Khả năng sử dụng thức ăn chế biến của cá leo giai đoạn hương lên giống - Pdf 29

Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 361-369 Trường Đại học Cần Thơ

361
KHẢ NĂNG SỬ DỤNG THỨC ĂN CHẾ BIẾN CỦA
CÁ LEO (Wallago attu) GIAI ĐOẠN HƯƠNG LÊN
GIỐNG
Lam Mỹ Lan và Trần Bảo Trang
1

ABSTRACT
The study on nursing Wallago attu small fingerlings - 27 days old (6,4 - 6,6
g/fish) using home-made feeds was carried out. Fish was stocked at density of
50 fish/tank. There were three treatments of feeds (I) home-made feed with
40% CP, (II) home-made feed with 50% CP and (III) trash fish. Each
treatment had three replications. Fish were fed to satiation and feeding
frequency was 4 times/day. During nursing period, fish samples were collected
biweekly for fish growth performance. The results showed that some water
parameters were in suitable ranges for fish growth. Survival rate in the control
treatment (82 ± 11,1%) was significantly higher than that in the treatment I
(p<0.05), but it was no significant difference from that in the treatment II
(p>0.05). The final mean weight and total length in the control treatment were
63.8 ± 2.3 g and 23.5 ± 0.5 cm, respectively and fish in this treatment grew
significantly better than two treatments using home made feed (P>0.05).
Keywords: Wallago attu, nursing, home-made feed, trash fish.
Title: nursing of Wallage attu using home-made feeds
TÓM TẮT
Nghiên cứu ương cá leo (Wallago attu Bloch và Schneider, 1801) bằng thức
ăn chế biến được thực hiện ở cá 27 ngày tuổi (khối lượng 6,4 - 6,6 g/con). Thí
nghiệm được bố trí trong bể composite (500 lít) ở mật độ 50 con/bể với 3
nghiệm thức thức ăn: (I) thức ăn chế biến (TĂCB) 40% đạm, (II) thức ăn chế
biến 50% đạm và (III) cá tạp. Mỗi nghiệm thức lập lại 3 lần và thí nghiệm

tươi hoặc đông lạnh (Rainboth, 1996).
Nguyễn Bạch Loan và ctv. (2006), đã nghiên cứu về đặc điểm hình thái và sinh
học sinh sản cá leo phân bố tự nhiên ở huyện Tam Nông và Hồng Ngự, tỉnh
Đồng Tháp; thành phố Long Xuyên và Châu Đốc, tỉnh An Giang. Mùa vụ sinh
sản của cá leo thường xuất hiện vào các tháng mùa mưa và tập trung nhiều nhất
vào tháng 6 – 7 và sức sinh sản dao động từ 158.560 – 170.340 trứng/kg cá cái
(Dương Nhựt Long và Nguyễn Hoàng Thanh, 2008)
Giri et al., (2002) nghiên cứu ương cá leo bằng thức ăn là phiêu sinh động vật
kết hợp với thức ăn chế biến có hàm lượng đạm là 48,7% thì cá tăng trưởng
nhanh và tỷ lệ sống cao hơn chỉ cho ăn phiêu sinh động vật. Tuy nhiên, nghiên
cứu này chỉ ương cá tới 11 ngày tuổi nên cá chưa đạt kích cỡ cá giống để thả
nuôi trong ao, bè. Hiện nay, chưa có nghiên cứu về loại thức ăn sử dụng trong
quá trình ương giống cá leo cũng như nuôi thương phẩm loài cá này. Vì thế
nghiên cứu khả năng sử dụng thức ăn chế biến ương cá leo được thực hiện
nhằm đánh giá khả năng sử dụng thức ăn chế biến của cá leo giai đoạn giống
nhỏ, nhằm góp phầ
n xây dựng qui trình kỹ thuật ương giống cá leo phục vụ
cho nhu cầu nuôi thương phẩm ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Hệ thống thí nghiệm
Hệ thống thí nghiệm gồm 9 bể composite có thể tích 500 lít/bể, được bố trí
trong Trại cá thực nghiệm, Bộ môn Kỹ thuật nuôi cá nước ngọt, Khoa Thủy
sản, Trường Đại học Cần Thơ. Bể được sục khí liên tục trong suốt thời gian
ương cá. Nguồn nước cung cấp cho hệ thống là nước máy đã được khử
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 361-369 Trường Đại học Cần Thơ

363
chlorine. Thí nghiệm được tiến hành trong hệ thống nước chảy tràn. Nước
được xử lý qua hệ thống lọc sinh học tuần hoàn tách đạm và khử trùng bằng tia
cực tím.

Chất đạm 39,36 48,92 64,63
Chất béo 5,58 3,84 6,18
Ẩm độ 54,55 62,64 79,78
Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy sản lần 4: 361-369 Trường Đại học Cần Thơ

364
2.3 Quản lý và cho ăn
Trong quá trình thí nghiệm, cá được cho ăn thỏa mãn nhu cầu và cá được cho
ăn 4 lần/ngày vào các thời lúc 8 giờ, 11 giờ, 14 giờ, và 18 giờ. Trong quá trình
ương cá, theo dõi và ghi nhận các hoạt động ăn, bơi lội, bắt mồi của cá. Phân
cá và thức ăn thừa được siphon 2 lần/ ngày vào lúc 7 giờ và 13 giờ. Thời gian
thực hiện thí nghiệm là 30 ngày.
2.4 Phương pháp thu mẫu
Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, oxy, pH được theo dõi định kỳ hàng tuần
bằng máy (YSI 556 MPS). Trong quá trình thí nghiệm thu mẫu và phân tích
hàm lượng NO
2
-
và N-NH
4
+
trong các bể thí nghiệm nhưng hàm lượng hai yếu
tố này rất thấp do nước cấp cho bể thí nghiệm đã qua bộ phận xử lý và tách
đạm.
Trước khi bố trí thí nghiệm, tiến hành cân đo mẫu cá (30 con/ bể) để xác định
khối lượng ban đầu. Trong thời gian thí nghiệm, tiến hành kiểm tra khối lượng
của cá định kì 2 tuần/ lần và khi kết thúc thí nghiệm với số mẫu cá là 30
con/bể, đồng thời cân khố
i lượng tổng của toàn bộ số cá trong bể ương và đếm
số cá còn lại trong từng bể ương để xác định tỉ lệ sống của cá thí nghiệm.

71,3 ± 2,3
ab
82,0 ± 11,1
b
Sau 15 ngày ương, tỷ lệ sống của cá ở các nghiệm thức khá cao, dao động 82 –
90% và giữa các nghiệm thức không có sự khác biệt (p>0,05) (Bảng 4). Tuy
nhiên, trong quá trình ương ở các nghiệm thức thức ăn chế biến, những ngày
đầu cá ăn rất ít do chưa quen ăn thức ăn chế biến nên xảy ra hiện tượng cá ăn
nhau rất nhiều. Tuy nhiên, do cá trong các bể có kích cỡ đồng đều nên cá
không thể nuốt được đồng loại mà chỉ cắn phần đuôi dẫn đến cá trong các bể
cho ăn thức ăn chế biến xây sát rất nhiều. Theo Phan Phương Loan (2006) thì
cá leo có miệng rất rộng, răng hàm sắc nhọn và có nhiều răng chó. Ngoài ra, tỉ
lệ chiều dài ruột so với chiều dài chuẩn của cá nhỏ hơn 1 (giá trị trung bình là
0,58) nên đây là loài cá ăn động vật. Vì thế, cá leo có hiện tượng cá ăn thịt lẫn
nhau làm cá hao hụt trong quá trình ương nuôi.
Sau 30 ngày ương tỷ lệ sống của cá giảm ở hầu hết các nghiệm thức nhưng cá
hao hụt nhiều ở các nghiệm thức cho ăn thức ăn chế biến. Tỉ lệ sống đạt cao
nhất vẫn là nghiệm thức cá tạp (82 ± 2,0%), thấp nhất là nghiệm thức TĂCB
40% đạm (64,7 ± 4,2%) và giữa 2 nghiệm thức này khác biệt có ý nghĩa
(p<0,05). Riêng ở nghiệm thức TĂCB 50% đạm tỷ lệ sống là (71,3 ± 2,3%)
khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05) so với nghiệm thức TĂCB 40% đạm và
nghiệm thức cá tạp. Theo Ngô Vương Hiếu Tính (2008) thí nghiệm ương cá
leo thì nghiệm thức cho cá ăn hoàn toàn trùn chỉ cho tỷ lệ sống cao nhất
(52,33%) sau 30 ngày ương. Qua đó cho thấy khi cho cá leo ăn thức ăn tươi
sống thì cho tỷ lệ sống cao hơn cho cá ăn thức ăn chế biến.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status