ngân hàng là việc cải tạo hệ thống thanh toán đáp ứng đợc yêu cầu mới, theo kịp
xu hớng phát triển của quốc tế, tạo điều kiện thu hút vốn đầu t, đẩy nhanh quá
trình chu chuyển vốn cho nền kinh tế. Thanh toán chuyển tiền điện tử ra đời là tất
yếu của sự bùng nổ công nghệ thông tin. Tuy còn mới mẻ nhng nó đã khẳng định
những tính năng u việt nhất định, đồng thời đánh dấu một bớc vơn mình mạnh mẽ
trong công tác thanh toán của ngành Ngân hàng.
Qua thời gian học tập và nghiên cứu tại Chi nhánh Ngân hàng Công thơng
Đống Đa- Hà Nội, em đã đợc tiếp cận khá đầy đủ các nghiệp vụ ngân hàng và đặc
biệt quan tâm đến hệ thống thanh toán chuyển tiền điện tử của Chi nhánh Ngân
hàng Công thơng Đống Đa. Từ nhận thức tầm quan trọng của công tác thanh toán,
em nhận thấy việc nâng cao chất lợng hệ thống thanh toán chuyển tiền điện tử là
một vấn đề đầy bức xúc và cấp thiết. Điều này khiến em chọn đề tài: Giải pháp
nhằm nâng cao chất lợng công tác thanh toán chuyển tiền điện tử tại Chi
nhánh Ngân hàng Công thơng Đống Đa-Hà Nội làm khoá luận tốt nghiệp của
mình.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài.
Từ cơ sở lý luận và thực trạng hoạt động thanh toán chuyển tiền điện tử tại
Chi nhánh Ngân hàng Công thơng Đống Đa-Hà Nội, em xin đa ra một số giải
pháp nhằm nâng cao chất lợng hiệu quả công tác thanh toán chuyển tiền điện tử tại

Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
Chơng I
Lý luận chung về Ngân hàng Thơng Mại và
hệ Thống thanh toán chuyển tiền điện tử
của Ngân hàng Thơng mại.
1.1 Ngân hàng thơng mại và việc tổ chức thanh toán giữa các NHTM.
1.1.1 Vài nét khái quát về Ngân hàng thơng mại (NHTM).
Ngân Hàng (NH) đợc hình thành và phát triển trải qua một quá trình lâu dài
với nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Trong thời kỳ đầu vào khoảng thế kỷ
thứ XV đến thế kỷ thứ XVIII, các NH còn hoạt động độc lập với nhau. Đó là trung
gian tín dụng, trung gian thanh toán cho nền kinh tế và phát hành giấy bạc cho
NH.
Sang thế kỷ XVIII, lu thông hàng hoá ngày càng phát triển. Việc các NH
cùng thực hiện chức năng phát hành giấy bạc ngân hàng làm cho lu thông có nhiều
loại giấy bạc khác nhau đã cản trở cho quá trình lu thông hàng hóa phát triển kinh
tế. Chính điều này đã dẫn đến phân hoá hệ thống NH. Lúc này hệ thống NH đã
phân làm hai nhóm: thứ nhất là nhóm các NH đợc phép phát hành tiền, đợc gọi là
NH phát hành sau đổi thành NHTW. Thứ hai là các NH không đợc phép phát hành
tiền, chỉ làm trung gian tín dụng, trung gian thanh toán trong nền kinh tế đợc gọi
là NH trung gian. Đây là một mắt xích cực kỳ quan trọng nối giữa NHTW với nền
kinh tế, cũng nh là cầu nối để những ngời có vốn và những ngời cần vốn gặp nhau.
Thời kỳ đầu khi mới thực hiện sự phân hoá hệ thống NH, các NH trung gian
thực hiện tất cả các hoạt động của nó nh nhận tiền gửi, cho vay và làm các dịch vụ
thanh toán. Ban đầu, các NH chủ yếu nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn ngắn
và cho vay ngắn hạn. Về sau, nó thực hiện cả cho vay trung hạn, dài hạn bằng
nguồn vốn trung hạn, dài hạn do huy động tiền gửi trung hạn, dài hạn và phát hành
trái khoán.
Hoạt động NH ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của thị trờng
chứng khoán đòi hỏi hình thành nên những NH, những trung gian tài chính chuyên
hoạt động trong một lĩnh vực nào đó, phân chia NH trung gian thành các NH hoạt

1.1.2 Khái niệm, sự cần thiết và ý nghĩa thanh toán giữa các NHTM.
Khái niệm: Thanh toán giữa các NH là việc thanh toán vốn tiền tệ giữa các
chi nhánh NH trong cùng hệ thống hoặc giữa các NH khác hệ thống phát sinh trên
cơ sở đáp ứng yêu cầu thanh toán hàng hoá, dịch vụ và điều chuyển của các đơn
vị, tổ chức kinh tế, cá nhân và nghiệp vụ điều chuyển tiền của chính bản thân NH.
Hoàng Thị Lan Hơng- Lớp 3021-Khoa KT-KT NH
Trang 4
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
Sự cần thiết thanh toán giữa các NH: Hoạt động kinh tế ngày càng phát
triển, theo đó là sự phát triển của thanh toán tiền tệ trong nớc và quốc tế. Mối quan
hệ ngày càng đa dạng, điều đó không chỉ đòi hỏi sự gia tăng hoạt động của hệ
thống ngân hàng nói chung mà còn làm cho hoạt động thanh toán vốn giữa các
NH ngày càng trở nên cần thiết. Điều đó thể hiện nh sau:
Nền kinh tế ngày càng phát triển thì việc trao đổi hàng hoá dịch vụ không chỉ
bó hẹp ở một địa phơng mà nó còn mở rộng ra mọi miền đất nớc. Hiện nay, nhiều
hệ thống NHTM và các tổ chức tín dụng khác nhau có mạng lới chi nhánh trong
toàn quốc. Bên cạnh đó, khách hàng đợc quyền lựa chọn NH để mở tài khoản cho
mình. Do đó, thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ giữa ngời mua và ngời bán qua hai
NH khác nhau là rất cần thiết. Nó giúp cho việc thanh toán các khoản nợ giữa các
tác nhân trong nền kinh tế một cách dễ dàng, nhanh chóng, đem lại hiệu quả to lớn
cho kinh tế-xã hội.
Việc cấp chuyển vốn, kinh phí, chuyển tiền thực hiện nghĩa vụ ngân sách
diễn ra thờng xuyên, liên tục đòi hỏi phải có nghiệp vụ thanh toán giữa các NH để
đáp ứng yêu cầu của việc chuyển vốn trong nền kinh tế.
Ngân hàng, tổ chức tín dụng không chỉ là nơi cung ứng các dịch vụ thanh
toán mà còn là chủ thể tổ chức tham gia vào hệ thống thanh toán, thực hiện việc
thanh toán trong phạm vi nội bộ của chính hệ thống các NH nh: điều chuyển vốn,
cấp vốn, chuyển nhợng tài sản, nộp khấu hao, chuyển lãi lỗ...đảm bảo cho việc
quản lý và sử dụng vốn đợc khép kín trong toàn hệ thống NHTM.
Để làm tốt các nghiệp vụ trên, thanh toán giữa các NH ra đời là một tất yếu.

Nh ta đã biết, thanh toán giữa các NH là việc thanh toán vốn tiền tệ giữa các
chi nhánh NH trong cùng hệ thống hoặc giữa các NH khác hệ thống phát sinh trên
cơ sở đáp ứng yêu cầu thanh toán hàng hoá, dịch vụ và điều chuyển của các đơn
vị, tổ chức kinh tế, cá nhân và nghiệp vụ điều chuyển tiền của chính bản thân NH.
Vì vậy, điều kiện thanh toán giữa các NH là:
Điều kiện pháp lý: Phải xây dựng đợc hệ thống pháp lý ổn định và tin cậy,
thể lệ và chế độ đồng bộ, tạo cơ sở vững chắc để tổ chức nghiệp vụ thanh toán. Hệ
thống pháp lý chặt chẽ là cơ sở để giải quyết các tranh chấp nẩy sinh và ngăn ngừa
các sai phạm trong thanh toán.
Thực hiện thanh toán qua tài khoản tiền gửi mở tại ngân hàng khác phải có sự
thoả thuận bằng văn bản của hai ngân hàng chủ quản, đồng thời, phải theo đúng
nguyên tắc mở và sử dụng tài khoản. Thanh toán kịp thời, cập nhật chính xác, an
toàn tài sản, không đợc chiếm dụng vốn lẫn nhau.
Hoàng Thị Lan Hơng- Lớp 3021-Khoa KT-KT NH
Trang 6
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
Đối với uỷ nhiệm chi hộ, thu hộ phải có văn bản thoả thuận và cam kết chặt
chẽ giữa hai ngân hàng bảo đảm sự tín nhiệm trong thanh toán. Định kỳ, hai bên
phải đối chiếu, thanh toán sòng phẳng với nhau.
Đối với thanh toán bù trừ: Các NHTM, TCTD, Kho Bạc Nhà Nớc muốn tham
gia thanh toán bù trừ phải có đơn xin tham gia thanh toán bù trừ, phải chấp hành
nội quy trong thanh toán nh: giới thiệu ngời giao dịch, mẫu chữ ký, chấp hành giờ
truyền nhận dữ liệu hay phiên giao dịch.
Điều kiện về tổ chức và kỹ thuật: Thanh toán giữa các ngân hàng phải đợc
tổ chức một cách khoa học, áp dụng kỹ thuật hiện đại đảm bảo thanh toán chính
xác, nhanh chóng, an toàn, chi phí thấp; phải có trung tâm xử lý thông tin nhanh
nhậy, thông suốt theo các chuẩn mực quy định của NHNN nhằm đáp ứng đợc các
phơng thức thanh toán giữa các NH. Thông tin phải đợc cập nhật và lu trữ, bảo
quản cẩn trọng, đảm bảo tính bảo mật cao. Phải bố trí những ngời có trách nhiệm
cao, trung thực và thành thạo nghiệp vụ thanh toán giữa các NH, đẩy nhanh tốc độ

Phạm vi áp dụng: Bên mua và bên bán phải mở tài khoản tại cùng một NH
hoặc khác NH cùng một hệ thống. Trờng hợp bên mua và bên bán có tài khoản tại
hai NH khác hệ thống thì hai đơn vị thanh toán đó phải tham gia thanh toán bù trừ
giao nhận chứng từ trực tiếp.
Điều kiện để séc đợc NH chấp nhận thanh toán:
-Ngời phát hành séc chỉ đợc ghi số tiền trên séc trong phạm vi số d tài khoản
tiền gửi của họ tại NH. Nếu phát hành quá số d NH không chấp nhận thanh toán
đồng thời, NH còn áp dụng phạt vi phạm hợp đồng thanh toán và phạt chậm trả.
-Trờng hợp có nhiều tờ séc nộp vào NH cùng một lúc để đòi tiền từ một tài
khoản mà số d trên tài khoản đó không đủ để thanh toán toàn bộ những tờ séc đó
thì thứ tự thanh toán đợc xác định theo số séc đã phát hành, các séc có số thứ tự
nhỏ hơn sẽ đợc thanh toán.
-Séc phải đảm bảo tính hợp pháp hợp lệ cả về hình thức và nội dung.
Séc chuyển khoản là loại thanh toán do chủ tài khoản phát hành trực tiếp để
trả tiền cho ngời thụ hởng trên cơ sở số d tài khoản tiền gửi thanh toán của mình
tại NH. Loại séc này rất tiện lợi cho bên mua nhng không tiện lợi cho bên bán. Do
đó, trong thanh toán truyền thống, séc đợc ghi theo nguyên tắc ghi nợ trớc ghi có
sau.
Trờng hợp bên bán yêu cầu bên mua có sự xác nhận của đơn vị thanh toán
trên tờ séc, khi nhận đợc yêu cầu, đơn vị thanh toán sẽ làm thủ tục bảo chi trên cơ
sở số tiền mà ngời phát hành đã lu ký. Vì vậy, ngời chịu trách nhiệm thanh toán
séc là NH hay đơn vị thanh toán bảo chi séc.
Hoàng Thị Lan Hơng- Lớp 3021-Khoa KT-KT NH
Trang 8
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
Có thể thấy, việc áp dụng séc bảo chi rất có lợi cho ngời thụ hởng. Ngời thụ
hởng chắc chắn sẽ nhận đợc tiền, do đó, ngời thụ hởng không bị mất vốn, không bị
chiếm dụng vốn. Quá trình thanh toán đợc thực hiện nhanh chóng vì NH bảo chi
séc hoặc NH phục vụ ngời thụ hởng ghi có ngay cho ngời thụ hởng. Ngợc lại, khi
áp dụng thanh toán bằng séc bảo chi, ngời mua lại phải làm thủ tục ruờm rà để đợc

sau. Mặc dù an toàn cho các NH tham gia quy trình thanh toán nhng quy trình
luân chuyển chứng từ còn vòng vèo, tốc độ thanh toán chậm.
Hình thức thanh toán uỷ nhiệm chi (UNC):
UNC là lệnh của chủ tài khoản đợc lập theo mẫu in sẵn của NHNN uỷ quyền
cho NH phục vụ mình trích một số tiền nhất định từ tài khoản tiền gửi của mình để
trả cho ngời thụ hởng có tài khoản cùng NH hay khác NH, trong cùng hệ thống
hoặc khác hệ thống.
Đối tợng áp dụng: UNC đợc dùng chủ yếu là để thanh toán tiền hàng hoá,
công nợ dịch vụ theo đó ngời mua là ngời mở đầu trong quy trình thanh toán, thực
hiện ra lệnh cho NH phục vụ mình trích tài khoản tiền gửi thanh toán của mình để
chuyển trả cho ngời bán.
Phạm vi áp dụng: UNC đợc sử dụng rộng rãi, ngời trả tiền hoàn toàn có thể sử
dụng UNC để trả tiền cho ngời thụ hởng có tài khoản cùng NH hoặc khác NH
cùng hệ thống hay khác hệ thống.
Ưu điểm của uỷ nhiệm chi là đợc sử dụng rộng rãi về phạm vi địa lý đối với
mọi đối tợng khách hàng dù họ mở tài khoản tại bất cứ đơn vị thanh toán nào.
UNC đảm bảo quyền lợi cho bên mua do bên mua chỉ chấp nhận thanh toán khi họ
đã nhận đợc hàng hoá, dịch vụ đúng nh trong hợp đã ký kết, đồng thời, bảo vệ
quyền lợi cho NH do NH thực hiện ghi nợ trớc ghi có sau.
Ngợc lại, UNC không bảo đảm quyền lợi cho bên bán. Bên bán có thể gặp rủi
ro do bên mua không đủ khả năng thanh toán hoặc bên mua cố tình không thanh
toán. Do đó, ngời ta chỉ áp dụng hình thức thanh toán này trong trờng hợp bên
mua và bên bán có tín nhiệm nhau hoặc thanh toán có giá trị nhỏ hoặc chủ yếu là
thanh toán phi mậu dịch.
Tuy nhiên, UNC vẫn là hình thức thanh toán đợc a chuộng nhất hiện nay vì
đơn giản, dễ thực hiện. Mặt khác, NH chuyển tiền nhanh đảm bảo yêu cầu của
khách hàng.
Hình thức thanh toán th tín dụng:
Th tín dụng là lệnh của NH phục vụ bên mua gửi cho NH phục vụ bên bán để
tiến hành trả tiền cho ngời bán về giá trị hàng hoá đã cung ứng trên cơ sở ngời bán

để rút tiền từ máy rút tiền tự động ATM hoặc thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ tại
cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ.
Thẻ thanh toán chỉ đợc áp dụng trong nền tảng công nghệ tin học và viễn
thông đợc áp dụng trong công nghệ thanh toán của NH.
Thẻ thanh toán do NH phát hành và bán cho khách hàng của mình để thanh
toán chi trả các khoản vật t, hàng hoá, dịch vụ, các khoản thanh toán khác và rút
tiền tại các đại lý thanh toán hay tại các quầy rút tiền tự động.
Hoàng Thị Lan Hơng- Lớp 3021-Khoa KT-KT NH
Trang 11
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
Phạm vi áp dụng thẻ NH rất rộng rãi và không bị giới hạn về không gian, thời
gian. Nếu khách hàng có thể thanh toán, khách hàng có thể sử dụng (rút tiền, gửi
tiền, kiểm tra số d trên tài khoản, thanh toán chi trả tiền hàng hoá dịch vụ....) bất
cứ nơi nào có máy ATM hoặc cơ sở chấp nhận thẻ. Hơn nữa, thanh toán bằng thẻ
đã tiết kiệm chi phí, công sức cho ngời mua, ngời bán, giảm lợng tiền mặt trong lu
thông và tăng chu chuyển vốn cho nền kinh tế. Chính bởi tiện ích này mà thẻ NH
rất đợc a chuộng ở các nớc trên thế giới. Tuy nhiên, việc sử dụng thanh toán bằng
thẻ NH cũng bị giới hạn một mức tối đa cho phép đợc thanh toán trong một ngày
để đảm bảo an toàn và khả năng chi trả cho nguồn thanh toán.
Với trình độ và tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật ngày nay, trong tơng
lai, chắc chắn thẻ thanh toán cha phải là công cụ thanh toán cuối cùng.
1.1.4.2 Các phơng thức thanh toán qua NH (Mode of payments).
Tuỳ vào trình độ phát triển của công nghệ ngân hàng cũng nh đặc điểm tổ
chức hệ thống NH, các nớc có các phơng thức thanh toán qua NH khác nhau. ở
Việt Nam, từ khi hệ thống NH đợc tổ chức theo hệ thống hai cấp, các phơng thức
thanh toán vốn giữa các NH bao gồm:
Ph ơng thức thanh toán liên hàng :
Thanh toán liên hàng là quan hệ thanh toán nội bộ giữa các ngân hàng trong
cùng hệ thống phát sinh trên cơ sở các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt
giữa các khách hàng có mở tài khoản ở các chi nhánh ngân hàng khác nhau trong

Thanh toán bù trừ thực hiện theo quyết định 181/NH-QĐ ngày 10/10/1991 về
Quy tắc tổ chức và kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán bù trừ giữa các NH và Công
văn 637/Kinh tế ngày 28/10/1991 về hớng dẫn thực hiện quyết định 181/NH-QD.
Để đợc tham gia thanh toán bù trừ, các thành viên phải tuân thủ đầy đủ các
quy định do NH chủ trì quy định, phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán bù trừ tại
NH chủ trì. Cán bộ đi giao dịch thanh toán bù trừ phải có đủ năng lực, trình độ và
đảm bảo đủ các điều kiện giao dịch, phải đăng ký mẫu chữ ký tại NH thành viên
khác và tại NH chủ trì. Nếu để xẩy ra sai sót, tổn thất thì thành viên phải chịu
trách nhiệm theo quy định.
Về thanh toán số chênh lệch trong thanh toán bù trừ: Phải trích TK tiền gửi
để thanh toán, nếu không đủ thì phải nộp tiền mặt hoặc ngân phiếu thanh toán,
cũng có thể vay NH chủ trì để thanh toán, trờng hợp NH chủ trì không cho vay thì
phải phạt chậm trả.
Chứng từ sử dụng trong thanh toán bù trừ bao gồm các chứng từ thanh toán
gốc, các bảng kê mẫu số 12,14,15,16 đợc giao nhận trực tiếp tại phiên thanh toán
bù trừ. Các chứng từ cha thuộc phạm vi thanh toán bù trừ nh uỷ nhiệm thu, th tín
dụng, séc...thì chuyển sang NH thanh toán để thực hiện ghi nợ trớc.
Hoàng Thị Lan Hơng- Lớp 3021-Khoa KT-KT NH
Trang 13
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
TK sử dụng: Nếu là NH chủ trì thì sử dụng TK 5011. Tài khoản này dùng để
hạch toán kết quả thanh toán bù trừ của NH chủ trì với NH thành viên tham gia
thanh toán bù trừ và sau khi thanh toán bù trừ xong thì hết số d.
Nếu là NH thành viên thì sử dụng TK 5012. Tài khoản này dùng để hạch toán
kết quả thanh toán bù trừ với các NH khác và sau khi thanh toán bù trừ xong cũng
phải hết số d.
Ph ơng thức thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN:
Phơng thức thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN là phơng thức thanh
toán giữa các NH khác hệ thống khác địa bàn, đều mở tài khoản tại NHNN.
Để áp dụng phơng thức thanh toán này phải có các điều kiện sau:

khoản tại nhau làm cơ sở cho việc thanh toán cho nhau đã gây đọng vốn cho các
NHTM.
Ph ơng thức thanh toán uỷ nhiệm thu hộ, chi hộ giữa các NHTM:
Để khắc phục những hạn chế của phơng thức mở tài khoản tại nhau, NHNN
cho phép các NHTM có thể ký hợp đồng thanh toán song biên trên cơ sở sự tín
nhiệm giữa hai NHTM và hợp đồng thanh toán có quy định rõ nội dung thanh
toán, số tiền tối đa cho một món thanh toán, tổng số tiền thanh toán, kỳ hạn thanh
quyết toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN.
1.2 Hệ thống thanh toán chuyển tiền điện tử của Ngân Hàng Công Thơng
Việt Nam.
1.2.1 Qúa trình phát triển của thanh toán chuyển tiền điện tử.
Thanh toán liên hàng thủ công:
Trong thời kỳ bao cấp, hoạt động thanh toán giữa các NH khác địa bàn
bằng thủ công với một phơng thức truyền thống duy nhất là thanh toán liên hàng
bằng th, bằng điện qua đờng bu điện. Thời gian cho một món thanh toán thông th-
ờng phải từ 3-5 ngày và thậm chí là hàng tuần cho những món đi tỉnh xa.
Do việc thanh toán chậm, lợng vốn nằm trong thanh toán chiếm khá lớn
không đáp ứng công việc kinh doanh của khách hàng nên đã tạo ra tâm lý không
muốn thanh toán không dùng tiền mặt qua NH mà chỉ muốn dùng phơng tiện trực
tiếp bằng tiền mặt. Vì vậy đã gây ra áp lực rất lớn về tiền mặt, tạo sự khan hiếm
giả tạo, đã xuất hiện tỷ lệ % giữa thanh toán bằng chuyển khoản và tiền mặt. Đây
cũng là một trong những nguyên nhân góp phần làm tăng tốc độ lạm phát vào
những năm 1988, 1989 có thời kỳ lên đến 3 con số. NHNN đã phải dùng liệu
pháp sốc tăng lãi suất lên rất cao, có thời kỳ lên đến 12%/ tháng.
Thanh toán liên hàng qua mạng:
Từ năm 1989, hệ thống NH đã bắt đầu ứng dụng công nghệ thông tin
(CNTT) vào các hoạt động nghiệp vụ, đi đầu là hệ thống NHNN, đặc biệt từ năm
Hoàng Thị Lan Hơng- Lớp 3021-Khoa KT-KT NH
Trang 15
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng

-Phạm vi chuyển tiền điện tử gồm các chuyển tiền có và chuyển tiền nợ bằng
VNĐ hoặc bằng ngoại tệ giữa các NH cùng hệ thống. Các hoạt động thanh toán bù
Hoàng Thị Lan Hơng- Lớp 3021-Khoa KT-KT NH
Trang 16
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
trừ tự động, thanh toán với các TCTD khác, ATM, POS, SWIFT không thuộc
phạm vi quy chế này (chỉ tạo các giao diện cần thiết từ TTTT ra các hệ thống
khác).
-Đối tợng áp dụng đối với tất cả các CNNH cùng hệ thống có đủ điều kiện kỹ
thuật, nắm vững quy trình nghiệp vụ chuyển tiền điện tử, đợc Tổng Giám đốc
NHCT VN cho phép tham gia bằng văn bản.
-Mọi khách hàng giao dịch với NHCT VN đều đợc tham gia hệ thống thanh
toán điện tử theo quy chế thanh toán qua NH ban hành theo quyết định số 22/QĐ-
NH
1
của Thống đốc NHNN và các văn bản hớng dẫn của Tổng Giám đốc NHCT
VN.
-Các nghiệp vụ phát sinh trong thanh toán điện tử đợc hoàn tất trong một
ngày làm việc. Trờng hợp khách hàng yêu cầu chi nhánh NHCT phục vụ chuyển
nhanh và hoàn tất trong thời gian 1-3 h, khách hàng không phải chịu thêm phí.
-Mọi khoản thanh toán điện tử gắn liền với nghiệp vụ thanh toán và quản lý
vốn của của NHCT Việt Nam đối với từng chi nhánh.
-Trung tâm thanh toán chịu trách nhiệm tổ chức quy trình nghiệp vụ thanh
toán, thực hiện việc nhận, hạch toán và chuyển thông tin từ NH khởi tạo đến NH
nhận, đảm bảo theo dõi chặt chẽ, hạch toán đầy đủ các nghiệp vụ thanh toán và
hạn mức vốn, đồng thời, theo dõi tính lãi điều hoà vốn cho các chi nhánh tỉnh,
thành phố ngày 20 hàng tháng.
-Trung tâm thanh toán căn cứ vào quy trình nghiệp vụ trong quy chế này thiết
kế và xây dựng chơng trình ứng dụng, tổ chức hệ thống đảm bảo kỹ thuật đáp ứng
đầy đủ các yêu cầu nghiệp vụ và thực hiện thống nhất trong toàn hệ thống đảm

TK Điều chuyển vốn cho vay dự án của NH Tái thiết đức(KFW).
TK Điều chuyển vốn cho vay dự án của NH Cân Đối Đức (DAT).
TK Điều chuyển vốn cho vay dự án vừa và nhỏ.
TK Điều chuyển vốn dự phòng rủi ro.
TK Điều chuyển vốn cố định.
TK Điều chuyển vốn khác.
1.2.3.2 Chứng từ sử dụng trong chuyển tiền điện tử.
Chứng từ ghi sổ kế toán chuyển tiền điện tử là lệnh chuyển tiền (bằng giấy
hoặc dới dạng điện tử). Chứng từ gốc dùng làm cơ sở để lập lệnh chuyển tiền là
các chứng từ thanh toán theo chế độ hiện hành (UNC, UNT...).
Lệnh chuyển tiền dới dạng chứng từ giấy phải lập theo đúng mẫu và đủ số
liên do NHNN quy định và phải đảm bảo tính hợp lệ hợp pháp của chứng từ theo
quy định tại chế độ chứng từ kế toán NH, TCTD ban hành kèm theo quyết định số
312/QĐ ngày 04/12/1996 của Thống đốc NHNN VN.
Hoàng Thị Lan Hơng- Lớp 3021-Khoa KT-KT NH
Trang 18
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
Lệnh chuyển tiền dới dạng điện tử phải đáp ứng các chuẩn dữ liệu do NHNN
quy định tại quy chế về lập, sử dụng, kiểm soát, xử lý bảo quản và lu trữ chứng từ
điện tử của các NH, TCTD ban hành theo QĐ308/ QĐ-NH2 ngày 16/09/1997 của
Thống đốc NHNN.
Việc chuyển hoá chứng từ điện tử thành chứng từ giấy hoặc ngợc lại để phục
vụ yêu cầu thanh toán và hạch toán phải đảm bảo khớp đúng giữa chứng từ làm
căn cứ để chuyển hoá và chứng từ đợc chuyển hoá đúng mẫu quy định và đảm bảo
tính hợp pháp của chứng từ.
1.2.4 Quy trình nghiệp vụ chuyển tiền điện tử của NHCT VN.
*Quy trình nghiệp vụ tại NH phát lệnh (NHPL).
Ngân hàng khởi tạo nhận chứng từ từ khách hàng, kiểm tra, kiểm soát rồi tiến
hành chuyển hoá chứng từ giấy thành chứng từ điện tử và chuyển cho kiểm soát
viên đặt ký hiệu mật trớc khi chuyển đi thanh toán. Sau khi tính KHM, bút toán

để phản ánh và quản lý các loại vốn giữa TW với CN. Đối với CN phụ thuộc (CN
cấp 2) chỉ đợc mở duy nhất TK ĐCV trong kế hoạch.
Khi nhận chuyển tiền từ CN, tại TTTT, chơng trình tự động kiểm tra, đối
chiếu và phân loại các chuyển tiền theo tính chất nghiệp vụ thanh toán Nợ-thanh
toán Có, phạm vi thanh toán trong hệ thống-ngoài hệ thống để hạch toán.
Các chuyển tiền trong hệ thống sau khi kiểm tra, đối chiếu với NHPL đợc
hạch toán tự động chuyển đi NHNL và chuyển sang vùng chờ đối chiếu với
NHNL. Các chuyển tiền ngoài hệ thống đợc chuyển sang vùng riêng để giải mã,
phục hồi chứng từ đa đi thanh toán bù trừ hoặc chuyển mạng thị trờng song biên
với các tổ chức tín dụng khác.
Trờng hợp nhận đợc Lệnh thanh toán của NHPL sau giờ khoá sổ của TTTT,
các Lệnh thanh toán này sẽ đợc hạch toán và đối chiếu vào ngày hoạt động kế tiếp
của hệ thống.
Sau giờ khoá sổ của TTTT, các Lệnh thanh toán cha đợc đối chiếu đợc
chuyển sang vùng riêng để tiếp tục theo dõi, đối chiếu vào ngày làm việc kế tiếp.
TTTT in các báo cáo đối chiếu, báo cáo chứng từ tồn đọng để kiểm tra, theo dõi
xử lý và lu trữ.
Hạch toán:
-Đối với lệnh thanh toán Có:
Nợ: TK ĐCV trong kế hoạch NHPL.
Có: TK ĐCV trong kế hoạch NHNL.
Hoàng Thị Lan Hơng- Lớp 3021-Khoa KT-KT NH
Trang 20
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
-Đối với lệnh thanh toán Nợ: hạch toán ngợc lại.
Cuối ngày, Kế toán CTĐT in báo cáo đối chiếu chuyển tiền đi, đến trong
ngày để kiểm tra tính đúng đắn của số liệu trớc khi khoá sổ cuối ngày. Các báo
cáo này thực hiện lu trữ cùng các chuyển tiền đi, đến trong ngày.
1.2.5 Sai sót và điều chỉnh.
1.2.5.1 Sai sót và điều chỉnh tại Ngân hàng phát lênh (NHPL).

Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
Đối với Lệnh thanh toán Có:
Nợ: TK Các khoản phải thu (tiểu khoản CN gây sai sót).
Nợ đỏ: TK Thích hợp . (TK đã trích thừa)
Đồng thời, lập điện tra soát gửi NHNL để yêu cầu hoàn trả số tiền thừa và ghi
nhập sổ theo dõi chuyển tiền thừa chờ xử lý. Nếu NHNL đã chi trả số tiền thừa
cho ngời hởng, NHPL gửi biên bản chuyển tiền thừa đến NHNL để NHNL tìm
biện pháp thu hồi.
Khi nhận đợc Lệnh thanh toán Có chuyển trả số tiền thừa hoặc một phần số
tiền thừa nói trên, NHPL hạch toán:
Nợ: TK ĐCV trong kế hoạch.
Có: TK Các khoản phải thu (tiểu khoản CN gây sai sót)
Đồng thời, ghi xuất sổ theo dõi chuyển tiền thừa chờ xử lý.
Trờng hợp NHNL trả lời không thu hồi đợc thì NHPL căn cứ vào biên bản
cùng hồ sơ liên quan của NHNL gửi đến. NHPL nhận đợc, kiểm tra, đối chiếu với
biên bản chuyển tiền thừa trớc đây để xác định số đã thu hồi đợc, số còn phải thu
hồi, xác định ngời chịu trách nhiệm. Đồng thời, lập hội đồng để xử lý theo chế độ
hiện hành.
-Đối với Lệnh thanh toán Nợ: Lập phiếu điều chỉnh
Có đỏ: TK Thích hợp
Có: TK ĐCV chờ thanh toán
Đồng thời, lập Lệnh thanh toán Có chuyển đến NHNL để huỷ số tiền chuyển
thừa trên Lệnh thanh toán Nợ.
Nợ: TK ĐCV chờ thanh toán.
Có: TK ĐCV trong kế hoạch.
1.2.5.1.3 Chuyển tiền ngợc vế.
NHPL phải lập ngay điện thông báo (mẫu 02) cho NHNL, điện tra soát gửi
NHNL để xử lý đồng thời thực hiện điều chỉnh huỷ đỏ số tiền bị ngợc vế sang TK
ĐCV chờ thanh toán, sau đó, tất toán TK này chuyển đi NHNL để huỷ toàn bộ
Lệnh thanh toán bị ngợc vế và lập Lệnh thanh toán đúng chuyển đi

Có: TK ĐCV chờ thanh toán.
Khi nhận đợc điện tra soát yêu cầu chuyển trả tiền thừa của NHPL, căn cứ
điện tra soát, NHNL lập Lệnh thanh toán Có đi hoàn trả NHPL:
Nợ: TK ĐCV chờ thanh toán.
Có: TK ĐCV trong kế hoạch.
Đồng thời, lập phiếu để hạch toán số tiền đúng.
Nợ: TK ĐCV chờ thanh toán.
Có: TK Thích hợp.
- Đối với Lệnh thanh toán Nợ: Hạch toán và xử lý ngợc lại.
Trờng hợp nhận đợc điện thông báo chuyển tiền thừa của NHPL, sau khi đã
kiểm tra KHM và hạch toán, NHPL phải kịp thời ghi sổ theo dõi Lệnh thanh toán
bị sai sót, nếu cha thanh toán cho khách hàng thì phải giữ lại số tiền để xử lý.
Hoàng Thị Lan Hơng- Lớp 3021-Khoa KT-KT NH
Trang 23
Số tiền đúng
Số tiền thừa
Toàn bộ số tiền
Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng
Nếu trên tài khoản của khách đủ tiền để xử lý, đối với Lệnh thanh toán Có,
căn cứ biên bản chuyển tiền thừa của NHPL, NHNL lập phiếu điều chỉnh hạch
toán:
Có đỏ: TK Thích hợp (TK đã ghi thừa trớc đây).
Nợ: TK ĐCV chờ thanh toán.
Khi nhận đợc điện tra soát yêu cầu trả lại số tiền thừa của NHPL, NHNL lập
Lệnh thanh toán Có để trả lại số tiền thừa và hạch toán:
Nợ: TK ĐCV chờ thanh toán.
Có: TK ĐCV trong kế hoạch.
Đối với Lệnh thanh toán Nợ: Hạch toán và xử lý ngợc lại.
Nếu trên tài khoản của khách hàng không còn đủ tiền để thu hồi, NHNL ghi
nhập sổ theo dõi chuyển tiền thừa đến cha thu hồi để theo dõi, đồng thời, yêu cầu

thanh toán bị ngợc vế để xử lý. Khi nhận Lệnh thanh toán đến, NHNL kiểm soát,
đối chiếu với điện thông báo nhận đợc, nếu đúng thì xử lý:
Đối với Lệnh thanh toán Có:
Nợ: TK ĐCV trong kế hoạch.
Có: TK ĐCV chờ thanh toán.
Khi nhận đợc điện tra soát, NHNL lập Lệnh thanh toán chuyển trả lại, NHPL
hạch toán:
Nợ: TK ĐCV chờ thanh toán.
Có: TK ĐCV trong kế hoạch.
Đối với Lệnh thanh toán Nợ: Hạch toán và xử lý ngợc lại.
Trờng hợp NHNL đã kiểm tra KHM và hạch toán, đối với Lệnh thanh toán
Có xử lý nh trờng hợp sai thừa phát hiện sau khi kiểm tra ký hiệu mật. Đối với
lệnh thanh toán Nợ, lập phiếu điều chỉnh hạch toán:
Nợ đỏ: TK Thích hợp.
Nợ: TK ĐCV chờ thanh toán.
Khi nhận đợc điện tra soát và chuyển tiền xử lý của NHPL, hạch toán:
Nợ: TK ĐCV chờ thanh toán.
Có: TK ĐCV trong kế hoạch.
1.2.6 Đối chiếu và quyết toán.
1.2.6.1 Đối chiếu.
1.2.6.1.1 Đối chiếu hàng ngày.
Việc tổ chức đối chiếu đợc thực hiện theo hình thức kiểm soát tập trung và
đối chiếu tập trung tại NHTW. Việc đối chiếu đợc thực hiện tức thời theo từng
lệnh thanh toán.
Tại NHPL, ngay sau khi Lệnh thanh toán đợc truyền đi, chơng trình tự động
tạo đối chiếu gửi về TTTT, kết quả đối chiếu đợc phản hồi về NHPL ngay sau khi
đợc tự động hạch toán tại TTTT.
Hoàng Thị Lan Hơng- Lớp 3021-Khoa KT-KT NH
Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status