BÀI 1. GIỚI THIỆU VỀ QUẢN LÝ VÀ ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ SỨC KHOẺ MÔI TRƯỜNG-NGHỀ NGHIỆP - Pdf 29


 !"#$
Ths. Trần Thị Tuyết Hạnh, Ths. Nguyễn Thúy Quỳnh
%&'(')*+4 tit l thuyt
M,C TIÊU
%'% /0*(1%2**3456'*%7'8*.2*.9:%;*<*(+
1. Hiểu khái niệm nguy cơ, yu tố nguy cơ, đánh giá nguy cơ, quản l nguy cơ v.v.
2. Hiểu được các mô hình đánh giá nguy cơ khác nhau và vai trò của đánh giá nguy cơ
trong quản l nguy cơ.
3. Trình bày được các bước chính của Khungđánh giá nguy cơ Sức khỏe môi trường-
nghề nghiệp (SKMT-NN).
 =>, 

 %?'*'@A*(B4.C734DBEF*(B4.C
Theo Ropeik và Grey (2002): “nguy cơ được định nghĩa là xác suất mà việc phơi nhiễm
với yếu tố nguy cơ sẽ để lại một hậu quả xấu”. Một khái niệm tương tự khác về nguy cơ
sức khỏe môi trường: “Nguy cơ Sức khỏe môi trường là xác suất một hậu quả xấu sẽ xẩy
ra trong một khoảng thời gian nào đó, trên một người, một nhóm người, hay trên cây cối,
động vật hay hệ sinh thái của một vùng nào đó do phơi nhiễm với một yếu tố nguy cơ ở
một liều hay nồng độ nhất định” (enHealth Council, 2004). Có nghĩa là nguy cơ phụ
thuộc vào mức độ độc hại của chất phơi nhiễm và mức độ phơi nhiễm. Vì vậy, các khái
niệm này có thể được mô tả bằng công thức sau đây:
(B4.CGH?.6BIE/JBKB;/DBEF*(B4.C/$%C'*%'LA
Cán bộ thực hiện công tácđánh giá và quản l nguy cơ cần hiểu rõ các yu tố quyt định
nguy cơ được nêu ở công thức trên. Xác suất là một yu tố mang tính thống kê nhằm mô
tả khả năng một việc gì đó sẽ xẩy ra, ví dụ ‘Nguy cơ mắc bệnh ung thư do phơi nhiễm
nghề nghiệp với chất hóa học X ở nồng độ Y là một phần triệu’, ‘Nguy cơ mắc bệnh tiêu
chảy do khuẩn Salmonella có trong nem chua nu bạn ăn 100 g nem chua mỗi tuần là Z”.
Xác suất “Z” phụ thuộc vào nhiều yu tố như lượng khuẩn Salmonella có trong thịt, mức
độ nhạy cảm của từng cá nhân, lượng nem chua đã ăn, nem chua được ăn ngay hay rán
lên rồi mới ăn v.v.

Hạt ngũ cốc (hydrat-cacbon) Aspergillus, Fusarium, Penicillium ,Monilia,Rhizopus.
Bánh mì (hydrat-cacbon) Bacillus, Aspergillus, Penicillium, Endomyces, Rhizopus,
Neurospora.
Rau (hydrat-cacbon) Achromobacter, Pseudomonas, Flavobacterium,
Lactobacillus, Bacillus.
Hoa quả và nước trái cây Acetobacter, Lactobacillus, Saccharomyces,Torulopsis.
Thịt tươi (chất đạm và chất
béo)
Micrococcus, Cladosporium, Thamnidium,
Achromobacter, Pseudomonas, Flavobacterium.
Xúc xích, thịt xông khói,
giăm bông v.v.
Micrococcus, Lactobacillus, Streptococcus, Debarmyces,
Penicillium
Thịt gia cầm (chất đạm và
chất béo)
Achromobacter, Pseudomonas, Flavobacterium,
Micrococcus, Salmonella.
Cá, tôm (chất đạm) Achromobacter, Pseudomonas, Flavobacterium,
Micrococcus, vibrio
Sữa, các sản phẩm sữa Streptococcus, Lactobacillus, Microbacterium,
Achromobacter, Pseudomonas, Flavobacterium, Bacillus
Trứng (chất đạm, chất béo) Pseudomonas, Cladosporium, Penicillium, Sporotrichum.
Nguồn: />important-foods.htm
Hình 1. Các ví dụ về các yếu tố nguy cơ vi sinh vật có trong thực phẩm và nước sinh
hoạt:E coli 0157:H7; Khuẩn lỵ amip; vi rút viêm gan A, khuẩn salmonella; vi khuẩn
Campylobacter; phẩy khuẩn tả; khuẩn liên cầu; trực khuẩn mủ xanh, vi cầu khuẩn.
Phơi nhiễm là sự tip xúc giữa chất hay yu tố ô nhiễm môi trường-nghề nghiệp với đối
tượng đích, dẫn đn sự thấm nhiễm; ví dụ trẻ em tip xúc với chì trong đất dẫn đn bị
nhiễm độc chì; công nhân khai thác than, công nhân xây dựng v.v. thường tip xúc và bị

Ngoài những khái niệm ở trên, còn có những khái niệm nguy cơ liên quan đn các nguy
cơ sức khỏe môi trường. Ví dụ, theo Ủy ban Quốc hội Mỹ về Đánh giá và Quản l Nguy
cơ (Presidential/Congressional Commission on Risk Assessment and Risk Management
1997): Nguy cơ được định nghĩa như là xác suất mà một chất hay một tình huống nào đó,
trong một số điều kiện nhất định, sẽ để lại tác hại.Nguy cơ được tạo thành bởi hai yu tố:
đó là xác suất một tác động có hại sẽ xẩy ra (ví dụ xác suất một bệnh hay một chấn
thương nào đó sẽ xẩy ra) và hậu quả của tác động đó(ví dụ chấn thương sọ não, tử
vong).Theo định nghĩa này, nguy cơ được mô tả bằng công thức sau:
Nguy cơ = Xác suất một tác động có hại xẩy ra x hậu quả của tác động có hại
Trong khi theo McColl và cộng sự(2000), nguy cơ được định nghĩa như khả năng những
tác động có hại cho sức khỏe có thể xảy ra do phơi nhiễm với một yu tố nguy cơ trong
một cộng đồng dân cư và là tổng hợp của hai yu tố: Xác suất phơi nhiễm và mức độ
nghiêm trọng của hậu quả. Nguy cơ = Xác suất phơi nhiễm x Mức độ nghiêm trọng của
hậu quả.
Những khái niệm nêu trên cho thấy đối với một nguy cơ SKMT-NN, hai yu tố cơ bản
hình thành nguy cơ là phơi nhiễm (bao gồm xác suất) và yu tố nguy cơ (bao gồm hậu
quả). Phần lớn các hoạt động của con người đều có nguy cơ nào đó. Nguy cơ thường
được các cá nhân đánh giá một cách vô thức. Sau khi đánh giá nguy cơ liên quan một
cách có  thức hoặc vô thức, một quyt định sẽ được đưa ra về việc có chấp nhận nguy cơ
đó hay không. Các ví dụ về hành vi chấp nhận nguy cơ một cách có  thức như: đua xe,
đi băng qua đường vào giờ tam tầm, tham gia các môn thể thao mạo hiểm, bơi lội, phơi
nắng, đi máy bay, phơi nhiễm với các yu tố hoá học và vi sinh vật trong môi trường, hút
thuốc, uống rượu, tiêu thụ thực phẩm bin đổi gen, làm việc trong môi trường ồn, rung và
có mức ô nhiễm không khícao v.v. Một hậu quả sức khỏe có thể ở nhiều mức độ khác
nhau, từ những tác hại không đáng kể (có thể chữa trị được, không làm suy nhược cơ thể
và không đe dọa đn tính mạng) như da nổi mụn, ho, đau đầu, đau họng, buồn nôn, chóng
mặt v.v. đn các ảnh hưởng nghiêm trọng hơn (không thể chữa trị, làm suy nhược cơ thể,
thậm chí có thể đe dọa đn tính mạng), chẳng hạn như tiêu chảy, nhiễm vi rút H5N1, sốt
xuất huyt dengue, dị tật bẩm sinh, ung thư, bệnh HIV/AIDS v.v.
W %?'*'@AX?*%('?*(B4.C6Y.:%Z[AS'EMU&*(#*(%\*(%'@1

Trong thực t, tùy thuộc vào tình huống, các loại nguy cơ có thể tương đối khác nhau và
vì vậy cách một chuyên gia Y t công cộng nhận thức về một nguy cơ sẽ rất khác so với
một chuyên gia về xã hội học, chuyên gia về nông nghiệp v.v. Trong tài liệu đào tạo này,
nội dung sẽ tập trung vào đánh giá các nguy cơ sức khỏe/nguy cơ SKMT-NN, chủ yu
liên quan đn các yu tố nguy cơ hoá học và vi sinh vật. Trong thực t thì khung đánh giá
này chưa được áp dụng nhiều đối với các nguy cơ vật l hay tâm l xã hội. Phần lớn các
nghiên cứu đã được công bố trên các tạp chí khoa học trên th giới là áp dụng khung này
để đánh giá các yu tố nguy cơ hoá học và sinh học. Đánh giá nguy cơSKMT-NN có thể
được sử dụng để (1) Đề ra các hướng dẫn về nộng độ cho phép đối với các chất/yu tố
gây ô nhiễm có trong nước và thực phẩm; (2) Đánh giá các tác hại liên quan đn sức khỏe
do phơi nhiễm với các yu tố nguy cơ nghề nghiệp; (3) Đánh giá nguy cơ sức khỏe do
các tác nhân hóa học và vi sinh khi các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy có nguy cơ tiềm
ẩn; và (4) Đánh giá nguy cơ mắc bệnh ung thư do phơi nhiễm với một chất gây ô nhiễm
trong môi trường.
` %?'*'@AKB;*Qa*(B4.C
Trên th giới có nhiều khái niệm khác nhau về quản l nguy cơ. Theo Tiêu chuẩn cùa
Ôxtrâylia, quản l nguy cơ là ‘Quy trình và hệ thống được tạo ra nhằm quản lý một cách
hiệu quả các cơ hội tiềm năng và các tác động tiêu cực’– AS4360. Trong khi theo
enHealth (2004), đây là ‘Quy trình đánh giá các phương án hành động, lựa chọn và triển
khai các giải pháp phù hợp để kiểm soát nguy cơ SKMT-NN dựa trên kết quả đánh giá
nguy cơ. Quá trình ra quyết định sẽ sử dụng các thông tin chính trị, kinh tế, xã hội, kỹ
thuật, khoa học. Quá trình này đòi hỏi sự cân nhắc các giá trị và chi phí’. Tương tự, khái
niệm do Ủy ban Quốc hội Hoa Kỳ về Đánh giá nguy cơ và Quản l nguy cơ (1997) đưa
ra như sau “Quản lý nguy cơ là quá trình xác định, đánh giá, lựa chọn và đưa ra các
hành động nhằm làm giảm nguy cơ đối với sức khỏe con người và hệ sinh thái. Giá trị
cốt lõi của quản lý nguy cơ là phải dựa trên cơ sở khoa học, hiệu quả về mặt chi phí, các
hành động có tính kết nối nhằm làm giảm hoặc ngăn ngừa nguy cơ đồng thời cân nhắc
các yếu tố văn hóa xã hội, đạo đức, chính trị và luật pháp”. Để có được một cái nhìn tổng
quan hơn nữa về các khung khác nhau sử dụng cho đánh giá và quản l nguy cơ sức khỏe
và nguy cơ SKMT-NN, sinh viên nên đọc thêm bài báo phân tích vể vấn đề này của tác

 Xác định Nguy cơ Sức khỏe: Thách thức trong công tác bảo vệ Sức khỏe (Health
and Welfare Canada, 1990),
 Luật Bảo vệ Môi trường Canada: Đánh giá nguy cơ Sức khỏe Con người liên quan
tới các chất ưu tiên (Health Canada, 1994),
 Mô hình Quản l Nguy cơ Sức khỏe Môi trường (Ủy ban Quốc hội về Đánh giá và
Quản l Nguy cơ - US Presidential/Congressional Commission on Risk
Assessment and Risk Management, 1997),
 Đánh giá nguy cơ Sức khỏe Môi trường (Ủy ban Sức khỏe môi trường Ôxtrâylia -
enHealth Council of Ôxtrâylia 2004),
 Mô hình Đánh giá nguy cơ Sinh thái (CCME, 1996),
 Hướng dẫn Đánh giá nguy cơ Sinh thái (US EPA, 1998b),
 Đề xuất mô hình Đánh giá và Quản l Nguy cơ Sức khỏe Nghề nghiệp (Rampal &
Sadhra, 1999), v.v.
Tuy nhiên, những khung đánh giá nguy cơ này nhìn chung có quy trình tương đối giống
nhau, chủ yu bao gồm ba giai đoạn như trong mô hình của NRC. Jardine và cộng sự
(2003) đã phân tích 12 mô hình quản l và đánh giá nguy cơ được áp dụng phổ bin trên
toàn th giới và đã xác định được bảy yu tố căn bản cần có trong một mô hình hoàn
chỉnh nhằm đánh giá và quản l các nguy cơ sức khỏe con người, sinh thái, SKMT-NN
như được liệt kê dưới đây:
 Giai đoạn xác định vấn đề;
 Sự tham gia của các bên liên quan;
 Truyền thông;
 Cấu phần đánh giá nguy cơ định lượng
 Xem xét và đánh giá
 Đưa ra quyt định dựa trên bằng chứng
 Tính linh hoạt
Năm 2007, WHO đã đưa ra một khái niệm mới về mô hình đánh giá nguy cơ tích hợp là
một cách tip cận dựa trên cơ sở khoa học, kt hợp các quy trình đánh giá nguy cơ cho cả
con người, sinh vật và các nguồn tài nguyên tự nhiên trong một khung đánh giá. Một quy
trình như vậy có thể được áp dụng rộng rãi cho nhiều loại hình đánh giá khác nhau, bao

đủ những điều kiện cơ sở vật chất, số liệu và cán bộ được đào tạo trong lĩnh vực đánh giá
nguy cơ. Tuy nhiên, nhiều nước, chẳng hạn như ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương,
đã triển khai các hoạt động liên quan đn bảo vệ sức khỏe và môi trường như tin hành
các nghiên cứu, đưa ra các văn bản pháp l, quy định và thit lập hệ thống quản l môi
trường v.v.
Tương tự như ở các nước đang phát triển khác trong khu vực, công tác đánh giá và quản
l nguy cơ SKMT-NN ở Việt Nam chưa được thực hiện một cách bài bản và khoa học.
Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Luật Bảo vệ và Chăm sóc Sức khỏe nhân
dân (1989), Luật Bảo vệ Môi trường (1994, sửa đổi năm 2005)… Mặc dù những hướng
dẫn hay khung đánh giá nguy cơ đã không được xây dựng cụ thể cho bối cảnh thực t ở
Việt Nam, các mô hình và tiêu chuẩn quốc t về đánh giá nguy cơ vẫn có thể áp dụng
một cách thích hợp trong những lĩnh vực nhưSức khỏe môi trường, an toàn vệ sinh thực
phẩm, an toàn vệ sinh lao động, bảo vệ môi trường và sức khỏe con người v.v.
Tuy nhiên, các nguyên tắc, các bước và quy trình đánh giá nguy cơ chỉ mới được thực
hiện bài bản trong các nghiên cứu khoa học. Việc áp dụng khung đánh giá nguy cơ cho
những mục đích khác trong thực t vẫn còn thụ động và mang tính dịch vụ, có nghĩa là
đánh giá nguy cơ chỉ được tin hành khi tác động đã xảy ra, ví dụ khi dịch sốt rét, sốt
xuất huyt, tiêu chảy cấp, SARS, cúm gia cầm v.v. đã xẩy ra. Dù cho khung đánh giá
nguy cơ ở các nước phát triển hay đang phát triển cũng đã và đang được áp dụng ở một
mức độ nào đó, hiện vẫn còn ba tồn tại cơ bản sau đây: (1) thiu những số liệu về độc
chất học trên quẩn thể người nói chung và các chủng tộc cụ thể nói riêng, phần lớn các thí
nghiệm được thực hiện trên các động vật, (2) khung thời gian phơi nhiễm còn hạn ch và
(3) sự tồn tại của các yu tố không chắc chắn. Những yu tố này cùng với những nguyên
nhân khác như thiu cơ sở vật chất, kin thức và năng lực đã góp phần tạo nên sự không
đồng đều trong việc áp dụng khung đánh giá/quản l nguy cơ trên th giới.
` 1ij*(:%B*(X?*%('?73KB;*Qa*(B4.C
Đánh giá và quản l nguy cơ đã và đang được áp dụng rộng rãi tại nhiều nước trên th
giới, đặc biệt là trong lĩnh vực nước sinh hoạt và thực phẩm vì chất lượng nước và thực
phẩm ảnh hưởng trực tip tới sức khỏe con người. US EPA đã đưa ra những tài liệu cụ
thể liên quan đn lĩnh vực này như: Sổ tay về yu tố phơi nhiễm (US EPA 1989); Hướng

ting ồn, rung, bụi silic v.v.
.
 d^ !"#
$
 'g'E%'@B
Quy trình cơ bản được xây dựng riêng cho đánh giá và quản l nguy cơ SKMT-NN là
Khung Đánh giá nguy cơ Sức khỏe Môi Trường của Ôx-trây-lia (Environmental Health
Risk Assessment, vit tắt là EHRA) do Ủy ban Sức khỏe Môi trường đưa ra (2004). Vì
vậy, khung đánh giá này sẽ là cơ sở cho các phương pháp đánh giá nguy cơ được sử dụng
trong khóa học này. EHRA là một quy trình hay một phương pháp nhằm đánh giá các
nguy cơ đối với sức khỏe con người do phơi nhiễm với các yu tố nguy cơ trong môi
trường. Quy trình này được sử dụng nhằm giúp đề ra những tiêu chuẩn và các hướng dẫn
nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng và sức khỏe người lao động (ví dụ, tiêu chuẩn về ô
nhiễm không khí, nước uống). Khi chưa có các tiêu chuẩn rõ ràng thì EHRA giúp đánh
giá các nguy cơ sức khỏe do phơi nhiễm với một chất hóa học, một sản phẩm hay một
hoạt động cụ thể. EHRA cũng được ứng dụng trong các tình huống thực t, tình huống
giả định, hay được thực hiện như là một cấu phần của quy trình đánh giá tác động sức
khỏe. Mặc dù khung Đánh giá nguy cơ SKMT-NN này được đưa ra nhằm đánh giá các
loại yu tố nguy cơ khác nhau bao gồm sinh vật, hóa chất, yu tố vật l hay tâm l xã hội,
nhưng trong khuôn khổ giáo trình này nội dung chủ yu tập trung đánh giá những yu tố
nguy cơ hóa học và vi sinh vật. Khung đánh giá nguy cơ SKMT-NN được xây dựng dựa
vào mô hình đánh giá và quản l nguy cơ sức khỏe của của Hội đồng Nghiên cứu Quốc
gia Mỹ (U.S. NRC 1983) và của Ủy ban Quốc hội Mỹ về Đánh giá và Quản l Nguy cơ
(P/CCRARM 1997).
Khung đánh giá này gồm bốn bước chính như sau: xác định vấn đề; đánh giá yu tố nguy
cơ (bao gồm xác định yu tố nguy cơ và đánh giá liều-đáp ứng); đánh giá phơi nhiễm; và
mô tả nguy cơ (Hình 4). Ngoài bốn bước chính này còn có truyền thông nguy cơ, sự tham
gia của các bên liên quan và tham vấn cộng đồng là cấu phần quan trọng cần được tin
hành trong suốt quá trình quản l và đánh giá nguy cơ. Phần này chỉ trình bảy một cách
ngắn gọn nội dung chính của từng bước trong khung đánh giá nguy cơ SKMT-NN. Các

:'pA
EM)Eq*%
E%N.
E'L*
Đánh giá
nguy cơ &
phân tích
phương án
và quyt
định
Xử l
nguy cơ
Giám sát
và đánh
giá
H?.Xk*%7I*X\
?*%('?4DBEF
*(B4.C
Xác định yu
tốnguycơ
Đánh giá
liều-đáp ứng
?*%('?
1%C'*%'LA
H[A/TE5
73:'pA
EM)Eq*%
E%N.E'L*
SE;*(B4
.C

và các chất hóa học đưa từ ngoài vào. Thông thường, các men này khử độc các chất hóa
học nhằm ngăn chặn các tác động có hại đn các t bào, các cơ quan và toàn bộ cơ thể.
Tuy nhiên, có những trường hợp trong đó sự trao đổi chất lại kích hoạt các chất hóa học
thành các dạng độc hại hoặc quá trình chuyển hoá sản sinh ra các sản phẩm phụ có tác
động tiêu cực tới sức khoẻ. Vì vậy, khi xác định các yu tố nguy cơ hóa học, chúng ta cần
cân nhắc không chỉ bản thân các chất hóa học mà còn chú trọng đn cả các sản phẩm phụ
của quá trình chuyển hoá các chất này. Liên quan đn các yu tố nguy cơ sinh học, một
số vi sinh vật có thể không có hại, tuy nhiên khi xâm nhập vào trong cơ thể con người và
đn một số cơ quan trong cơ thể, chúng có thể sản sinh ra các độc chất gây hại cho sức
khỏe con người.
Mặc dù cả nghiên cứu độc chất và nghiên cứu dịch tễ học đều có thể được sử dụng trong
bước xác định yu tố nguy cơ, trong thực t, các nghiên cứu dịch tễ học được đánh giá là
quan trọng hơn do được tin hành trên quần thể người. Tuy nhiên, theo Samet và cộng sự
(1998), nu so sánh với các nghiên cứu độc chất học, các nghiên cứu dịch tễ học có nhiều
giới hạn, như: thường đòi hỏi chi phí cao hơn, tin hành trong những khoảng thời gian
dài, khó kiểm soát các yu tố nhiễu và có thể dẫn đn những kt quả không đáng tin cậy.
Để có thể hiểu rõ hơn về vai trò của nghiên cứu độc chất học và dịch tễ học trong Đánh
giá nguy cơ SKMT-NN, sinh viên có thể tham khảo thêm các tài liệu khác về độc học
môi trường, dịch tễ học môi trường hay Hướng dẫn Đánh giá nguy cơ Sức khỏe Môi
trường do Ủy ban enHealth Ôxtrâylia ban hành năm 2004. Tại Việt nam, việc áp dụng
các nghiên cứu độc học và dịch tễ học trong bước xác định yu tố nguy cơ còn khá giới
hạn do có ít nghiên cứu độc học trên các yu tố nguy cơ sinh học, hóa học và hầu ht các
nghiên cứu dịch tễ học là các nghiên cứu mô tả cắt ngang hay các nghiên cứu bệnh chứng
với rất ít nghiên cứu thuần tập ở quy mô lớn.
3.2. Đánh giá mối quan hệ liều-đáp ứng
Trong bước này, cả thông tin định tính và định lượng về độc tính được phân tích nhằm
đánh giá mối liên quan giữa các mức độ phơi nhiễm khác nhau và ảnh hưởng sức khoẻ,
đặc biệt là các tác động tiêu cực. Có nhiều cách khác nhau để đánh giá mối quan hệ liều
đáp ứng, bao gồm: các liều gây tác hại (ví dụ, LD, LC, ED) và liều không gây đáp ứng có
hại quan sát được (NOAEL); hay các mô hình để ngoại suy các kt quả nghiên cứu ở liều

Nguồn: />s SE;*(B4.C
Mô tả nguy cơ là bước cuối cùng của quá trình đánh giá nguy cơ SKMT-NN. Mục tiêu
của bước này là tổng hợp tất cả những thông tin từ các bước xác định vấn đề, đánh giá
yu tố nguy cơ và đánh giá phơi nhiễm; để mô tả nguy cơ về mặt bản chất, quy mô và
mức độ ảnh hưởng sức khỏe tới cá nhân và cộng đồng. Bước này cũng cần đánh giá lại
chất lượng chung của quá trình đánh giá cũng như những giả định và kt luận đưa ra
nhằm ước lượng nguy cơ. Ủy ban enHealth (2004) cho rằng bước mô tả nguy cơ cuối
cùng him khi chính xác tuyệt đối về mặt định lượng do có những hạn ch về mặt số liệu
làm cơ sở cho quá trình đánh giá. Tuy nhiên, nu tin hành đánh giá định lượng, các
mức ước lượng nguy cơ có thể được đưa ra bằng cách sử dụng nhiều mô hình khác nhau.
Khi có sự không chắc chắn trong mỗi bước của quá trình Đánh giá nguy cơ SKMT-NN,
phần mô tả nguy cơ cũng cần phân tích những yu tố không chắc chắn này. Phần này
nên bao gồm nội dung đánh giá những yu tố không chắc chắn do thiu thông tin, các sai
số (ví dụ: sai số lấy mẫu, sai số phân tích) và những giả định đưa vàocác mô hình dự
đoán. Nhìn chung, bước mô tả nguy cơ cung cấp cho những người quản l nguy cơ một
cở sở khoa học trong việc đưa ra những quyt định về lựa chọn các giải pháp quản l
nguy cơ và cung cấp những thông tin cơ bản cho các hoạt động truyền thông nguy cơ.
Nguồn phơi nhiễm Đường phơi nhiễm Phân bố của chất độc
Nước
Đất
Không khí
Mạch máu
Hấp thụ ở ruột
Ăn uống
Tip xúc qua da
Hít thở
Chuyển hoá ở gan
T bào
Đào thải
Đào thải ở thận

Thêm vào đó, số liệu phục vụ công tác đánh giá phơi nhiễm còn khá hạn ch. Để tăng
cường công tác áp dụng khung đánh giá này trong thực t, các ban, ngành liên quan cần
tip cận với phương pháp đánh giá nguy cơ SKMT-NN và coi đây là một công cụ quan
trọng trong quản l các nguy cơ SKMT-NN, cũng như có một k hoạch cụ thể và hệ
thống cơ sở dữ liệu cần thit phục vụ các hoạt động đánh giá nguy cơ.
c
Australian enHealth Council 2004, Environmental Health Risk Assessment: Guidelines
for Assessing Human Health Risks from Environmental Hazards, Department of Health
and Ageing, Canberra.
Ôxtrâylia New Zealand Food Authority (ANZFA), 1996. Framework for the assessment
and management of food-related health risks. ANZFA. Canberra
Blake ER 1995, ‘Understanding outrage: How scientists can help bridge the risk
perception gap’, Environmental Health Perspectives, supps vol. 103, supp. 6, pp. 123-
125.
Connel D, 2010. Overview of Environmental Health risk assessment. Griffith School of
the Environment, Griffith University. Training materials for the Training workshop in
Environmenal behaviour and human health risk assessment associated with the use of
agricultural Thuốc trừ sâu in Vietnam. Hanoi School of Public Health, Vietnam.
Glenn Suter, Theo Vermeire, Wayne Munns, and Jun Sekizawa, 2007. Framework for the
integration of health and ecological risk assessment. Integrated Risk Assessment. Report
Prepared for the WHO/UNEP/ILO International Programme on Chemical Safety.
WHO/IPCS/IRA/01/12.
Harley, D., Harrower, B., Lyon, M. and Dick, A. (2001) A primary school outbreak of
pharyngoconjunctival fever caused by adenovirus type 3. Commun Dis Intell 25, 9–12.
Howe A, Hoo Fun L, Lalor G, Rattray R, Vutchkov M. 2005. Elemental composition of
Jamaican foods 1: a survey of five food crop categories. Environ Geochem Health
27(1):19–30.
Hrudey SE (1998). Quantitative cancer risk assessment—pitfalls and progress. In: Hester
RE and Harrison RM. Issues in Environmental Science and Technology, No. 9. Royal
Society of Chemistry Risk Assessment and Risk Management. Cambridge, UK


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status