Phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc - Pdf 29


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

LÊ THU TRANG
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĨNH TƢỜNG -
TỈNH VĨNH PHÚC

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trần Lê Hƣng
THÁI NGUYÊN - 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Trường
Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, Khoa Kinh tế, cảm
ơn các quý thầy - cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt
quá trình học tập và rèn luyện tại trường.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Trần Lê Hƣng
người đã dành nhiều thời gian, công sức chỉ bảo, tạo điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn
thành tốt luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Chi cục Phát triên nông thôn, Phòng Nông
nghiệp, Phòng Thống kê huyện Vĩnh Tường và các chủ trang trại đã nhiệt tình giúp
đỡ, cung cấp số liệu, các thông tin cần thiết để phục vụ cho quá trình nghiên cứu
hoàn thiện đề tài này.
Do điều kiện, thời gian và trình độ nghiên cứu có hạn nên luận văn khó tránh
khỏi những thiếu sót, hạn chế. Vì vậy, tôi mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý
kiến của các thầy, cô giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!

Ngày…….tháng……năm 2014
Tác giả luận văn
Chƣơng 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1. Các câu hỏi đề tài cần giải quyết 37
2.2. Phương pháp nghiên cứu 37
2.2.1. Chọn điểm nghiên cứu 38
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu 38
2.2.3. Phương pháp thống kê mô tả 39
2.2.4. Phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu 39
2.2.5. Phương pháp chuyên gia 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu iv
2.2.6. Phương pháp tham khảo, kế thừa các tài liệu liên quan đến đề tài 40
2.2.7. Phương pháp quan sát 40
2.3. Các chỉ tiêu phân tích 40
2.3.1. Các chỉ tiêu phản ánh các yếu tố sản xuất 40
2.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh kết quả, chi phí, hiệu quả và tình hình sản
xuất hàng hoá 40
Chƣơng 3. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VĨNH TƢỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC 42
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 42
3.1.1. Vị trí địa lý 42
3.1.2. Đặc điểm tự nhiên 42
3.1.3. Dân số và lao động 46
3.1.4. Cơ sở hạ tầng 46
3.2. Phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc 51
3.2.1. Về số lượng và loại hình trang trại trên địa bàn huyện 51
3.2.2. Một số tiêu chí đánh giá KTTT huyện Vĩnh Tường 53
3.2.3. Về áp dụng tiêu chí xác định kinh tế trang trại trên địa bàn huyện 54

dựng nông thôn mới 86
4.1.2. Phát triển KTTT nhằm phát huy lợi thế so sánh của từng địa phương 88
4.1.3. Tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển KTTT 89
4.1.4. Phát triển trang trại bền vững theo hướng trang trại kinh doanh tổng hợp 89
4.2. Các giải pháp phát triển kinh tế trang trại 90
4.2.1. Nhóm giải pháp thuộc nội bộ trang trại 91
4.2.2. Nhóm giải pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho trang trại phát triển 94
4.3. Kiến nghị 100
4.3.1. Đối với Trung ương 100
4.3.2. Đối với địa phương và chủ trang trại 100
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu vi
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

CNH - ĐTH : Công nghiệp hóa - Đô thị hóa
CNH : Công nghiệp hóa
CNTB : Chủ nghĩa tư bản
GCN : Giấy chứng nhận
HĐH : Hiện đại hóa
HĐND : Hội đồng nhân dân
HTX : Hợp tác xã
KT- XH : Kinh tế - xã hội
KTTT : Kinh tế trang trại
NTTS : Nuôi trồng thủy sản
PTNT : Phát triển nông thôn


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 1
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, liền kề với thủ đô
Hà Nội. Sau khi tái lập tỉnh vào năm 1997, Vĩnh Phúc là một trong những địa
phương có tốc độ tăng trưởng GDP trung bình năm cao nhất cả nước, thời kỳ 1998-
2000 đạt 18,12%. Giai đoạn 2001-2005 tăng trưởng GDP đạt 15,02%, giai đoạn
2006 - 2010 đạt 17,4%. Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng luôn đạt mức cao trong số
các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và Vùng Kinh tế trọng điểm phía Bắc, tăng gấp 2
lần so với trung bình của cả nước.
Để đảm bảo phát triển bền vững, tỉnh đã xác định hướng đi đúng đắn là lấy
phát triển công nghiệp dịch vụ để đầu tư trở lại cho nông nghiệp, huy động các
nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất và xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông
thôn. Nhờ đó sản xuất nông nghiệp của tỉnh có bước tăng trưởng khá cao, GDP
nông nghiệp tăng bình quân 6,4% giai đoạn 2001-2005, giai đoạn 2006-2010 đạt
5,60%, diện mạo nông thôn có nhiều đổi mới.
Trong những năm gần đây, thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước nói
chung và định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn của tỉnh Vĩnh Phúc nói
riêng, HĐND, UBND tỉnh đặc biệt chú ý và tạo điều kiện hỗ trợ, ưu tiên phát triển. Đã
có nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại được ban hành với mục
tiêu đưa kinh tế nông nghiệp nông thôn phát triển mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa
với quy mô gia trại, trang trại. Tuy nhiên sản xuất vẫn còn ở tình trạng quy mô nhỏ, sản
lượng hàng hoá ít, chất lượng chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường.
Vĩnh Tường là một huyện đồng bằng của tỉnh Vĩnh Phúc, với cơ cấu kinh tế chủ
yếu là nông - lâm nghiệp - thủy sản, trong những năm gần đây sản xuất nông - lâm
nghiệp - thủy sản của huyện đã và đang có những bước chuyển biến tích tực, sản lượng

- Phân tích các nhân tố tác động đến sự phát triển của kinh tế trang trại trên
địa bàn huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Nhân tố thuộc về hệ thống cơ chế chính sách
+ Nhân tố Khoa học và công nghệ
+ Nhân tố công nghiệp hóa và đô thị hóa
+ Nhân tố nguồn nhân lực
+ Nhân tố về hội nhập kinh tế
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 3
Là các chỉ tiêu số liệu, các vấn đề về hoạt động sản xuất kinh doanh của các
trang trại trên địa bàn huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các trang
trại trên địa bàn huyện Vĩnh Tường, đồng thời sẽ đi sâu đánh giá thực trạng hoạt
động sản xuất của các hộ nông dân để từ đó rút ra những thuận lợi, khó khăn của
phát triển kinh tế trang trại.
- Phạm vi không gian: luận văn nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế của các
trang trại trong phạm vi địa giới hành chính của huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc.
- Về thời gian: Phần đánh giá về kết quả phát triển kinh tế trang trại theo các
nguồn số liệu được thu thập và nghiên cứu từ năm 2010 đến năm 2013; Phần định
hướng phát triển và các giải pháp được đề ra đến năm 2020.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài nghiên cứu về kinh tế trang trại không phải là đề tài mới song việc
nghiên cứu đề tài vẫn có tác dụng trong thực tiễn bởi mô hình kinh tế trang trại hiện
nay đang đuợc coi là một trong những hướng ưu tiên hàng đầu để phát triển nông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI
1.1. Cơ sở lý luận về trang trại và kinh tế trang trại
1.1.1. Trang trại
1.1.1.1. Khái niệm về trang trại
Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp,
có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc
quyền sử dụng của chủ thể độc lập. Sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất
và các yếu tố sản xuất được tập trung tương đối lớn, với cách thức tổ chức quản lý
tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao: hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường
1.1.1.2. Phân loại trang trại
Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, loại hình trang trại đã và đang
phát triển mạnh mẽ trên thế giới, việc phân loại trang trại là rất cần thiết để trên cơ
sở đó có một quy hoạch phát triển kinh tế trang trại, từ đó có giải pháp, có những cơ
chế chính sách nhằm hỗ trợ cho từng loại hình trang trại phát triển phù hợp với đặc
trưng của từng vùng, miền và phù hợp với xu thế hội nhập chung của thế giới.
Hiện nay có rất nhiều hình thức phân loại khác nhau, chủ yếu là những hình
thức dưới đây:
a. Phân loại theo cơ cấu thu nhập
Đây là hình thức phổ biến nhất. Ở những nước có nền nông nghiệp kém phát
triển, thu nhập chủ yếu dựa vào nông nghiệp thì thu nhập từ nông nghiệp phải dưạ

Nhóm 1: chủ trang trại có sở hữu toàn bộ TLSX từ đất đai (có những nước sở
hữu ruộng đất chiếm 70-80% số chủ trang trại có nhiều đất riêng), công cụ máy móc
cho đến chuồng trại, kho bãi.
Nhóm 2: chủ trang trại chỉ sở hữu một phần TLSX, còn một phần phải đi
thuê của người khác.
Nhóm 3: Chủ trang trại hoàn toàn không có TLSX mà đi thuê toàn bộ các cơ
sở của một trang trại của nhà nước để sản xuất.
e. Phân loại theo phương thức điều hành sản xuất
Chủ trang trại và gia đình ở ngay trong trang trại và trực tiếp điều hành cũng
như trực tiếp lao động sản xuất. Đây là loại hình trang trại phổ biến nhất ở các nước
Châu Á và phần lớn chủ trang trại đều là nông dân.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 7
Chủ trang trại và gia đình không ở trong trang trại mà ở trong một địa điểm
khác (thành phố, thị trấn, khu đô thị ) nhưng vẫn trực tiếp quản lý, điều hành trang
trại. Loại hình trang trại này có chiều hướng phát triển ở một số nước có nền công
nghiệp phát triển.
Chủ trang trại sống ở thành phố, thị trấn, khu đô thị thuê người khác trực
tiếp quản lý điều hành trang trại ở nông thôn.
Chủ trang trại ủy thác cho người nông dân hoặc bạn bè quản lý điều hành
sản xuất từng công việc hay toàn bộ công việc trong từng vụ hay nhiều năm liên tục
(Trần Đức.1995).
1.1.2. Kinh tế trang trại
1.1.2.1. Khái niệm kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp,
nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu
quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng,

1.1.2.2. Tiêu chí nhận diện trang trại, kinh tế trang trại
Để xác định một đơn vị sản xuất kinh doanh cơ sở trong nông nghiệp có phải
là trang trại hay không, phải có tiêu chí để nhận dạng trang trại có căn cứ khoa học.
Tiêu chí nhận dạng trang trại phải hàm chứa được đặc trưng cơ bản của trang trại,
nhằm đảm bảo tính chính xác của việc nhận dạng trang trại, nó gồm 2 mặt định tính
và định lượng
Về mặt định tính, hàm chứa đối tượng để xác định là kinh tế trang trại và
đặc trưng của kinh tế trang trại.
Về mặt định lượng, bao gồm những chỉ tiêu về lượng của các đặc trưng đó.
Để thống nhất tiêu chí nhận biết trang trại, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Tổng cục
Thống kê đã ra Thông tư liên tịch Số: 69/2000/TTLT-BNN-TCTK ngày 23/6/2000
hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại. Năm 2003, Bộ nông nghiệp và
PTNT ban hành Thông tư số 74/2003/TT-BNN ngày 4/7/2003 bổ sung mục III của
Thông tư liên tịch 69/2000/TTLT-BNN-TCTK và văn bản hướng dẫn số 261/VC-
HTX ngày 27/6/2004 của Cục Hợp tác xã và PTNT.
Vì tình hình kinh tế xã hội phát triển, đến nay những tiêu chí trên không còn
phù hợp với thực tiễn nữa cho nên việc quy định tiêu chí mới đã được sửa đổi tại
Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT Quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng
nhận kinh tế trang trại để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 9
nước. Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản
đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau:
1. Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt:
a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:
- 3.1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long;
- 2.1 ha đối với các tỉnh còn lại.

phân công lao động xã hội trong điều kiện nước ta chuyển từ sản xuất tự cấp tự túc
sang sản xuất hàng hoá. Sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại có vai trò cực
kỳ to lớn được biểu hiện :
- Về kinh tế:
Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất lấy việc khai thác tiềm năng và
lợi thế so sánh phục vụ nhu cầu xã hội làm phương thức sản xuất chủ yếu. Vì vậy nó
cho phép huy động khai thác, đất đai sức lao động và nguồn lực khác một cách đầy
đủ, hợp lý và có hiệu quả. Nhờ vậy nó góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển
kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung.
Kinh tế trang trại với kết quả và hiệu quả sản xuất cao, góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, phát triển các loại cây trồng vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc
phục dần tình trạng manh mún tạo vùng chuyên môn hoá cao, đẩy nhanh nông
nghiệp sang sản xuất hàng hoá. Qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trang trại
tạo ra nhiều nông sản, nhất là các nông sản làm nguyên liệu cho công nghiệp vì vậy
trang trại góp phần thúc đẩy công nghiệp nhất là công nghiệp chế biến và dich vụ
sản xuất ở nông thôn phát triển.
- Về mặt xã hội: Phát triển kinh tế trang trại góp phần tạo thêm việc làm,
tăng thu nhập cho lao động nông thôn, làm tăng hộ giàu và giảm số hộ nghèo đói ở
nông thôn. Mặt khác, phát triển kinh tế trang trại còn góp phần thúc đẩy kết cấu hạ
tầng nông thôn, tạo tấm gương cho các hộ nông dân về cách thức tổ chức sản xuất
kinh doanh tiên tiến và có hiệu quả.
- Về mặt môi trường: Phát triển kinh tế trang trại nhìn chung có tác động tích
cực đến bảo vệ môi trường sinh thái. Do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì mục đích
thiết thực lâu dài, các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm bảo
vệ môi trường. Thực hiện phát triển kinh tế trang trại nước ta đã đem lại nhiều kết
quả về kinh tế xã hội và môi trường nhưng phải phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh
tế từng vùng và từng địa phương, nhất là những vùng địa phương có điều kiện đất
đai và điều kiện sản xuất hàng hoá .
b. Xu hướng phát triển


phát triển đàn lợn, đàn trâu bò lên hàng trăm, hàng ngàn con bằng lao động thủ
công, cơ sở vật chất kỹ thuật thấp kém.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 12
Muốn thực hiện công nghiệp hoá, thâm canh hoá, các trang trại phải tiến
hành đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất, tăng cường
áp dụng khoa học và công nghệ sinh học. Khi thực hiện những nội dung trên các
trang trại phải dựa vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của mình lựa chọn quy mô,
hình thức trình độ và bước đi thích hợp mới có hiệu quả cao, không thể khép kín
trong trang trại mà phải gắn với cả vùng theo quy hoạch thống nhất.
* Hợp tác và cạnh tranh.
Các trang trại trong sản xuất hàng hoá phải hợp tác và liên kết với với nhau
và với nhiều đơn vị, tổ chức kinh tế khác. Trước tiên là trong nội bộ trang trại có sự
hợp tác và phân công lao động để thực hiện các quá trình sản xuất dưới sự điều
hành của chủ trang trại. Ngoài phạm vi trang trại, chủ trang trại phải hợp tác với các
tổ chức cung ứng vật tư, với các tổ chức tín dụng ngân hàng, với các tổ chức thuỷ
nông, với các tổ chức bảo vệ thực vật, với các tổ chức tiêu thụ nông sản phẩm. Mặt
khác có những trường hợp bản thân từng trang trại không thể tự làm được, do thiếu
vốn, thiếu máy móc thiết bị, thiếu trình độ mà phải liên kết với các tổ chức khác
như làm cho hệ thống kênh mương, đường xã giao thông, chế biến nông sản. Các
trang trại có thể hợp tác với các hợp tác xã (HTX), nông lâm trường, các cơ sở công
nghiệp, thương mại, dịch vụ ngân hàng, tín dụng, vật tư, thậm chí với nước ngoài
thông qua xuất nhập khẩu trực tiếp.
Đi đôi với việc hợp tác, trang trại cần phải có cạnh tranh giữa các trang trại,
giữa các trang trại với với các tổ chức và thành phần kinh tế khác để có thể tiêu thụ
sản phẩm làm ra, nhằm tích luỹ, tái sản xuất mở rộng. Muốn vậy phải nâng cao khả
năng cạnh tranh trên thị trường bằng cách không ngừng nâng cao chất lượng sản

nước ta đều được hình thành từ những văn bản chính sách và chịu sự điều chỉnh của
các văn bản pháp luật, trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế các trang trại
được hình thành bởi hệ thống chính sách trong đó chính sách giao đất giao rừng
được coi là chính sách mở đầu và Nghị quyết 03/2000 CP được coi là chính sách
khuyến khích kinh tế trang trại phát triển.
Không chỉ có vai trò tạo những điều kiện cho sự ra đời của trang trại, Nhà
nước thông qua việc xây dựng và ban hành khung pháp lý để, một mặt tạo lập môi
trường kinh doanh thuận lợi cho kinh tế trang trại; mặt khác giúp đỡ, hỗ trợ về vật
chất để tăng cường năng lực của các trang trại. Bằng cách đó, hệ thống cơ chế chính
sách được hình thành bởi các yếu tố cấu thành như hệ thống luật, các chính sách, bộ
máy tổ chức quản lý và cơ chế vận hành.
1.1.3.2. Nhân tố khoa học - công nghệ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 14
Khoa học và công nghệ tác động tổng hợp đến tất cả các ngành, các lĩnh vực,
tạo ra sự chuyển biến về chất trong hoạt động của các ngành và lĩnh vực, trong đó
có trang trại.
Đối với trang trại, khoa học và công nghệ tạo các điều kiện để các hộ nông
dân sản nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, phá vỡ tính khép kín của việc sản
xuất tự cấp tự túc chuyển sang sản xuất hàng hoá. Không chỉ dừng tại đó trong quá
trình phát triển nông nghiệp, khi điều kiện đất đai để phát triển kinh tế trang trại đã
đến giới hạn, khoa học và công nghệ sẽ giúp cho các trang trại đi vào phát triển theo
chiều sâu. Nhờ đó, các trang trại trong điều kiện mới tiếp tục được hình thành từ
việc chia các trang trại quy mô đất đai lớn để đi vào khai thác theo chiều sâu. Khoa
học và công nghệ tiếp tục tác động đến quá trình hoạt động kinh doanh của trang
trại giúp cho trang trại khai thác tiềm năng, lợi thế, nâng cao năng suất lao động…
Cũng nhờ nó, trang trại có thể trụ vững trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên,

Đô thị hóa nông thôn là xu hướng bền vững có tính quy luật, là quá trình
phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho nông thôn (cách sống, hình
thức nhà cửa, phong cách sinh hoạt…). Thực chất đó là tăng trưởng đô thị theo xu
hướng bền vững.
* Tác động của công nghiệp hoá và đô thị hoá đến trang trại
Đối với trang trại: công nghiệp hoá và đô thị hoá có tác động khá mạnh mẽ
đến sự hình thành và phát triển của nó.
Công nghiệp hoá, trước hết là công nghiệp hoá nông nghiệp: là quá trình
trang bị các cơ sở vật chất cho nông nghiệp trong đó có trang trại. Nhờ đó các trang
trại được hình thành, được phát triển từ chiều rộng đến chiều sâu. Thông qua công
nghiệp hoá, các cơ sở hạ tầng nói chung, trong nội bộ các trang trại nói riêng được
xây dựng; cơ sở vật chất kỹ thuật của trang trại được tăng cường. Đó là cơ sở rất
quan trọng để trang trại có điều kiện khai thác các tiềm năng và lợi thế, nâng cao
sức cạnh tranh.
Công nghiệp hoá, với tư cách là sự phát triển của công nghiệp chế biến, thị
trường của nông nghiệp nói chung, các trang trại nói riêng đã được giải quyết khá
vững chắc. Trong nghiên cứu về các điều kiện hình thành và phát triển của trang
trại, các nhà nghiên cứu đã xem sự phát triển của công nghiệp chế biến như là điều
kiện hình thành và phát triển của kinh tế trang trại. Công nghiệp chế biến với tư
cách là thị trường tiêu thụ của trang trại còn chi phối mạnh đến hoạt động kinh
doanh của trang trại. Thực tế chỉ ra rằng, ở những vùng có sự phát triển của công
nghiệp chế biến của các cây công nghiệp như: chè, cà phê, cao su, bông, dâu tằm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 16
Phương hướng kinh doanh của các trang trại có điều kiện vững chắc theo hướng
chuyên môn hoá kết hợp với việc phát triển tổng hợp các ngành.
Ngoài ra, công nghiệp hoá, đô thị hoá mở rộng, những dân cư phi nông

17
điển hình tuyệt đối không thể xoá bỏ, nó làm phức tạp quá trình sử dụng yếu tố
nguồn nhân lực trong nông nghiệp. Là thứ lao động tất yếu, xu hướng có tính quy
luật là không ngừng thu hẹp về số lượng và được chuyển một bộ phận sang các
ngành khác, trước hết là công nghiệp với những lao động trẻ, khoẻ có trình độ văn
hoá và kỹ thuật. Vì thế số lao động ở lại trong khu vực nông nghiệp thường là
những người có độ tuổi trung bình cao và tỷ lệ này có xu hướng tăng lên.
- Tác động của nguồn nhân lực đến trang trại: Nguồn nhân lực là yếu tố cấu
thành các trang trại, vì vậy nguồn nhân lực có sự tác động như là yếu tố nội sinh của
các trang trại. Trang trại chỉ có thể được hình thành khi có chủ trang trại là những
người có trình độ quản lý kinh tế của kinh tế thị trường, có trình độ khoa học kỹ
thuật, hiểu biết các quy luật sinh học, có kinh nghiệm kinh doanh nông nghiệp. Đặc
biệt, chủ trang trại phải là người nhạy bén, cần cù, có ý chí và có tham vọng làm
giàu từ nông nghiệp. Các nhà khoa học cũng coi những yêu cầu trên của chủ trang
trại như là điều kiện hình thành và phát triển của kinh tế trang trại. Bên cạnh chủ
trang trại còn có những người giúp việc trong quản lý, trong các vấn đề kỹ thuật…
Ngoài ra, đội ngũ những người lao động trực tiếp cũng cần phải có trình độ kỹ
thuật. Bởi vì, sản phẩm của các trang trại là sản phẩm hàng hoá cung cấp cho thị
trường. Các sản phẩm đó phải đáp ứng nhu cầu về số lượng, chất lượng và giá cả.
Muốn đáp ứng yêu cầu đó, trang trại phải nhạy bén nắm bắt nhu cầu thị trường, lựa
chọn sản phẩm trang trại có lợi thế và tổ chức kinh doanh với giá thành hạ. Tất cả
những vấn đề đó, cần phải có đội ngũ quản lý có trình độ và nhạy bén, những người
lao động có tay nghề cao.
1.1.3.5. Nhân tố hội nhập kinh tế
Hội nhập kinh tế đang là cơ hội và cũng là thách thức của ngành nông nghiệp
nước ta trong đó có kinh tế trang trại.
- Những cơ hội của hội nhập
+ Tự do hoá thương mại quốc tế đem lại cơ hội về mở rộng thị trường cho
nông sản hàng hoá, phù hợp chiến lược phát triển nông nghiệp của nước tra hướng
mạnh xuất khẩu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status