BÀI 1 - TỔNG QUAN VỀ NHÂN HỌC Y TẾ & XÃ HỘI HỌC SỨC KHỎE - Pdf 29

1BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ NHÂN HỌC Y TẾ & XÃ HỘI HỌC SỨC
KHỎE

Mục tiêu: Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng:
1.
Trình bày được định nghĩa và đối tượng nghiên cứu của Nhân học y tế và Xã hội
học sức khỏe;
2.
Nêu được sự giống nhau và khác nhau của Nhân học y tế và Xã hội học sức
khỏe;
3.
Trình bày được các phương pháp nghiên cứu cơ bản sử dụng trong Nhân học y
tế và Xã hội học sức khỏe.
f{e
VẤN ĐỀ TỰ TỬ
Thực trạng

24/10/2004
Tỷ lệ tự sát ở Nhật Bản tăng vọt
Con số các vụ tự tử diễn ra ở xứ Phù Tang đã tăng lên mức kỷ lục từ trước tới nay. Hơn
34.000 người nước này đã tự kết liễu đời mình trong năm 2003, tăng hơn 7% so với năm
trước đó.
Tổ chức an ninh quốc gia Nhật Bản cho biết 3/4 trong số những người xấu số đó là đàn
ông, và 1/3 là trên 60 tuổi. Cứ trong 100.000 người lại có 27 người tự tử ở Nhật Bản, một
trong những tỷ lệ cao nhất trên thế giới. Con số này cũng là kỷ lục từ khi cảnh sát bắt đầu
thu thập số liệu về những vụ tự sát từ năm 1978. Một con số kỷ lục là 11.500 người trên 60
tuổi đã tự kết liễu đời mình. Xu hướng tự sát cũng gia tăng ở những người trẻ tuổi hơn.
Trong số những em xấp xỉ 19 tuổi, con số đã nhảy vọt lên 22%. Ở những học sinh tiểu học

Ngày 20-10, dư luận vẫn chưa hết bàng hoàng về việc trước đó, ngày 18-10, một nữ sinh
lớp 11A4 Trường THPT Nguyễn Hữu Cầu (huyện Hóc Môn - thành phố Hồ Chí Minh)
uống thuốc trừ sâu tự tử ngay tại lớp. Theo tìm hiểu thì em nữ này do muốn bênh vực một
bạn trong lớp không hoàn thành bài tập về nhà bị thầy giáo dạy Toán khiển trách nên đã
lên tiếng với thầy giáo trước lớp. Thầy giáo đã đuổi em này ra khỏi lớp. Sau đó em còn lên
gặp thầy hiệu phó để trình bày về việc thầy giáo dạy Toán cho quá nhiều bài tập trong khi
các em còn phải hoàn thành nhiều bài tập của các môn khác nên hầu hết học sinh đều
không làm đầy đủ được. Thầy hiệu phó nói rằng thầy giáo dạy Toán đã làm theo đúng phân
phối chương trình và còn nhấn mạnh là sẽ xử lý em. Em nữ sinh này đã rất lo sợ bị nhà
trường xử lý kỷ luật và sợ bố mẹ biết sẽ buồn. Trong giây phút khủng hoảng, em đã uống
thuốc trừ sâu tự tử.
f{e

11/1/2012
Học sinh nhảy lầu chết trước mặt cô giáo
Bị cô giáo trách mắng nặng nề, một học sinh lớp 12 của một trường THPT tư thục ở huyện
Đông Hưng (Thái Bình) đã nhảy từ tầng 2 xuống đất trước sự chứng kiến của cô giáo dạy
toán và bạn bè. Sau hai ngày điều trị tại bệnh viện, chiều 10/1, em học sinh đã tử vong.
Được biết, sự việc diễn ra ngay trong giờ học chính khóa, cô giáo dạy môn toán sửa một
bài kiểm tra và yêu cầu các học sinh làm sai các lỗi thường gặp chép lại nhiều lần bài kiểm
tra. Em có ý kiến phản đối "không cần chép nhiều lần như vậy " thì bị cô mắng và đuổi ra
khỏi lớp. Sau khi bị đuổi ra khỏi lớp, em học sinh này đã nhảy khỏi hành lang rơi xuống
3tầng 1. Dù được đưa đi cấp cứu kịp thời nhưng do bị thương quá nặng em học sinh đã tử
vong.
f{e

Nhận định của tổ chức Y tế thế giới (WHO)

41. Khái niệm và đối tượng nghiên cứu của Xã hội học
Xã hội học ra đời với tư cách là một bộ môn khoa học vào nửa cuối thế kỷ
XVIII nửa đầu thế kỷ XIX. Sự ra đời của xã hội học gắn liền với cuộc cách mạng
Pháp (với những ý tưởng về dân chủ, tự do, bình đẳng v.v ) và cách mạng công
nghiệp (với sự quan tâm về sức khỏe và điều kiện làm việc của công nhân, lao động
trẻ em, những biến đổi về xã hội và công nghệ v.v ). Cha đẻ của xã hội học là nhà
triết học thực chứng luận người Pháp - Auguste Comte. Comte đã dùng thuật ngữ
“xã hội học” để chỉ một lĩnh vực khoa học chuyên nghiên cứu về các quy luật của
sự tổ chức và biến đổi xã hội. Ông là người đầu tiên có công áp dụng phương pháp
nghiên cứu của khoa học thực chứng như quan sát, phân tích, so sánh, thực nghiệm
vào trong lĩnh vực nghiên cứu xã hội học. Ông cũng nêu ra một số quy luật, một số
phạm trù và khái niệm cơ bản của xã hội học mà cho đến nay vẫn được các nhà xã
hội học trên thế giới sử dụng. Chẳng hạn như khái niệm “biến đổi xã hội”, “thiết chế
xã hội”, “trật tự xã hội” v.v Auguste Comte cũng cho rằng bản chất của xã hội học
là ở chỗ sử dụng các phương pháp khoa học để xây dựng lý thuyết và kiểm chứng
giả thuyết. Quan điểm của ông về chủ nghĩa thực chứng khác hẳn với quan niệm
của một số nhà nghiên cứu thế kỷ XIX và thế kỷ XX ở chỗ: ông không đồng nhất
khái niệm thực chứng với khái niệm “kinh nghiệm chủ nghĩa”, hay với việc thu thập
số liệu một cách đơn thuần, không có lý thuyết, thiếu lý luận.
Nói chung, cho đến nay chưa có một định nghĩa nào về xã hội học có thể gọi
là hoàn toàn thỏa mãn do sự đa dạng về quan điểm giữa các nhà nghiên cứu. Mặc
dù vậy, với các quan điểm xã hội học, chúng ta có thể hiểu được các yếu tố như vốn
hiểu biết xã hội, vị trí xã hội của bản thân, thời gian và địa điểm mà chúng ta đang
sinh sống ảnh hưởng đến việc chúng ta nhìn nhận thế giới như thế nào, chúng ta ứng
xử với người khác như thế nào, các cá nhân khác trong xã hội chấp nhận chúng ta ở
mức độ nào.
Để giúp những người quan tâm đến xã hội học hiểu được vai trò của xã hội

chi tiết hơn trong bài 3 - Cấu trúc xã hội và sức khỏe.
Như vậy, chúng ta có thể tạm thời sử dụng định nghĩa xã hội học sau: Xã hội
họ c là ngành khoa học nghiên cứu về xã hội và hành vi xã hội của con người. Một
lần nữa, định nghĩa này lại nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tìm hiểu, phân tích
hành vi của con người trong những bối cảnh xã hội cụ thể, bởi nó bị quyết định rất
lớn từ cấu trúc xã hội đặc thù. Mối quan hệ giữa con người và xã hội được xã hội
học nghiên cứu trên các phương diện như cấu trúc xã hội, hành động xã hội, thiết
chế xã hội với các nguyên nhân và hệ quả xã hội của chúng.
Do sự đa dạng về quan điểm trong xã hội học nên đối tượng nghiên cứu của xã
hội học cũng rất đa dạng. Trong lịch sử phát triển của khoa học xã hội học đã xuất
hiện nhiều quan niệm khác nhau về đối tượng nghiên cứu của nó. Chẳng hạn như
Max Weber, nhà xã hội học người Đức, nhấn mạnh rằng xã hội học là khoa học
nghiên cứu về hành vi xã hội và hành động xã hội. Ông cho rằng các cách giải thích
xã hội học phải xuất phát từ việc hiểu lý do tại sao con người lại hành động theo
cách mà họ chọn. Theo Weber, nhà xã hội học phải lý giải các hiện tượng xã hội
chứ không chỉ là quan sát chúng, và cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của hành động từ góc
độ của người hành động chứ không phải từ cách phân tích của nhà nghiên cứu.
Một bậc thầy trong ngành xã hội học là nhà xã hội học người Pháp, Emile
Durkheim, cho rằng đối tượng nghiên cứu của xã hội học là các sự kiện xã hội và
quá trình xã hội như tương tác xã hội, trao đổi xã hội, phân tầng xã hội. Theo
Durkheim, nhà xã hội học phải quan sát sự kiện xã hội từ bên ngoài, nghiên cứu
chúng như nghiên cứu hiện tượng vật lý. Sự kiện là một cái gì có sẵn, khách quan
đ

i v

i ngư

i nghiên c


chúng ta có thể định nghĩa: xã hội học nghiên cứu các sự kiện xã hội và nguyên
nhân xã hội của các sự kiện xã hội đó. Theo E. Durkheim, một vấn đề xã hội được
coi là sự kiện xã hội khi sự kiện đó phát triển trong xã hội và chiếm một tỷ lệ nhất
định nào đó. Khi một vấn đề xã hội đã phát triển thành một sự kiện xã hội thì nó
không còn phụ thuộc vào cá nhân, nó ở bên ngoài cá nhân, và cho dù muốn hay
không muốn thì cá nhân mỗi người cũng không thể thay đổi được sự kiện xã hội đó.
Và cũng như ở phần trên cũng đã đề cập, khi đã trở thành sự kiện xã hội thì nó phải
được giải thích bằng các nguyên nhân xã hội, chứ không thể lý giải sự kiện xã hội
bằng quan điểm của cá nhân hay bằng các quan niệm thông thường. Các nguyên
nhân xã hội thường xuất phát từ chính “hình dạng” của cấu trúc xã hội đó. Để tìm
được các nguyên nhân xã hội, các nhà khoa học liên tục đặt ra những câu hỏi nghiên
cứu và thực hiện các nghiên cứu để trả lời cho những câu hỏi đó.
Cũng giống như các ngành khoa học xã hội khác, xã hội học cũng phát triển
trong nó các phân ngành gọi chung là các phân ngành xã hội học chuyên biệt. Có
thể kể ra đây một số phân ngành như: xã hội học gia đình, xã hội học y tế (xã hội
học sức khỏe), xã hội học kinh tế, xã hội học đô thị, xã hội học nông thôn, xã hội
học về giới, xã hội học về truyền thông đại chúng, an sinh xã hội, công tác xã hội,
v.v Mỗi ngành học này có lĩnh vực nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu riêng, tuy
nhiên điều đó không có nghĩa là chuyên gia của các ngành học này hoạt động một
cách độc lập. Các chuyên gia của từng lĩnh vực vẫn có sự phối hợp liên ngành với
nhau trong hoạt động nghiên cứu. Chẳng hạn như khi nghiên cứu về hoạt động
chăm sóc sức khỏe tại gia đình ở khu vực nông thôn thì chuyên gia của ba ngành
chuyên biệt là xã hội học gia đình, xã hội học y tế và xã hội học nông thôn có thể
phối hợp với nhau để cùng thực hiện nghiên cứu này.

2. Khái niệm và đối tượng nghiên cứu của Nhân học
Nhân học là một ngành khoa học xã hội và được coi là có quan hệ “chị em”
với ngành xã hội học. Mối quan tâm chính của các nhà nhân học là tìm hiểu về văn
hóa, tức là tìm hiểu về cuộc sống tổng thể của con người. Văn hóa bao gồm (1) các
sản phẩm do con người tạo ra, như công cụ lao động, nghệ thuật, và vũ khí; (2) cấu

của nhân học. Phân ngành này chủ yếu nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của bản
chất sinh học của con người. Cụ thể, đó là sự tiến hoá về mặt sinh học, tâm lý và sự
thích nghi của con người; những điểm giống và khác nhau về mặt sinh học và ứng
xử giữa con người và các loài linh trưởng khác; đặc điểm cấu tạo thể chất của con
người và mối quan hệ của nó với môi trường, chế độ ăn uống v.v
Trước Thế chiến II, Nhân học thể chất chủ yếu chú trọng vào việc nghiên cứu
nguồn gốc, quá trình tiến hoá của con người và việc phân loại các chủng tộc người.
Nhưng từ sau Thế chiến II, khi thuyết phân biệt chủng tộc bị bác bỏ, các nhà nghiên
cứu nhân học thể chất tập trung vào nghiên cứu các dạng thức tương đồng và dị biệt
về sinh học của con người như những tương đồng và dị biệt về mặt hoá học trong hệ
thống miễn nhiễm dịch của con người, mối tương quan giữa sự phát triển của cơ thể
con người và dinh dưỡng v.v Thuộc chuyên ngành này còn có các nhà linh trưởng
học chuyên nghiên cứu các động vật có họ hàng gần nhất với con người cũng như
các nhà cổ nhân học tìm tòi dưới lòng đất xương và hoá thạch của tổ tiên xa xưa
nhất của loài người.
Nhân học văn hoá-xã hội
8Trong khi Nhân học thể chất nghiên cứu bản chất sinh học của con người thì
trọng tâm của Nhân học văn hoá-xã hội là nghiên cứu những đặc trưng văn hoá của
con người, cụ thể là những tương đồng và khác biệt của các nền văn hoá, sự chi
phối của văn hoá tới cách ứng xử của con người trong những môi trường tự nhiên,
kinh tế-xã hội khác nhau mà trong đó con người sống và biến đổi nó, vai trò của văn
hoá trong quá trình phát triển v.v
Văn hoá thường được phân chia một cách quy ước ra thành văn hoá vật chất
hay văn hoá vật thể gồm mô hình kiến trúc nhà ở, kiểu cách trang phục và loại hình
thực phẩm và văn hoá tinh thần hay văn hoá phi vật thể gồm ngôn ngữ, mô hình tổ
chức xã hội, các phong tục tập quán như cưới xin, ma chay, chữa bệnh v.v Nhưng
cách phân chia này chỉ là tương đối. Ví dụ, những đồ thờ tự vừa có ý nghĩa văn hóa

4 phân ngành là Nhân học thể chất, Nhân học văn hoá-xã hội, Khảo cổ học, và
Ngôn ngữ học. Trong 4 phân ngành này, chỉ có Nhân học văn hóa-xã hội (sau đây
sẽ gọi tắt là Nhân học) có những đặc điểm gần với Xã hội học. Cho đến nay các nhà
khoa học của hai ngành này vẫn chưa tìm hiểu hết được điểm giống nhau và khác
nhau giữa hai ngành khoa học này nên vẫn còn những tranh luận tiếp tục diễn ra
giữa các nhà khoa học. Tuy nhiên, xét một cách tổng thể thì cả Nhân học và Xã hội
học đều nghiên cứu về xã hội loài người và hành vi của con người trong các bối
cảnh xã hội khác nhau cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đó.
Điểm khác biệt thực sự có thể nhìn thấy rõ ràng giữa hai ngành khoa học này
chính là ở phương pháp nghiên cứu
1
. Trong khi Xã hội học thường sử dụng phương
pháp định lượng (là các con số thống kê, các cuộc điều tra/khảo sát trên diện rộng)
trong nghiên cứu thì Nhân học chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính
(là việc đặt câu hỏi vì sao, như thế nào… và nhận được những câu trả lời mang tính
giải thích, lý giải). Hiện nay, các nhà xã hội học có xu hướng sử dụng kết hợp cả hai
phương pháp định lượng và định tính khi thực hiện các nghiên cứu của mình.
Một vài điểm khác biệt nhỏ giữa hai ngành này có thể chỉ ra đó là:
Xã hội học Nhân học

Phạm vi nghiên cứu từ một cộng
đồng nhỏ cho đến toàn quốc hoặc
trên toàn thế giới.

Nghiên cứu cấu trúc xã hội bao gồm
cả nguồn gốc, sự phát triển, và cách
tổ chức.

Nghiên cứu và phân tích sự kiện xã
hội dựa trên các thống kê định lượng.

xem xét khi lựa chọn phương pháp nghiên cứu bao gồm: kinh phí thực hiện, thời
gian, nhân lực, sự đồng ý tham gia nghiên cứu của đối tượng nghiên cứu, đạo đức
nghiên cứu, và các yếu tố môi trường - xã hội khác. Các phương pháp nghiên cứu
định lượng và định tính sẽ được trình bày cụ thể và chi tiết hơn trong môn Phương
pháp nghiên cứu khoa học. Trong môn học này, chúng tôi chỉ giới thiệu tóm tắt về
hai phương pháp nghiên cứu này để người đọc hình dung được các phương pháp
được sử dụng trong nghiên cứu Nhân học và Xã hội học.
4.1. Phương pháp nghiên cứu định lượng
Các phương pháp nhằm thu thập và xử lý những thông tin có thể lượng hoá
bằng các con số được gọi chung là nghiên cứu định lượng. Trong nghiên cứu định
lượng có nhiều kỹ thuật/phương pháp để thu thập thông tin. Ví dụ, có thể dùng
phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi/phiếu phỏng vấn hoặc nghiên cứu các báo cáo
thống kê có sẵn để biết trong một xã có bao nhiêu hộ gia đình, bao nhiêu trẻ em
dưới 6 tuổi, bao nhiêu trẻ em được tiêm chủng vắc xin phòng bệnh, bao nhiêu trẻ
em chưa được tiêm chủng, bao nhiêu trẻ em bị suy dinh dưỡng, v.v… Thông dụng
nhất là phương pháp điều tra chọn mẫu, phương pháp thăm dò ý kiến bằng phiếu
điều tra và một số phương pháp khác.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu định tính
Phương pháp định tính thu thập và xử lý những thông tin khó lượng hoá thành
con số về đặc điểm, tính chất và trạng thái của sự vật, hiện tượng. Ví dụ, tìm hiểu
xem người nghèo đối phó với bệnh tật như thế nào, tại sao họ không đi khám chữa
bệnh sớm mà để đến lúc bệnh nặng mới chạy chữa, họ suy nghĩ như thế nào và có
thái độ ra sao đối với các biện pháp phòng ngừa bệnh tật ở cộng đồng. Những thông
tin này có xu hướng mô tả, diễn giải về sự kiện, cho biết nguyên nhân và động cơ
của hành vi của các cá nhân chứ không xác định rõ bằng con số của các hiện tượng
đó. Trên thực tế, ta rất khó xác định chính xác bằng con số về mức độ nguy cơ của
sự lây nhiễm bệnh của các nhóm người mà chỉ có thể biết nhóm này có nguy cơ
cao, nhóm kia có nguy cơ thấp. Nhưng cụ thể cao là bao nhiêu, thấp là bao nhiêu
chỉ mang tính chất tương đối do vậy chúng ta thường phân thành từng loại. Những
thông tin như vậy được gọi là thông tin định tính. Nghiên cứu nhằm thu thập được

• Tìm hiểu động cơ • Tìm hiểu hành động
• Thông tin mang tính chủ quan • Thông tin mang tính khách quan
• Mang tính tìm kiếm/khám phá • Cung cấp bằng chứng khẳng định
• Thông tin mang tính lý giải vấn đề • Thông tin mang tính mô tả vấn đề

5. Khái niệm và đối tượng nghiên cứu của Xã hội học sức khỏe
Trong khi các cách tiếp cận truyền thống về sức khỏe và bệnh tật tập trung vào
khía cạnh sinh học và hành vi của cá nhân, thì xã hội học lại nhấn mạnh vào các
nguyên nhân xã hội của sức khỏe và bệnh tật như ảnh hưởng của các điều kiện sống
và làm việc. Các nhà xã hội học sức khỏe tìm kiếm các khuôn mẫu xã hội của bệnh
tật như sự khác biệt về tình trạng sức khỏe giữa nam giới và phụ nữ, giữa người
giàu và người nghèo và tìm kiếm sự giải thích mang tính xã hội hơn là sự lý giải
về sinh học hay tâm lý học.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, sức khỏe là trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh về
thể chất, tinh thần, và xã hội chứ không phải chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh
hay thương tật. Định nghĩa về sức khỏe này rõ ràng không chỉ đề cập đến trạng thái
có bệnh hay không có bệnh về mặt thể chất, mà ở đây đã nhắc đến các yếu tố về
tinh thần và xã hội. Như vậy, sức khỏe của con người không chỉ phụ thuộc vào yếu
12tố sinh học mà còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố về tâm lý và các yếu tố xã hội
khác. Đây chính là điểm mà các nhà xã hội học tập trung vào khi nghiên cứu về sức
khỏe.
Trong lịch sử hình thành và phát triển của ngành học này cũng đã có rất nhiều
quan điểm khác nhau. Ban đầu là những quan điểm thiên về y học. Mặc dù các nhà
xã hội học cũng cố gắng đi theo con đường riêng của mình nhưng về cơ bản họ vẫn
có chung quan điểm với những người làm trong ngành y. Nổi bật lên là hai quan
điểm sau đây: Thứ nhất, các nhà xã hội học cho rằng đau ốm/bệnh tật là một biểu
hiện của sự lệch chuẩn và bác sĩ chính là người phù hợp nhất để giải quyết vấn đề

13mà trong đó các thành viên tương tác với nhau để tạo ra các mối quan hệ với các
thành viên trong nhóm mình hoặc với các nhóm xã hội khác. Đối với các nhà xã hội
học, yếu tố làm cho cá nhân bị bệnh, họ được chữa trị như thế nào, và họ tử vong vì
nguyên nhân gì không thể giải thích bằng đặc điểm về tính cách hay bằng yếu tố
sinh học của họ. Điều mà các nhà xã hội học chú ý ở đây là vị trí xã hội của họ
trong hệ thống các mối quan hệ có thể tạo ra cơ hội tiếp cận với các nguồn lực để có
được một chất lượng cuộc sống tốt.
Theo định nghĩa về đối tượng nghiên cứu của xã hội học là nghiên cứu sự kiện
xã hội và nguyên nhân xã hội, xã hội học sức khỏe coi vấn đề sức khỏe là một sự
kiện xã hội. Theo đó, đối tượng nghiên cứu xã hội học sức khỏe là nguyên nhân xã
hội của sức khỏe/bệnh tật và hệ quả xã hội của tình trạng sức khỏe. Như đã đề cập
trong phần trên, nguyên nhân xã hội bắt nguồn từ chính cấu trúc/bối cảnh xã hội mà
cá nhân đang sinh sống. Các nguyên nhân xã hội ảnh hưởng tới vấn đề sức khỏe có
thể là sự bất bình đẳng trong tiếp cận các dịch vụ y tế giữa các nhóm xã hội; quá
trình đô thị hóa dẫn đến nhiều nguy cơ về sức khỏe cho nhóm người nhập cư; các
yếu tố về niềm tin, giá trị, phong tục tập quán ảnh hưởng đến hành vi chăm sóc sức
khỏe của người dân… Bên cạnh nghiên cứu các nguyên nhân xã hội, xã hội học sức
khỏe cũng tìm hiểu các hệ quả xã hội mà tình trạng sức khỏe/bệnh tật có thể tạo ra
để từ đó đề xuất các giải pháp góp phần thay đổi/phát triển mới các chính sách xã
hội. Ví dụ như các nghiên cứu xã hội học về vấn đề kì thị đối với người có HIV cho
thấy những hậu quả xã hội có thể xảy ra nếu hiện tượng kì thị còn tồn tại. Tất cả các
bằng chứng khoa học đó đã góp phần làm cho Luật phòng chống HIV/AIDS được
ban hành và có hiệu lực. Hay như gần đây là đóng góp của các nghiên cứu xã hội
học vào việc cung cấp bằng chứng giúp cho Luật phòng chống tác hại thuốc lá ra
đời và sẽ có hiệu lực trong năm 2013.
6. Khái niệm và đối tượng nghiên cứu của Nhân học y tế
Nhân học y tế là một phân ngành nhân học ứng dụng tìm cách sử dụng lý

Bài này cũng giúp người đọc hiểu được điểm giống nhau và phân biệt được sự
khác nhau giữa hai ngành Xã hội học và Nhân học, theo đó, Xã hội học và Nhân
học đều tìm hiểu hành vi xã hội của con người trong các bối cảnh xã hội cụ thể và
đều cố gắng lý giải những yếu tố văn hóa-xã hội ảnh hưởng tới hành vi đó.

15Tài liệu tham khảo
1. Cecil G Helman (2002). Culture, Health and Illness. 4th edition. Oxford
University Press.
2. John Germov (2005). Second opinion: An introduction to Health Sociology. 3rd
edition. Oxford University Press.
3. Kevin White (2002). An Introduction to the Sociology of Health and Illness.
Sage Publications Ltd.
4. Trường Đại học Y tế công cộng (2003). Giáo trình Xã hội học sức khỏe. Tài liệu
lưu hành nội bộ.
5. Trường Đại học Y tế công cộng (2005). Giáo trình Nhân học y tế ứng dụng và
Phương pháp nghiên cứu định tính.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status