Đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thép Việt Nam - Pdf 29

1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TNHH Trách nhiệm hữu hạn

TSCĐ Tài sản cố định

TSLĐ Tài sản lưu động

HTK Hàng tồn kho

SXKD Sản xuất kinh doanh

KD Kinh doanh

DNNN Doanh nghiệp nhà nước

VSA Hiệp Hội Thép Việt Nam

FDI Vốn đầu tư trực tiếp nứơc ngòai

VLXD Vật liệu xây dựng

Vốn CSH Vốn chủ sở hữu

DNN&V Doanh nghiệp nhỏ và vừa

CP Cổ phần

WTO Tổ chức Thương Mại Th


Hình 2.2 Xu hướng đầu tư ngành của các tập đòan kinh tế

Bảng 2.3 Công suấ
t đăng ký của các dự án thép lớn tại Việt Nam

Hình 3.1 Biến thiên hàm WACC khi chỉ có D

Bảng 3.1 Xử lý hàng tồn kho quá hạn

3
LỜI MỞ ĐẦU


4
¾ Công ty TNHH Bluescope Building Việt Nam đại diện cho các doanh nghiệp sản
xuất khung nhà thép tiền chế.
Qua phân tích các chỉ tiêu của các doanh nghiệp đầu ngành chỉ ra thực trạng chung về
năng lực cạnh tranh cho ngành thép Việt Nam, đặc biệt là quy mô và cấu trúc vốn hạn
chế để từ đó đưa ra đề xuất tái cấu trúc tài chính cho các doanh nghiệp ngành thép Việt
Nam.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài: trong luận văn này tác giả đã sử dụng ph
ương pháp
luận duy vật biện chứng, phương pháp quan sát, mô tả, phương pháp phân tích và tổng
hợp.
4. Các đóng góp mới của luận văn:
Luận văn trình bày và phân tích có hệ thống thực trạng năng lực tài chính các doanh
nghiệp ngành thép Việt Nam, dựa trên cơ sở các nghiên cứu hàn lâm và các chỉ tiêu đánh
giá áp dụng trong thực tiễn. Từ đó đưa ra các giải pháp tái cấu trúc tài chính nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.
5. Kết cấu của luận văn:
Luận văn ngòai phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, nội
dung đuợc chia thành 3 chương như sau:
• Chương 1: Tổng luận về năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh và tái cấu trúc.
• Chương 2: Đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thép Việt Nam.
• Chương 3: Tái cấu trúc ngành thép – giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh.
Mặc dù tác giả đã rất nỗ l
ực và cố gắng, đã tu chỉnh nhiều lần nhưng đề tài này chắc
chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của Thầy
Cô và các bạn để đề tài được hòan chỉnh hơn.
Tác giả trân trọng biết ơn!
LÊ THỊ SONG HƯƠNG


nguồn vốn lớn, chi phí sử dụng vốn thấp mà còn bao gồm cả việc sử dụng một cách có
hiệu quả các nguồn vốn ấy. Để làm được điều đó doanh nghiệp phải xây dựng đượ
c
chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh đúng đắn, hiệu quả, vững chắc, lâu dài, ổn
định, đáp ứng được mục tiêu cuối cùng là nâng cao giá trị doanh nghiệp.
Như vậy, năng lực tài chính của doanh nghiệp bao gồm khả năng mở rộng nguồn
vốn chủ sở hữu, huy động vốn kinh doanh, tăng khả năng sinh lời, khả năng phòng ngừa

6
và chống đỡ rủi ro, khả năng quản lý tài chính… Năng lực tài chính của doanh nghiệp có
vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tổ chức họat động sản xuất kinh doanh. Các
nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm đến tình hình và kết quả họat động tài chính nhằm
có giải pháp họach định và quản lý kinh doanh có hiệu quả. Ngân hàng xem xét đến khả
năng thu nhập bằng tiền và khả năng trả nợ lâu dài. Các nhà cung cấp nguyên nhiên liệu
và các yếu tố đầ
u vào quan tâm đến khả năng thanh khỏan của doanh nghiệp. Còn các
nhà đầu tư thì đặc biệt quan tâm đến khả năng sinh lời của công ty để có thể trả cổ tức
cho cổ đông, nâng cao thị giá cổ phiếu và tránh được những rủi ro dẫn đến phá sản.
1.1.2 Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
1.1.2.1 Khái niệm cạnh tranh: Theo quan điểm của giới nghiên cứu chính trị, cạnh tranh
là một hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp, có nhiều cách tiếp cận khác nhau,
chính vì vậy, tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh. Trong đó một khái
niệm khá phổ biến là cạnh tranh có thể hiểu như một quan hệ kinh tế mà ở đó các
chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp bao gồm cả nghệ thuật lẫn thủ
đoạn để đạt mục tiêu kinh tế
của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường,
giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất, với
mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi ích của chủ thể.
1.1.2.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh: năng lực cạnh tranh có thể được định nghĩa như
là khả năng của một công ty tồn tại trong kinh doanh và đạt

lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong mối quan
hệ với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm năng trên cùnh một thị trường mục
tiêu.
1.1.3 Mối liên hệ giữa năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào mức độ đánh giá và tín
nhiệm của các nhà đầu tư
, các đối tác kinh doanh trên thị trường. Người ta sử dụng hai
nguồn thông tin, dữ liệu sau đây để đánh giá:
- Các dữ liệu định lượng: là những quan sát được đo lường bằng số. Ví dụ những
chỉ tiêu về vốn CSH, vốn đi vay, chi phí, lợi nhuận trước và sau thuế, cổ tức…
- Các dữ liệu định tính: là những quan sát không đo lường được bằng số. Trong tập
dữ liệu, thông tin định tính, mỗi quan sát sẽ và chỉ thuộc về một kiểu lọai nào đó.
Ví dụ như tình hình kinh doanh, xu thế thị trường, vị thế kinh doanh của doanh
nghiệp, sự đa dạng hóa họat động và các luật lệ, quy định.
Trên cơ sở hai nguồn thông tin dữ liệu trên, người ta tiến hành phân tích đánh giá uy tín
và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vào 4 lĩnh vực chính là: đánh giá môi trường
ngành, đánh giá tình hình tài chính, đánh giá hoạ
t động kinh doanh và đánh giá khả năng
quản l ý của doanh nghiệp.

8
Như vậy, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp do sức mạnh tài chính, công nghệ, nhân
lực và khả năng quyết sách đúng, linh họat của doanh nghiệp quy định trong đó sức
mạnh về tài chính là yếu tố quan trọng nhất. Và như vậy, giữa gia tăng năng lực tài chính
và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có mối quan hệ vô cùng chặt chẽ.
Mục tiêu quan trọng nhất để thành công trong việc cạnh tranh c
ủa doanh nghiệp là phải
gia tăng được giá trị doanh nghiệp trên thị trường, để đạt được điều đó vấn đề quan trọng
là doanh nghiệp phải đạt năng lực tài chính mạnh, quy mô vốn lớn đáp ứng nhu cầu cho
đầu tư và phát triển. Ngựợc lại doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh tốt sẽ chiếm lĩnh

phận chủ yếu: Vốn góp ban đầu, lợi nhuận giữ lại, và tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu
mới:
• Vố
n góp ban đầu: Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi được thành lập đều phải có
một số vốn ban đầu nhất định do các chủ sở hữu góp. Khi nói đến nguồn vốn chủ sở
hữu của doanh nghiệp thì phải xem xét đến hình thức sở hữu của doanh nghiệp đó, vì
hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của bản thân doanh
nghiệp.

Nguồn vốn từ lợi nhuận giữ lại: Quy mô số vốn ban đầu của chủ doanh nghiệp là
một yếu tố quan trọng, tuy nhiên, thông thường, số vốn này cần được tăng theo quy
mô phát triển của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động, nếu doanh nghiệp hoạt
động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng nguồn
vốn. Nguồn vốn tích lũ
y từ lợi nhuận giữ lại là bộ phận lợi nhuận được sử dụng để tái
đầu tư, mở rộng SXKD của doanh nghiệp.
• Phát hành cổ phiếu: Cổ phiếu là chứng từ xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp
pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của công ty cổ phần.

Phát
hành cổ phiếu được gọi là hoạt động tài trợ dài hạn của doanh nghiệp. Để huy động
vốn, công ty sẽ bán cổ phiếu cho cổ đông tùy theo số tiền cần có. Nếu định bán rộng
rãi ra cho dân chúng, thì công ty cần phải đăng ký cổ phiếu với Sở giao dịch chứng
khoán, được gọi là niêm yết chứng khoán trên thị trường chứng khoán. Lúc đó, cổ

10
phiếu có thêm một tên mới là chứng khoán. Nếu chỉ bán cho vài người thì không phải
đăng ký cổ phiếu. Tùy theo tình hình tài chính của công ty, nếu làm ăn khấm khá,
công ty sẽ mua lại số cổ phiếu đó để cất giữ.
b. Các khỏan nợ phải trả:

11
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có nhiều ưu điểm nhưng cũng có một số hạn chế
nhất định. Đó là những hạn chế về điều kiện tín dụng, kiểm soát của ngân hàng và chi
phí sử dụng vốn (lãi suất).
* Điều kiện tín dụng: Các doanh nghiệp muốn vay tại các ngân hàng cần đáp ứng
được những yêu cầu bảo đảm an toàn tín dụng của ngân hàng. Doanh nghiệ
p phải xuất
trình hồ sơ vay vốn và những thông tin mà ngân hàng yêu cầu. Trước tiên, ngân hàng
phải phân tích hồ sơ xin vay vốn, đánh giá các thông tin liên quan đến dự án đầu tư hoặc
kế hoạch SXKD của doanh nghiệp vay vốn.
* Các điều kiện bảo đảm tiền vay: Khi doanh nghiệp xin vay vốn, các ngân hàng
thường yêu cầu doanh nghiệp đi vay phải có các bảo đảm tiền vay, phổ biến nhất là tài
sản thế chấp. Việc yêu c
ầu người vay có tài sản thế chấp trong nhiều trường hợp làm cho
bên đi vay không thể đáp ứng được những điều kiện vay, kể cả những thủ tục pháp lý về
giấy tờ…, do đó, doanh nghiệp cần tính đến yếu tố này khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng
ngân hàng.
* Sự kiểm soát của ngân hàng: Một khi doanh nghiệp vay vốn ngân hàng thì doanh
nghiệp cũng phải chịu sự ki
ểm soát của ngân hàng về mục đích và tình hình sử dụng vốn
vay. Nhìn chung, sự kiểm soát này không gây khó khăn cho doanh nghiệp, tuy nhiên,
trong một số trường hợp, điều đó cũng làm cho doanh nghiệp có cảm giác bị kiểm soát.
* Lãi suất vay vốn: Lãi suất vay vốn phản ánh chi phí sử dụng vốn. Lãi suất vay
vốn ngân hàng phụ thuộc vào tình hình tín dụng trên thị trường trong từng thời kỳ. Nếu
lãi suất vay vốn quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chị
u chi phí sử dụng vốn lớn và làm
giảm thu nhập của doanh nghiệp.
• Nguồn vốn tín dụng thương mại:
Vốn chiếm dụng của nhà cung cấp còn gọi là tín dụng thương mại, đây cũng là
nguồn vốn tương đối quan trọng trong doanh nghiệp. Nguồn vốn này xuất phát từ việc

9 Trái phiếu có lãi suất cố định
Trái phiếu có lãi suất cố định là loại trái phiếu phổ biến nhất trong các loại trái
phiếu doanh nghiệp.
Để huy động vốn trên thị tr
ường bằng trái phiếu, cần phải tính đến mức độ hấp dẫn
của trái phiếu. Tính hấp dẫn của trái phiếu phụ thuộc vào một số yếu tố như:
- Lãi suất của trái phiếu: Lãi suất của trái phiếu phải được đặt trong tương quan so
sánh với thị trường lãi suất trên thị trường vốn, đặc biệt là sự cạnh tranh của các công ty
khác và trái phiếu Chính phủ. Một ràng bu
ộc khác là chi phí lãi vay mà công ty phải trả
cho các trái chủ. Nếu đưa thêm các yếu tố khuyến khích vào trái phiếu thì có thể không
cần nâng cao mức lãi suất.

13
- Kỳ hạn của trái phiếu: Đây là yếu tố rất quan trọng không những đối với công ty
phát hành mà đối với cả nhà đầu tư. Khi phát hành, doanh nghiệp phải căn cứ vào tình
hình thị trường vốn và tâm lý dân cư mới có thể xác định kỳ hạn hợp lý.
- Uy tín doanh nghiệp: Không phải doanh nghiệp nào cũng có thể thu hút được
công chúng mua trái phiếu vì nhà đầu tư phải đánh giá uy tín của doanh nghiệp thì mới
quyết
định mua hay không mua. Các doanh nghiệp có uy tín và vững mạnh thì dễ dàng
hơn trong việc phát hành trái phiếu ra công chúng để huy động vốn.
9 Trái phiếu có lãi suất thay đổi
Tuy gọi là lãi suất thay đổi nhưng thực chất loại lãi suất này phụ thuộc vào một số
nguồn lãi suất quan trọng khác. Chẳng hạn, lãi suất LIBOR (London Interbank Offered
Rate) hoặc lãi suất cơ bản (Prime Rate).
Trong điều kiện có mức lạm phát khá cao và lãi suất thị trường không ổn định,
doanh nghi
ệp có thể khai thác tính ưu việt của loại trái phiếu này. Do các biến động của
lạm phát kéo theo sự dao động của lãi suất thực, các nhà đầu tư mong muốn được hưởng

Một số hình thức chuyển đổi:
- Giấy bảo đảm: Người sở hữu giấy bảo đảm có thể mua một số lượng cổ phiếu
thường, được quy định trước với giá cả và thời gian xác định.
- Trái phiếu chuyển đổi: Là loại trái phiếu cho phép có thể chuyển đổi thành một số
lượng nhất định các cổ phiếu thường. Nếu thị giá của cổ phiếu tăng lên thì người giữ trái
phiếu có cơ may nhận được lợi nhuận cao.
1.1.4.2. Mức độ tiếp cận thị trường tài chính:
a. Tiếp cận nguồn vốn từ nội tại doanh nghiệp-huy động nguồn vốn chủ sở hữu:
• Tăng vốn góp:
Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà có những hình thức khai thác làm tăng
nguồn vốn góp ban đầu. Ví dụ như DNNN thì do chủ sở hữu là Nhà nước nên việc tăng
vốn góp ban đầu s
ẽ phụ thuộc vào cơ chế đầu tư của Nhà nước. Một trong những hình
thức huy động nguồn vốn góp ban đầu trong các DNNN là thay đổi hình thức sở hữu của
doanh nghiệp (cổ phần hóa, giao bán khoán kinh doanh, sáp nhập, hợp nhất, giải thể
hoặc phá sản doanh nghiệp).
• Tăng nguồn vốn từ lợi nhuận giữ lại:
Tự tài trợ bằng lợi nhuận giữ lại – ngu
ồn vốn nội bộ là một phương thức tạo nguồn
tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp, vì doanh nghiệp giảm được
chi phí, giảm được sự phụ thuộc bên ngoài.
Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận giữ lại có thể thực hiện được nếu như doanh
nghiệp đã, đang hoạt động và có lợi nhuận, được phép tiếp tục đầu tư
. Việc sử dụng
nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại cũng khác nhau ở từng loại hình doanh nghiệp.
Đối với các DNNN thì việc tái đầu tư phụ thuộc không chỉ vào khả năng sinh lời của bản

15
thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào chính sách khuyến khích tái đầu tư của Nhà
nước. Đối với các công ty cổ phần thì việc để lại lợi nhuận liên quan đến một số yếu tố

hiện ở vũ khí, quân đội đông đảo và được huấn luyện tốt…đã
phát huy tác dụng trong suốt nhiều thế kỷ lịch sử của nhân lọai, nhưng ngày nay nó đã
hết tác dụng, bởi bạo lực sẽ được đáp lại bằng bạo lực và ngày nay con người đã có trong

16
tay những sức mạnh đủ để ngăn chặn bạo lực phát triển. Sức mạnh thứ hai thể hiện ở
những khối tiền của to lớn có thể mua được tất cả những công ty đồ sộ, hay những hầm
mỏ hoặc nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm, nhưng sự mua bán này chỉ có ý nghĩa
khi nó được sử dụng có hiệu quả cao, mà muốn thực hiện điều này thì phải cần đến tri
thức khoa học kỹ thuật. Từ đó Ông kết luận: “Lâu đài và máy móc của công ty không
còn là quan trọng, cái quan trọng thực sự là năng lực nghiệp vụ, năng lực tổ chức các cấp
nghiệp vụ và những sáng kiến ẩn dấu trong vỏ não của nhân viên công ty…”
Theo dự báo của Giáo sư Tiến sĩ Robert Reich đã dự báo trong tương lai rất gần các
công ty sẽ không còn quốc tịch mà chỉ còn tên riêng củ
a công ty bởi các công ty sẽ trở
thành những mạng nhện ( mạng lưới” bao phủ tòan cầu, và ông cho rằng: “Tài nguyên
duy nhất thật sự còn có tính cách quốc gia là nhân công, năng lực trí tuệ và óc sáng tạo
của họ, đó là những gì quyết định sự thịnh vượng trong tương lai”.

Hình 1.2: Phương pháp tiếp cận các hệ thống trong quản trị nguồn nhân sự
Nguồn: Harold Koontz. Cyril O’donnell, Heinz Weihrich “những vấn đề cốt yếu của quản lý”(11)
Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay, các doanh nghiệp đang rất quan tâm đến yếu tố con
người mà thông qua hệ thống quản trị tốt sẽ phát huy hết tài năng để đóng góp thật nhiều
cho sự tồn tại, phát triển lâu dài và ổn định của doanh nghiệp. Đó phải là những con
người có học vấn cao, được đào tạo tốt, có văn hóa và biết cách làm việc có hiệu quả.

17
1.1.4.4 Cơ chế quản trị tài chính trong doanh nghiệp ngành thép Việt Nam:
A. Vai trò của nhà quản trị tài chính:
Các quyết định tài chính là rất quan trọng đối với sự phát triển và thành công của doanh

¾ Quản trị dòng tiền
¾ Quản trị hệ thống tài chính (đảm bảo tiền luôn được sử dụng hiệu quả, bảo đảm
tuân thủ các quy định pháp luật về các giao dịch liên quan đến huy động vốn và
đầu tư, thiết lập và cung cấp các báo tài chính hàng năm, so sánh với vốn ngân
sách, theo dõi các khỏan thuế phải nộp, quản trị chi phí, quản lý và sử d
ụng vốn
tài sản cố định, quản lý và sử dụng vốn tài sản lưu động, quản trị phân phối lợi
nhuận trong doanh nghiệp).
1.2 Các chỉ tiêu đo lường và đánh giá năng lực tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Ngân hàng đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp:
Khi tiến hành xem xét cho doanh nghiệp vay vốn để mở rộng và phát triển kinh
doanh, bên cạnh việc thẩm định hiệu quả dự án vay vốn, các ngân hàng thương mại
thường xem xét rất kỹ về năng lực tài chính của khách hàng thông qua việc phân loại
khách hàng. Từ đó các ngân hàng sẽ áp dụng các biện pháp cho vay với các điều kiện ưu
đãi về lãi súât, điều kịên vay vốn (tín ch
ấp) hoặc hạn chế tín dụng và thu hồi nợ. Căn cứ
tình hình tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh để tính tóan và xếp lọai năm chỉ tiêu
dưới đây:
Chỉ tiêu 1: Lợi nhuận
Chí tiêu 2: tỷ suất tài trợ
Chỉ tiêu 3: khả năng thanh tóan nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu 4: tỷ lệ nợ xấu
Chỉ tiêu 5: Tình hình chấp hành các quy định pháp luật hiện hành
1.2.2 Các bên thứ ba đánh giá năng l
ực tài chính của doanh nghiệp:
Để đánh giá về năng lực tài chính của doanh nghiệp, người ta thường sử dụng một số chỉ
tiêu phân tích tài chính sau đây để so sánh với các năm trứớc và so sánh với chỉ tiêu bình
quân ngành liên quan tới doanh nghiệp đó. Các chỉ tiêu đựơc phân ra làm 4 nhóm như
sau:
- Nhóm các chỉ tiêu thanh khỏan: (Liquadation Ratios):

+ Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (Return on Assets-ROA)
+ Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity-ROE)
- Nhóm các chỉ tiêu giá trị của doanh nghiệp: gồm có 2 tỷ số:
+ Tỷ số giá bán/ thu nhập của cổ phần (R
p/E
)
+ Tỷ số giá trị thị trường/ giá trị kế toán (RM/B)
1.3 Vấn đề về tái cấu trúc tài chính nhằm gia tăng năng lực cạnh tranh cho doanh
nghiệp ngành thép Việt Nam
1.3.1 Khái niệm về tái cấu trúc
Tái cấu trúc (restructuring) được hiểu là quá trình thực hiện những thay đổi căn bản
trong doanh nghiệp nhằm giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, là quá trình tổ
chức (re-organize), sắp xếp lại doanh nghiệp nhằm tạo ra “trạng thái” tốt hơn cho doanh
nghiệp để thực hiện những mục tiêu đề ra.
Mục tiêu chung của tái cấu trúc là đạt được một “thể trạng tố
t hơn” cho doanh nghiệp để
doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn dựa trên những nền tảng về sứ mệnh, tầm nhìn,
định hướng chiến lược sẵn có của doanh nghiệp. Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, tái
cấu trúc có thể chỉ nhằm mục tiêu đạt được sự “cải thiện vận hành” ở một mảng nào đó
trong tổ chức, doanh nghiệp.

20
Một chương trình tái cấu trúc toàn diện sẽ bao trùm hầu hết các lĩnh vực như cơ cấu tổ
chức, nguồn nhân lực, cơ chế quản lý, điều hành; các hoạt động và các quá trình; các
nguồn lực khác của doanh nghiệp. Tái cấu trúc cũng có thể được triển khai “cục bộ” tại
một hay nhiều mảng của doanh nghiệp (tài chính, nhân sự, bán hàng, sản xuất…) nhằm
đạt mục tiêu là nâng cao “thể trạng” củ
a bộ phận đó. Như vậy, có thể nói “tái cấu trúc” là
một phần của quá trình tái lập, chủ yếu chỉ đi vào mục tiêu “nâng cao thể trạng” của
doanh nghiệp trên nền tảng hiện có.

- Giảm chi phí và tăng hiệu suất
- Giải phóng được nguồn tài chính
- Tăng trưởng kinh doanh
 Nguyên tắc thứ hai: xúc tiến (acceleration), hay còn gọi là quy tắc 2×3x
Tăng gấp đôi số lượng ý tưởng mới và tăng gấp 3 tốc
độ đưa sản phẩm mới ra thị trường.
Mỗi dự án giờ đây đều được đánh giá từ góc độ kết quả đầu tư. Các chương trình nghiên
cứu có triển vọng hơn sẽ được đầu tư nhiều tiền hơn.
 Nguyên tắc thứ ba: Làm việc hiệu quả với các nhà cung ứng (Global Sourcing
Effectiveness)
Phát triển kỹ năng thương thuyết và tương tác với các nhà cung ứng. M
ục đích là để luôn
có sự lựa chọn giữa các nhà cung ứng khác nhau. Có thể giúp đỡ các nhà cung ứng thiết
lập công việc theo phương pháp 6 Sigma.
 Nguyên tắc thứ tư: Tăng năng suất nhờ các hệ thống điện tử (eProductivity)
Đầu tiên, 3M nhận diện vấn đề nhờ phương pháp 6 Sigma, sau đó sẽ dùng các công cụ
điện tử để tổ chức quy trình theo cung cách mới. Ngoài ra, tất các các công cụ điệ
n tử –
từ đào tạo trực tuyến đến hệ thống đặt hàng thống nhất cho toàn công ty – đều có mục
tiêu là nâng cao năng suất của công ty.
 Nguyên tắc thứ năm: Kiểm soát những chi phí gián tiếp (Indirect Costs Control)
Giảm những chi phí không liên quan trực tiếp đến sản phẩm hoặc dịch vụ.
Ứng dụng mới của phương pháp 6 Sigma

22
3M đang hứa hẹn sẽ đưa phương pháp 6 Sigma lên một tầm mới – bởi nó sẽ là công ty
đầu tiên áp dụng phương pháp này vào lĩnh vực tăng trưởng doanh nghiệp, trong đó có
khâu làm việc với khách hàng.
Mới đây, một trong những công ty con của 3M muốn tăng doanh số bán hàng trong
ngành công nghiệp năng lượng sau khi phân tích các dữ liệu đã công bố một kết quả bất

Nhờ vậy, mạng lưới siêu thị này đã tăng được gấp đôi doanh số trên mỗi mét vuông, và
3M cũng được lợi vì tăng được doanh số bán cho khách hàng này.
1.3.2.2 Mô hình tái cấu trúc căn cứ vào thực tế kinh doanh và các yế
u kém của doanh
nghiệp:
Muốn biết được doanh nghiệp đang có những vấn đề đích thực nào và đang cần gì,
không cách nào hơn là phải có một cuộc “tổng kiểm tra” toàn diện và chuyên sâu để
“định bệnh” cho doanh nghiệp, từ đó mới đưa ra những “liệu pháp điều trị” phù hợp.
Những “triệu chứng” thường gặp nhất, khiến chủ doanh nghiệp đặt vấn đề tái cấ
u trúc
hay tái lập doanh nghiệp, có thể được chia thành bốn nhóm chính:
- “Nhóm bề mặt” bao gồm những biểu hiện rất dễ thấy, như doanh số giảm, thị phần thu
hẹp, thất thoát tài sản, hoạt động trì trệ, mất lợi thế cạnh tranh, mất kiểm soát nhiều
mặt…
- “Nhóm cận mặt” bao gồm những biểu hiện liên quan trực tiếp đến kết quả kinh doanh,
như sự phối h
ợp kém giữa các bộ phận, chính sách kinh doanh không rõ ràng, chất lượng
sản phẩm không ổn định, các hoạt động tiếp thị, bán hàng kém hiệu quả; khách hàng
khiếu nại nhiều hoặc không thấy có khiếu nại gì, nhưng cứ lần lượt bỏ đi; công nợ nhiều,
tồn kho cao…
- “Nhóm lớp giữa” bao gồm những biểu hiện không liên quan trực tiếp, nhưng có ảnh
hưởng gián tiếp đến kết quả kinh doanh như
cán bộ, nhân viên (kể cả nhân viên văn
phòng) làm việc không có mục tiêu rõ ràng; cấp quản lý bị cuốn vào giải quyết sự vụ, lặt
vặt; quản lý cấp cao thụ động, nhân sự thay đổi liên tục hay “ổn định” theo kiểu chỉ toàn
người cũ; cơ chế phân quyền kém, mọi việc đều do ông chủ quyết định…
- “Nhóm lớp sâu” bao gồm những “triệu chứng” rất khó phát hiện vì chỉ nằm ở t
ầng cao,
không thấy dính dáng mấy đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng ngày. Đó là sự thiếu
vắng các cuộc họp cấp cao bàn về quản trị chiến lược; doanh nghiệp không có triết lý

gốc rễ qui trình hoạt động sản xuất KD để đạt được sự cải thiện vượ
t bậc đối với các chỉ
tiêu cốt yếu, có tính nhất thời như chi phí, chất lượng, dịch vụ và hiệu năng.

25
- Tái cấu trúc hệ thống nhân sự nhằm cắt giảm chi phí và nâng cao năng suất lao động.
Xóa bỏ hệ thống nhân sự cồng kềnh và ý thức làm việc yếu của nhân viên. Bên cạnh đó,
có biện pháp giữ người giỏi như là chính sách động viên, tăng chế độ thu nhập cho người
lao động.
- Tái cấu trúc trong ý nghĩa định hướng lại hoạt động kinh doanh, nắn dòng vốn đầu tư
của doanh nghiệp để
gia tăng hiệu quả kinh doanh.
1.3.3 Tác động của tái cấu trúc đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp
Đứng trước những thách thức mới của môi trường kinh doanh, cũng như nhu cầu phát
triển tự thân, các doanh nghiệp thép Việt Nam đang rất cần được tái cấu trúc để:

Nắm bắt và tận dụng tốt hơn những cơ hội kinh doanh, vượt qua được những
thách thức ngày càng khốc liệt, để sống còn trước những thay đổi mạnh mẽ trong
môi trường kinh doanh.

Có đủ khả năng để thực hiện những công việc kinh doanh của mình một cách hiệu
quả và bền vững, thoả mãn những lợi ích nhiều khi xung đột nhau.

1.4 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các tập đòan thép đa quốc gia
1.4.1 Thép Bluescope Steel Global
Bluescope Steel Global là tập đòan thép hàng đầu thế giới, họat động ở Úc, New
Zealand, châu Á và Mỹ. Bluescope Steel Global có văn phòng giao dịch trên khắp thế
giới. Sản phẩm của Bluescope tập trung vào ngành công nghiệp chế tạo thép tấm phục
vụ cho sản xuất, thị trường xe ô tô, thị trường xây dựng….


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status