ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nhận thức của cha mẹ trong việc phòng
ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em dưới 6
tuổi ở Hà Nội hiện nay
CHUYÊN NGÀNH : XÃ HỘI HỌC
MÃ SỐ : 60. 31. 30
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS. NGUYỄN THỊ KIM HOA
NGƯỜI THỰC HIỆN : NGUYỄN THỊ QUỲNH HOA
và các cán bộ trong khoa Xã hội học; các đồng chí lãnh đạo và các
cán bộ của Viện nghiên cứu Thanh niên đã khuyến khích, động
viên và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện Luận văn.
Hà Nội, 6-2006
Tác giả
Nguyễn Thị Quỳnh Hoa MỤC LỤC Trang
PHẦN I.
MỞ ĐẦU
1
1. Lý do lựa chọn đề tài
3
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3
3. Mục đích nghiên cứu
15
2.2. Lý luận xã hội học về định hƣớng giá trị
16
2.3. Lý thuyết lựa chọn hợp lý
18
2.4. Lý thuyết xã hội hoá
20
3. Một số khái niệm công cụ
23
3.1. Khái niệm Nhận thức
23
3.2. Khái niệm Tai nạn thƣơng tích
24
3.3. Khái niệm Phòng ngừa tai nạn thƣơng tích
27
3.4. Khái niệm Trẻ em
29
3.5. Khái niệm Trẻ em lứa tuổi mầm non
30
4. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ trẻ em
66
5.1.1. Hiểu biết của cha mẹ về đặc điểm giới tính và lứa
tuổi dễ gặp TNTT ở trẻ em dƣới 6 tuổi
66
5.1.2. Hiểu biết của cha mẹ về các loại TNTT dễ xảy ra
đối với trẻ em dƣới 6 tuổi
71
5.1.3. Hiểu biết của cha mẹ về nơi dễ xảy ra TNTT cho
trẻ em dƣới 6 tuổi
81
5.1.4. Hiểu biết của cha mẹ về nguyên nhân dễ dẫn đến
TNTT cho trẻ em dƣới 6 tuổi
83
5.1.5. Hiểu biết của cha mẹ về hậu quả do TNTT gây ra
cho trẻ em dƣới 6 tuổi
89
5.1.6. Hiểu biết của cha mẹ về các biện pháp phòng
ngừa TNTT cho trẻ em dƣới 6 tuổi hiện nay
92
5.2. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến nhận thức của cha mẹ về
TNTT và việc phòng ngừa TNTT cho trẻ em dƣới 6 tuổi ở Hà
Nội hiện nay
104
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN TNTT Tai nạn thƣơng tích
TNTT TE Tai nạn thƣơng tích trẻ em
TE Trẻ em
GĐ Gia đình
UB DS- GĐ- TE Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em
UNICEF Quỹ nhi đồng Liên hợp Quốc
WHO Tổ chức Y tế thế giới
TTĐC Truyền thông đại chúng
BV, CS & GD TE Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
ĐH Đại học
TC, CĐ Trung cấp, Cao đẳng
PTTH Phổ thông trung học
THCS Trung học cơ sở
TT Thị trấn
CS & GD TE chia theo địa bàn khảo sát
58
Bảng 5.
Hiểu biết của cha mẹ về đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em dƣới 6
tuổi
60
Bảng 6.
Hiểu biết của cha mẹ về nhu cầu của trẻ em dƣới 6 tuổi
64
Bảng 7.
Hiểu biết của cha mẹ về đặc điểm giới tính dễ xảy ra TNTT ở
trẻ em chia theo địa bàn khảo sát, trình độ học vấn và giới tính
69
Bảng 8.
Hiểu biết của cha mẹ về các loại TNTT dễ xảy ra đối với trẻ em
dƣới 6 tuổi
72
Bảng 9.
Hiểu biết của cha mẹ về các loại TNTT dễ xảy ra đối với trẻ em
dƣới 6 tuổi chia theo địa bàn
78
Bảng 10.
Hiểu biết của cha mẹ về nơi dễ xảy ra TNTT cho TE dƣới 6 tuổi
81
Bảng 11.
Hiểu biết của cha mẹ về nguyên nhân dễ dẫn đến TNTT cho TE
dƣới 6 tuổi
84
Bảng 12.
Hiểu biết của cha mẹ về nguyên nhân dễ dẫn đến TNTT cho trẻ
107
Bảng 20.
Nhận thức của cha mẹ về trách nhiệm pháp lý trong việc phòng
ngừa TNTT cho trẻ em chia theo lứa tuổi
107
Bảng 21.
Các hình thức truyền tải thông tin về phòng ngừa TNTT trẻ em
cho các bậc cha mẹ
120 DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN VĂN
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI:
Trẻ em là những chủ nhân tƣơng lai, là nguồn nhân lực của mỗi quốc
gia. Bởi vậy, quan tâm, chăm sóc trẻ em luôn là vấn đề đƣợc đặt lên hàng
đầu trong chiến lƣợc phát triển con ngƣời của mỗi nƣớc. Để có những công
dân tốt, đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển của đất nƣớc, ngay từ nhỏ trẻ em
phải đƣợc nuôi dƣỡng, chăm sóc thật tốt để đảm bảo phát triển về sức khoẻ,
trí tuệ, tình cảm và hành vi. Tuy nhiên thực tế cho thấy, vấn đề bảo vệ và
chăm sóc trẻ em hiện nay còn nhiều bất cập, đặc biệt là tình trạng tai nạn
thƣơng tích (TNTT) trẻ em ngày càng gia tăng và trở thành một trong những
nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em.
Báo cáo của UNICEF tháng 2/2001 cho biết, ở những nƣớc giàu trên
thế giới, hàng năm có hơn 20.000 trẻ em bị chết do TNTT. Con số này ở các
nƣớc đang phát triển lớn hơn gấp 10 lần, lên tới 240.000 trẻ em/năm. Nếu so
sánh con số đó tƣơng đƣơng với việc mỗi ngày có hai máy bay hành khách
loại lớn (Jumbo Jet) chở đầy trẻ em bị nổ tung mới thấy hết mức độ nghiêm
trọng của vấn đề đặt ra [27, 5].
Việt Nam là một quốc gia đang trong quá trình phát triển. Trong
những năm qua, nhờ sự tác động của chính sách đổi mới và sự vận hành của
nền kinh tế thị trƣờng nên đất nƣớc đã đạt đƣợc nhiều thành tựu đáng kể trên
các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội. Song bên cạnh đó, do ảnh hƣởng của
nay là vấn đề cần đƣợc đặc biệt quan tâm.
Với ý nghĩa đó, đề tài “Nhận thức của cha mẹ trong việc phòng
ngừa tai nạn thƣơng tích cho trẻ em dƣới 6 tuổi ở Hà Nội hiện nay” đã
đƣợc lựa chọn làm đề tài nghiên cứu. Đây là đề tài mang tính chất thời sự, có
ý nghĩa thiết thực trong việc tham gia tích cực vào các hoạt động chăm lo,
1
Nguồn:
bảo vệ cho trẻ em- những chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc. Hy vọng kết quả
nghiên cứu sẽ góp phần tìm ra giải pháp thích hợp cho việc nâng cao nhận
thức của các bậc cha mẹ về phòng ngừa TNTT cho trẻ em, tiến tới hạn chế
tình trạng TNTT trẻ em ở nƣớc ta hiện nay.
2. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
2.1. Ý nghĩa khoa học:
Thông qua phân tích nhận thức của các bậc cha, mẹ trong việc phòng
ngừa TNTT cho trẻ em dƣới 6 tuổi, đề tài bổ sung những cơ sở khoa học,
làm sáng tỏ vai trò của gia đình mà trƣớc hết là các bậc cha, mẹ trong việc
bảo vệ, chăm sóc, phòng ngừa TNTT cho trẻ em cũng nhƣ tìm hiểu quá trình
xã hội vấn đề bảo vệ, chăm sóc và phòng ngừa TNTT trẻ em của các bậc cha
mẹ. Từ đó, đề tài hi vọng sẽ góp phần làm rõ một số khái niệm về TNTT,
phòng ngừa TNTT cũng nhƣ một số lý thuyết xã hội học nhƣ lý thuyết biến
đổi xã hội, lý thuyết về định hƣớng giá trị, lý thuyết lựa chọn hợp lý, lý
thuyết xã hội hoá.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn:
Những nội dung đƣợc đề cập, phân tích trong đề tài góp phần làm
sáng tỏ những yếu tố chủ quan và khách quan tác động đến nhận thức của
các bậc cha, mẹ về TNTT trẻ em và việc phòng ngừa TNTT cho trẻ em hiện
nay.
Đồng thời, những kết luận cũng nhƣ những kiến nghị đƣa ra có thể
giúp cho gia đình, cộng đồng cũng nhƣ các cơ quan chức năng có các biện
em dƣới 6 tuổi ở Hà Nội hiện nay.
5.2. Khách thể nghiên cứu:
Cha, mẹ của trẻ em dƣới 6 tuổi ở Hà Nội.
5.3. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu nhận thức của các bậc cha, mẹ có con ở
lứa tuổi từ 3 đến dƣới 6 tuổi (lứa tuổi mẫu giáo).
5.4. Địa bàn nghiên cứu:
Đề tài đƣợc tiến hành tại 2 quận nội thành là quận Đống Đa, Ba Đình
và 2 địa bàn thuộc huyện Từ Liêm- ngoại thành thành phố Hà Nội là xã
Xuân Phƣơng và thị trấn Cầu Diễn. Đây là hai khu vực chịu sự tác động khác
nhau của quá trình đô thị hoá. Nội thành là khu vực mà quá trình đô thị hoá
đã diễn ra mạnh mẽ và trong một thời gian dài, trong khi đó, ngoại thành là
khu vực đang bắt đầu quá trình đô thị hoá, đang có sự chuyển biến từ xã hội
nông nghiệp sang xã hội công nghiệp. Chính vì thế, việc nghiên cứu nhận
thức của các bậc cha, mẹ ở hai khu vực này là rất có ý nghĩa.
Đề tài tiến hành thu thập thông tin trong khoảng thời gian 2 tháng:
tháng 10 và tháng 11 năm 2005.
5.5. Mẫu nghiên cứu:
Số phiếu phát ra ban đầu của đề tài là 280 phiếu dành cho đối tƣợng là
cha hoặc mẹ của trẻ em từ 3 đến dƣới 6 tuổi ở Hà Nội. Số phiếu thu lại hợp
lệ là 251 phiếu.
Nhƣ vậy, dung lƣợng mẫu của đề tài là 251 phiếu, trong đó cơ cấu
mẫu đƣợc phân bố nhƣ sau:
- Theo địa bàn:
+ 2 quận nội thành: 126 ngƣời (50,2%)
+ 2 địa bàn thuộc huyện ngoại thành: 125 ngƣời (49,8%)
- Theo giới tính:
+ Nam : 124 ngƣời (49,4%)
+ Nữ: 127 ngƣời (50,6%)
- Theo độ tuổi:
những suy nghĩ của riêng mình để kết luận một cách vội vã, mà phải tìm hiểu
các nguyên nhân chủ quan và khách quan tác động đến nhận thức của họ
trong việc phòng ngừa TNTT cho trẻ em, từ đó mới có thể nhìn nhận chính
xác vấn đề này.
6.2. Phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể:
6.2.1. Phương pháp định lượng:
6.2.1.1. Phƣơng pháp thu thập thông tin bằng bảng hỏi:
Đề tài đƣợc thực hiện dựa trên kết quả khảo sát bằng phƣơng pháp
bảng hỏi đối với 251 ngƣời là cha hoặc mẹ của trẻ em dƣới 6 tuổi nhằm thu
thập thông tin định lƣợng theo yêu cầu và mục đích của đề tài.
6.2.1.2. Phƣơng pháp thống kê xã hội học:
Với 251 bảng hỏi thu thập đƣợc, tác giả tiến hành xử lý kết quả điều
tra bằng phƣơng pháp thống kê xã hội học. Chƣơng trình thống kê SPSS 13.0
đƣợc sử dụng để xử lý thông tin thu đƣợc từ các bảng hỏi đó.
6.2.1. Phương pháp định tính:
6.2.1.1. Phƣơng pháp thu thập và phân tích thông tin, tƣ liệu:
Đề tài cũng đƣợc thực hiện dựa trên những số liệu, tƣ liệu sẵn có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu. Các số liệu, tƣ liệu này đƣợc thu thập từ nhiều
nguồn khác nhau nhƣ: các đề tài nghiên cứu đã đƣợc công bố; các bài viết
tham luận, hội thảo khoa học; các loại sách, báo, tạp chí có liên quan; thông
tin từ mạng internet: trong đó có nguồn website: ;
; www.moh.gov.vn/tainanthuongtich.
Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng một số tƣ liệu báo cáo về điều kiện
kinh tế- xã hội, về công tác dân số, gia đình, trẻ em của thành phố Hà Nội,
quận Ba Đình, quận Đống Đa, huyện Từ Liêm, thị trấn Cầu Diễn, xã Xuân
Phƣơng là những địa bàn khảo sát của đề tài nghiên cứu.
6.2.1. 2. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu:
Đề tài sẽ tiến hành phỏng vấn sâu 20 trƣờng hợp là cha hoặc mẹ của
trẻ em dƣới 6 tuổi, trong đó: 11 trƣờng hợp cha mẹ ở nội thành và 9 trƣờng
hợp cha mẹ ở ngoại thành.
Luật pháp,
chính sách
kinh tế- xã
hội. Luật pháp,
chính sách Bảo
vệ, chăm sóc
trẻ em
tuổi
Hiểu biết
của cha
mẹ về các
loại TNTT
dễ xảy ra
đối với
TE dưới 6
tuổi
Hiểu biết
của cha mẹ
về hậu quả
của TNTT
đối với trẻ
em dưới 6
tuổi
Hiểu biết
của cha mẹ
về các biện
pháp phòng
ngừa TNTT
cho trẻ em
dưới 6 tuổi
ĐIỀU KIỆN KINH TẾ- XÃ HỘI
PHẦN II
NHẬN THỨC VỀ VIỆC PHÕNG NGỪA TNTT CHO TRẺ
thành phố Hồ Chí Minh; và từ khảo sát thực tế tại hai tỉnh Quảng Trị và Bắc
Giang. Báo cáo đã đƣa ra đƣợc bức tranh chung về tình hình TNTT trẻ em ở
nƣớc ta thời gian qua thông qua việc thống kê, phân loại các loại TNTT theo
các nguồn tƣ liệu, số liệu từ báo chí, bản tin nội bộ, từ các bệnh viện và từ
thực tế địa phƣơng. Đồng thời báo cáo cũng phân tích, nhận xét về tình hình
phòng ngừa TNTT trẻ em ở các địa phƣơng từ góc độ gia đình, nhà trƣờng
và cộng đồng. Trên cơ sở đó, tìm hiểu nguyên nhân và đƣa ra các khuyến
nghị nhằm làm giảm bớt tình trạng TNTT trẻ em ở nƣớc ta.
“Đánh giá kiến thức, nhận thức và thực hành của cộng đồng về phòng
tránh TNTT trẻ em và mô hình truyền thông ở 8 tỉnh, thành trong cả nước”
của Uỷ ban Dân số, Gia đình, Trẻ em phối hợp với Trung tâm huy động cộng
đồng Việt Nam phòng chống HIV/AIDS thực hiện từ tháng 6/2003 đến tháng
2/2004. Mục tiêu của cuộc đánh giá là: mô tả và đánh giá kiến thức, thái độ
và thực hành phòng tránh TNTT trẻ em của cộng đồng ở các địa bàn nghiên
cứu tại 8 tỉnh và thành phố: Hải Dƣơng, Hải Phòng, Thừa Thiên Huế, Quảng
Trị, Cần Thơ, Đồng Tháp, Yên Bái và Đắc Lắc; mô tả và đánh giá các mô
hình truyền thông (nguồn cung cấp thông tin, nội dung thông tin, kênh
chuyển tải thông tin, nguồn nhận thông tin và thông tin phản hồi) thích hợp ở
các địa bàn nghiên cứu; trên cơ sở đó đề xuất một số ý kiến về các mô hình
truyền thông thích hợp cho từng vùng nhằm nâng cao kiến thức, thái độ và
thực hành của cộng đồng về phòng tránh TNTT trẻ em trong những năm tới.
Trong giai đoạn 2002- 2005, Bộ Y tế và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc
(UNICEF) tiến hành thực hiện dự án “Phòng chống TNTT ở trẻ em” tại 6
tỉnh Hải Dƣơng, Hải Phòng, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Cần Thơ và Đồng
Tháp với mục đích nâng cao nhận thức của cộng đồng về phòng chống
TNTT ở trẻ em, đồng thời xây dựng các mô hình phòng chống TNTT và phát
triển các thiết bị an toàn cho trẻ em tại các tỉnh này. Trong giai đoạn triển
khai, dự án đã tiến hành một số điều tra, nghiên cứu liên quan đến TNTT ở
trẻ em nhƣ:
* Điều tra tình hình chấn thương (thương tích) và các yếu tố ảnh
hợp không có bán trên thị trƣờng. Dựa vào kết quả thu đƣợc, điều tra đã đề
xuất một số khuyến nghị nhằm phát triển các trang thiết bị an toàn cho các
tỉnh thuộc dự án.
* Điều tra tìm hiểu nguy cơ và nguyên nhân TNTT trẻ em ở nông thôn
Việt Nam
Trong năm 2003, Dự án cũng đã tiến hành điều tra tìm hiểu nguy cơ
và nguyên nhân TNTT trẻ em ở nông thôn Việt Nam tại 3 xã An Hƣng (Hải
Phòng), Gio Châu (Quảng Trị) và Mỹ Hoà (Đồng Tháp). Mục tiêu của điều
tra này là xác định các TNTT trẻ em nổi bật tại 3 xã; tìm hiểu và phân tích
các nguyên nhân và nguy cơ gây TNTT trẻ em.
Kết quả của điều tra đã thống kê các loại hình TNTT trẻ em nổi bật tại
3 xã là: ngã, bị súc vật và côn trùng cắn, bỏng, tai nạn giao thông, đuối
nƣớc… Điều tra đã nêu lên mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế- xã hội của
địa phƣơng với nguyên nhân gây TNTT trẻ em nhƣ biến đổi về cấu trúc gia
đình, tác động của kinh tế thị trƣờng và trình độ văn hoá của bậc cha mẹ trẻ.
Điểm nổi bật là trẻ em, con cái của các hộ gia đình nghèo sống ở nông thôn
có nguy cơ cao với các loại TNTT hơn là trẻ em, con cái của các hộ gia đình
khá giả và sống tại vùng gần thành phố. Thêm vào đó, thái độ và cách ứng
xử của các hộ gia đình nghèo và khá giả cũng khác nhau đối với vấn đề
TNTT trẻ em.
Gần đây nhất là báo cáo “Khảo sát thực trạng và nhận thức của trẻ
em, cộng đồng về TNTT trẻ em tại vùng dự án Plan” đƣợc thực hiện từ tháng
2/2005 đến tháng 6/2006 với sự phối hợp giữa tổ chức Plan Việt Nam và
Viện Khoa học DS, GĐ, TE. Nghiên cứu đƣợc tiến hành tại 6 tỉnh đã đƣợc
Plan hỗ trợ là Hà Nội, Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Quảng Bình,
Quảng Ngãi với 3 nhóm đối tƣợng là: trẻ em, hộ gia đình có trẻ em dƣới 18
tuổi và các cán bộ địa phƣơng. Tổng số mẫu của nghiên cứu là 2205, trong
đó mẫu trẻ em là 1452, mẫu hộ gia đình là 562 và mẫu cán bộ địa phƣơng là
191. Mục đích của nghiên cứu là: 1) Tìm hiểu thực trạng tình hình TNTT trẻ
em tại các địa bàn khảo sát trong 1 năm qua (từ 2005- nay); 2) Tìm hiểu
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Nghiên cứu đề tài “Nhận thức của cha mẹ trong việc phòng ngừa
TNTT cho trẻ em dƣới 6 tuổi ở Hà Nội hiện nay” đƣợc dựa trên một số lý
thuyết xã hội học, trong đó có:
2.1. Lý thuyết về sự biến đổi xã hội:
Lý thuyết biến đổi xã hội chỉ ra rằng, mọi xã hội đều không ngừng vận
động và biến đổi. Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định tƣơng đối, còn thực
tế nó không ngừng thay đổi bên trong bản thân nó. Và sự biến đổi trong xã
hội hiện đại lại càng thể hiện rõ nét hơn.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về sự biến đổi xã hội. Một cách hiểu
rộng nhất, biến đổi xã hội là một sự thay đổi so sánh với một tình trạng xã
hội có trƣớc. Theo nghĩa hẹp hơn, biến đổi xã hội là sự biến đổi về cấu trúc
của xã hội (hay tổ chức xã hội) mà sự biến đổi này sẽ dẫn đến sự biến đổi
chức năng của các bộ phận, các thành phần trong xã hội [16, 279].
Trong những năm qua, dƣới sự tác động mạnh mẽ của quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế, giao lƣu văn hoá với các nƣớc
trong khu vực và trên thế giới, xã hội Việt Nam đã có những biến chuyển sâu
sắc, trong đó xu hƣớng xã hội hoá công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Nếu nhƣ trƣớc đây, việc chăm sóc, giáo dục
trẻ em là chức năng của gia đình và chỉ duy nhất có gia đình phải thực hiện
chức năng này thì ngày nay, trƣớc sự tác động của quá trình toàn cầu hoá,
vấn đề trẻ em đã trở thành vấn đề chung của xã hội. Chính điều này đã khiến
cho nhận thức của các bậc cha mẹ có sự thay đổi. Họ coi việc chăm sóc trẻ
em không còn là vấn đề riêng của gia đình mà nó phải đƣợc cộng đồng xã
hội quan tâm. Vì thế, họ đã chuyển một phần trách nhiệm chăm sóc con cái
sang cho nhà trƣờng, cho xã hội nhiều hơn. Điều này có ảnh hƣởng rất lớn
đến việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em, trong đó có việc quan tâm phòng ngừa
TNTT cho trẻ em.
Nhƣ vậy, những thay đổi về kinh tế, về lối sống, phong tục tập quán,
về luật pháp, chính sách xã hội là những nhân tố tác động tới nhận thức của