tại nạn thương tích ở trẻ em và biện pháp phòng tránh - Pdf 29

| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 11.2010, Số 16 (16) 49
Tai nạn thương tích trẻ em có thể xảy ra đối với tất cả các lứa tuổi và hiện đang là vấn đề y tế công
cộng được quan tâm. Tại các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, so với các nguyên
nhân tử vong do bệnh truyền nhiễm và không truyên nhiễm, tai nạn thương tích trẻ em đang trở thành
nguyên nhân tử vong hàng đầu đối với trẻ. Tai nạn thương tích trẻ em hoàn toàn có thể phòng tránh
được thông qua các biện pháp khác nhau, trong đó nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng chống tai nạn
thương tích và tạo dựng môi trường học tập, vui chơi an toàn là không thể thiếu. Để thực hiện các
biện pháp đó, hướng tiếp cận dựa vào nhà trường được xem là khả thi và hiệu quả.
Từ khóa: Học sinh tiểu học, tai nạn thương tích trẻ em, phòng tránh tai nạn thương tích trẻ em, phòng
tránh dựa vào nhà trường.
Child injury and school-based
prevention methods
Nguyen Thuy Quynh (*), Le Vu Anh (**), Nguyen Duc Quang (***)
Child injury, a majorly concerned public health problem, may happen to all age groups. Beside
causes of death by communicable and uncommunicable diseases, child injury has become the leading
cause of death in children in developing countries in general and in Vietnam in particular.
Child injury is preventable via various types of different intervention of which improvement of
knowledge and skills on injury prevention and creation of a safe environment for children to study
and play are essential. To achieve these interventions, school based approach is considered as
feasible and effective.
Key words:
Primary school students, child injury, child injury prevention, school- based intervention.
Tác giả:
(*): Ths. Nguyễn Thúy Quỳnh - Bộ môn Vệ sinh lao động - Bệnh nghề nghiệp - Trường Đại học Y tế công cộng -
138 Giảng Võ - Ba Đình - Hà Nội-
(**) GS.TS. Lê Vũ Anh - Trường Đại học Y tế công cộng - 138 Giảng Võ - Ba Đình - Hà Nội
(***) PGS.TS. Nguyễn Dục Quang, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, 101 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Tai nạn thương tích ở trẻ em và biện pháp
phòng chống dựa vào nhà trường
Nguyễn Thúy Quỳnh (*), Lê Vũ Anh (**), Nguyễn Dục Quang (***)

trường hợp tử vong trên toàn cầu [12]
Kết quả điều tra quốc gia về tình hình TNTT tại
Việt Nam tiến hành năm 2001 cho thấy TNTT đang
dần trở thành một trong những nguyên nhân hàng
đầu gây tử vong ở Việt Nam, đặc biệt ở lứa tuổi trẻ
em. Hàng năm, cứ 100.000 trẻ dưới 18 tuổi thì có
gần 84 trẻ bò tử vong, cao gấp hơn 5 lần so với số
tử vong do bệnh truyền nhiễm (14,9/100.000) và
gấp hơn bốn lần so với bệnh không truyền nhiễm
(19,3/100.000). Đuối nước là nguyên nhân TNTT
gây tử vong lớn nhất cho trẻ em, TNGT đứng hàng
thứ 2, thứ 3 là ngã, ngộ độc đứng ở vò trí thứ tư và
TNTT do vật sắc nhọn là nguyên nhân gây tử vong
đứng hàng thứ năm [3]. Sau gần 10 năm thực hiện
Chính sách quốc gia về phòng chống TNTT, chưa
có nghiên cứu quốc gia nào khác đánh giá thực
trạng tình hình TNTT trẻ em Việt Nam. Hiện tại hệ
thống ghi nhận thường xuyên tử vong do TNTT từ
các xã của 63 tỉnh thành trong cả nước mặc dù còn
khá nhiều hạn chế về phân loại nguyên nhân và sự
đầy đủ của số liệu, tuy nhiên cho đến nay đây vẫn
được coi là nguồn số liệu tham khảo cho những
người làm công tác phòng chống TNTT. Kết quả từ
hệ thống giám sát số liệu này cho thấy, trong giai
đoạn từ năm 2005 - 2007, số trường hợp tử vong do
TNTT ở trẻ em từ dưới 18 tuổi hàng năm có gia tăng
nhưng tỷ suất tử vong lại giảm xuống (số TV theo
các năm 2005-2006-2007 là: 6938 - 7,198 - 7894; tỷ
suất TV theo các năm trên 100 .000 trẻ là: 25,8/100
000 - 26,3/100 000 - 21,7/100. 000). Con số này

Tai nạn thương tích có thể phòng ngừa được
thông qua một số các biện pháp như pháp chế và
thực thi, sửa đổi sản phẩm, cải thiện môi trường,
khuyến khích sử dụng các thiết bò an toàn, giáo dục
kỹ năng và thay đổi hành vi và tăng cường các dòch
vụ chăm sóc chấn thương thiết yếu. Các biện pháp
này đã được chứng minh là có hiệu quả, ví dụ như
tại các quốc gia có thu nhập cao số ca ngộ độc ở trẻ
em giảm đáng kể thông qua các pháp luật đòi hỏi
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 11.2010, Số 16 (16) 51
việc đóng gói các loại chất độc phòng TNTT cho trẻ
em; ở Malaysia việc phân luồng xe máy đã làm
giảm 27% các vụ va chạm hay sử dụng mũ bảo hiểm
khi đi xe đạp làm giảm tới 63-88% nguy cơ thương
tích vùng đầu và chấn thương sọ não nghiêm trọng
trong số những người đi xe máy ở tất cả các độ tuổi
[14]. Cải thiện môi trường là một chiến lược phòng
chống TNTT được xem là có hiệu quả đối với mọi
lứa tuổi, đặc biệt phù hợp đối với trẻ em. Chiến
lược này phát huy được hiệu quả rất nhiều khi sử
dụng kết hợp với hai chiến chiến lược khác là thực
thi luật pháp và truyền thông giáo dục [7].
Tại Việt Nam, chương trình phòng chống TNTT
trẻ em của Bộ Y tế dưới sự tài trợ của UNICEF được
tiến hành ở 6 tỉnh trọng điểm đã áp dụng chiến lược
cải thiện môi trường tại các cấp độ như hộ gia đình,
cộng đồng và trường học và cũng đã thu được những
thành công đáng kể. Ví dụ như với cấp độ hộ gia
đình, lắp đặt các giá cao ngoài tầm với của trẻ để

thần, trí tuệ và xã hội sau này [8].
Giáo dục trẻ em thực hành an toàn cho trẻ
không chỉ có tác dụng giảm tỷ lệ TNTT hiện tại mà
còn có tác dụng thay đổi hành vi an toàn cho thế hệ
tương lai. Nếu trẻ em được trang bò kiến thức cơ bản
ban đầu để nhận biết những yếu tố nguy cơ gây
TNTT và kỹ năng ứng phó với các nguy cơ đó sẽ rất
có ích cho việc nâng cao kỹ năng sống cho trẻ trong
suốt cuộc đời. Quá trình giáo dục môi trường an
toàn và phòng chống TNTT cho trẻ diễn ra thường
xuyên liên tục thông qua các hoạt động vui chơi ở
trường, lớp sẽ dần tạo cho trẻ những phản xạ linh
hoạt, nhạy bén, thói quen ý thức thường trực đối với
những rủi ro, nguy hiểm gây tai nạn bất thường.
Trẻ em học cách cư xử qua cả sự chỉ dẫn và
quan sát từ cha mẹ, giáo viên, người thân, bạn bè…
và những người đóng vai trò làm hình mẫu cho cách
ứng xử của chúng và qua quan sát. Hành vi của trẻ
sẽ được củng cố và điều chỉnh bởi những hậu quả
do những hành động của chúng mang lại và sự đáp
ứng của người khác đối với hành vi của chúng. Trẻ
nhỏ học cách ứng xử qua quan sát và tương tác với
xã hội hơn là chỉ từ những lời chỉ dẫn. Tương tự như
vậy, trẻ nhỏ cần được dạy dỗ các kỹ năng thông qua
quá trình hướng dẫn, tập luyện (lặp lại nhiều lần)
và phản hồi hơn là chỉ nói lý thuyết [6]. Sự tự tin
về khả năng thể hiện những hành vi phù hợp, là rất
quan trọng đối với việc duy trì và học tập cách cư
xử, đặc biệt trước những áp lực của xã hội bắt phải
cư xử theo cách khác.

cho cuộc sống sau này của trẻ.
4. Tiếp cận phòng chống tai nạn thương tích
cho học sinh tiểu học dựa vào nhà trường
Mô hình và nội dung can thiệp phòng chống tai
nạn thương tích cho học sinh tiểu học dựa trên các
nguyên tắc chia sẻ về trách nhiệm trong các vấn đề
về chấn thương và các giải pháp phòng chống của
các chuyên gia và các thành viên của cộng đồng, và
là sự tham gia chòu trách nhiệm xác đònh những ưu
tiên và những can thiệp phù hợp. Việc thực hiện sẽ
được dựa trên một mạng lưới tổ chức và xã hội và
nhấn mạnh về tầm quan trọng của sự tham gia của
cộng đồng. Mô hình can thiệp này được xây dựng
dựa trên các nguyên lý được đề cập ở trên với một
mối liên kết giữa các cá nhân, tổ chức trong xã hội
và gắn kết chặt chẽ với cộng đồng để cùng nhau giải
quyết một vấn đề sức khỏe đó là phòng chống tai nạn
thương tích cho học sinh tiểu học. Điều này được thể
hiện cụ thể qua việc tham gia của lãnh đạo, giáo
viên trong ngành giáo dục, cán bộ y tế, cán bộ đoàn
đội, các chuyên gia phòng chống TNTT và chuyên
gia giáo dục trung ương, đòa phương và các chuyên
gia quốc tế sẽ cùng nhau hoạt động để đạt được mục
đích chung này. Chương trình can thiệp sẽ được xây
dựng với 2 cấu phần cơ bản: nâng cao kiến thức, kỹ
năng về phòng chống TNTT cho học sinh và tạo
dựng môi trường học tập an toàn cho trẻ.
Sau khi mô hình can thiệp được thống nhất,
chương trình can thiệp cụ thể sẽ được xây dựng với
sự tham gia của các chuyên gia có kiến thức, kinh

- Lựa chọn nội dung phòng chống TNTT để lồng
ghép: các loại TNTT thường gặp ở trẻ em trong độ
tuổi học sinh tiểu học được xây dựng dựa trên kết
quả nghiên cứu TNTT trẻ em thực tế tại Đà Nẵng
và Việt Nam. Dựa trên các phân tích về mô hình lý
thuyết và các số liệu thực tế, chương trình sẽ đưa ra
các nội dung cơ bản về phòng chống TNTT dự kiến
được giảng dạy trong chương trình tiểu học và phân
bổ nội dung đó phù hợp đối với từng khối lớp và cho
từng môn học. Các nội dung này sẽ được chuyển tải
dưới các dạng thông điệp mang tính lặp lại để học
sinh có thể ghi nhớ.
- Sau khi có môn học tích hợp và nội dung phòng
chống TNTT, có 3 cấp độ tích hợp có thể áp dụng
là: (1) Tích hợp toàn phần - Khi mục tiêu và nội
dung bài học hoàn toàn phù hợp với mục tiêu và nội
dung giáo dục phòng chống TNTT; (2) Mức độ bộ
phận - Khi chỉ có 1 bộ phận bài học có nội dung giáo
dục phù hợp với giáo dục phòng chống TNTT và (3)
Mức độ liên hệ - Khi nội dung và bài học có điều
kiện liên hệ một cách logic với nội dung giáo dục
phòng chống TNTT.
- Bên cạnh đó, chương trình giảng dạy ngoại
khóa phòng chống tai nạn thương tích được xây
dựng như một cấu phần đi kèm, hỗ trợ và củng cố
kiến thức đã học ở chương trình tích hợp chính khóa.
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 11.2010, Số 16 (16) 53
Do đó, nội dung các bài học được xây dựng phù hợp
với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, sử

2. Bộ Y tế, Thống kê tử vong do tai nạn thương tích năm
2007, Hà Nội 2008
3. Lê Vũ Anh, Lê Cự Linh, Phạm Việt Cường (2003), Điều
tra liên trường về chấn thương ở Việt Nam, Hà Nội 2003.
4. Lê Vũ Anh, Nguyễn Thuý Quỳnh, Lê Cự Linh, Trần Thò
Hồng, Nguyễn Thò Trang Nhung, Lã Ngọc Quang, Trần
Trọng Hà (2004). Điều tra cơ bản tình hình chấn thương và
các yếu tố ảnh hưởng ở trẻ dưới 18 tuổi tại 6 tỉnh Hải Phòng,
Hải Dương, Thừa Thiên Huế, Quảng Trò, Cần Thơ, Đồng
Tháp năm 2004. Trường Đại học Y tế công cộng - UNICEF
Việt Nam, 2004.
5. Nguyễn Trọng Hà, Phạm Việt Cường, Lã Ngọc Quang,
Nguyễn Thúy Quỳnh, Nguyễn Trang Nhung, Lê Thò Kim
Ánh, Nguyễn Y Vân, Phạm Công Tuấn (2008). Điều tra cơ
bản tình hình chấn thương và các yếu tố ảnh hưởng ở trẻ dưới
18 tuổi tại 6 tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Thừa Thiên Huế,
Quảng Trò, Cần Thơ, Đồng Tháp năm 2008. Trường Đại học
Y tế công cộng - UNICEF Việt Nam, 2009.
Tiếng Anh
6. Badura, A (1977a), Self-efficacy: Toward a Unifying
Theory of Behavior Change. Psychological Review.
7. Bunn F, Collier T, Frots C, Ker K, Roberts I, Wentz R,
Traffic calming for prevention of road traffic injuries:
systematic review and meta-analysis. Injury prevention
2003; 9(3): 200-204
8. Csikszentmihalyi, M.and Schneider, B (2000), Becoming
Adult: How Teenagers Prepare for the world of work. New
York: basic book.
9. Doyle J. Child injury prevention. The story of UNICEF's
interventions in Vietnam, Hanoi 2008.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status