Vai trò của gia đình trong giáo dục văn hóa ứng xử cho trẻ em vị thành niên ở Hà Nội hiện nay - Pdf 25

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN VƢƠNG HOÀNG YẾN VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG
GIÁO DỤC VĂN HOÁ ỨNG XỬ CHO TRẺ EM
VỊ THÀNH NIÊN Ở HÀ NỘI HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành:Xã hội học Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Mai Thị Kim Thanh
Hà Nội-2012
4

MỤC LỤC
Trang

MỞ ĐẦU
5

1. Lý do chọn đề tài
5

2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
8

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
8


27
Chương 2
THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG GIÁO DỤC VĂN
HÓA ỨNG XỬ CHO VỊ THÀNH NIÊN Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
37

2.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu
37

2.2. Thực trạng đạo đức của trẻ vị thành niên ở Hà Nội hiện
nay
38
2.3. Thực trạng hoạt động giáo dục văn hoá ứng xử cho vị
thành niên trong các gia đình ở Hà Nội hiện nay.
44
2.3.1.Nhận thức của gia đình về tầm quan trọng của giáo dục
văn hoá ứng xử cho trẻ em.
44

2.3.2.Những nội dung cơ bản các gia đình quan tâm giáo dục
văn hoá ứng xử cho trẻ em.
60

2.3.3.Các phương pháp gia đình sử dụng trong giáo dục văn
hoá ứng xử cho trẻ em
66
Chương 3

khăn gặp phải trong quá trình giáo dục văn hoá ứng xử cho trẻ em(%)
58
Bảng2.6:tương quan mức sống với những nội dung giáo dục tập trung giáo
dục cho trẻ em(%)
61
Bảng2.7:những việc người trả lời thường làm để giáo dục lòng nhân ái cho
trẻ em(%)
65
Bảng2.8:nội dung giáo dục tinh thần tôn sư trọng đạo (%)
67
Bảng2.9: các nội dung giáo dục cách ứng xử đối với người lớn(%)
69
Bảng2.10:Nội dung giáo dục tính trung thực cho trẻ em(%)
72
Bảng2.11:nội dung giáo dục lao động(%)
74
Bảng2.12:nội dung quan tâm, chăm sóc và tôn trọng bố mẹ, ông bà(%)
78
Bảng2.13.:tương quan tuổi và việc xin lỗi trẻ em(%)
87
Bảng2.14:tương quan học vấn và việc xin lỗi trẻ em(%)
88
Bảng2.15:tương quan thu nhận hình thức khen thưởng trẻ em khi có những
hành vi và việc làm tốt(%)
93
Bảng2.16:tương quan học vấn và phương pháp giáo dục của người trả lời khi
trẻ em mắc lỗi(%)
92
Bảng2.17:tương quan giới tính với thời gian dành cho trẻ em(%)
95

Biểu2.6:nhận thức của người trả lời về việc giữ hoà thuận trong gia đình(%)
52
Biểu2.7:trách nhiệm của các thiết chế xã hội trong việc thực hiện chức năng
giáo dục văn hóa ứng xử cho trẻ em(%)
53
Biểu2.8:trách nhiệm của các thiết chế xã hội đối với vấn đề trẻ hư(%)
55
Biểu2.9: các hình thức khen thưởng khi con hoàn thành tốt công việc(%)
90
Biểu2.10: thời gian dành cho trẻ em(%)
96
Biểu3.1:mức độ ảnh hưởng lối sống, cách cư xử của người trả lời trong cuộc
sống hàng ngày đến hành vi đạo đức của trẻ em(%)
107
Biểu3.2:sự thay đổi các giá trị chuẩn mực đạo đức người trả lời dạy trẻ em
hiện nay so với thế hệ họ trước đây(%)
109
Biểu3.3:tương quan giữa hai khu vực khảo sát với ý kiến người trả lời về
mức độ thay đổi những giá trị chuẩn mực đạo đức người trả lời dạy trẻ em
hiện nay so với trước đây(%)
110
8

MỞ ĐẦU

của tư tưởng Nho giáo được cha ông răn dạy, chỉ bảo con cái từ thuở mới lọt
lòng đến khi trưởng thành được thể hiện rất rõ trong ca dao, tục ngữ. Đó là
những bài học ứng xử về hiếu nghĩa, đạo làm con: “Một lòng thờ mẹ, kính
cha. Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”; tình thương yêu anh em ruột thịt:
“Anh em như chân, như tay. Như chim liền cánh, như cây liền cành”, “Em
thuận, anh hòa là nhà có phúc” Thế nhưng kinh tế thị trường cuốn con người
vào vòng xoáy làm kinh tế … cha mẹ, và những người lớn tuổi trong gia đình
ít có thời gian để quan tâm, chăm sóc, chia sẻ những niềm vui nỗi buồn và cả
những tâm sự riêng tư trong cuộc sống của các thành viên trong gia đình, đặc
biệt là trẻ vị thành niên. Đã có nhiều gia đình bị rạn nứt về chuyện tình cảm,
hôn nhân gia đình không hạnh phúc… Các thành viên trong gia đình không
có sự kính trọng, thương yêu, giúp đỡ, chăm sóc lẫn nhau mà chỉ tình cảm
hoá sự chân thành, tình yêu thương bằng những nghĩa vụ và bổn phận cần
phải thực hiện nên đã vô hình chung tạo ra sự xa cách, lãnh cảm, không có sự
thân mật giữa cha mẹ, ông bà với trẻ như trước đây, đó cũng chính là nguyên
nhân dẫn đến tình trạng hiện nay có rất nhiều em nhỏ, trẻ em vị thành niên đã
mắc phải bệnh trầm cảm, nhiều em cảm thấy mình bị lạc lõng và bị bỏ rơi nên
lao vào con đường nghiện game online, các trò chơi điện tử, các tệ nạn xã
hội…với mục đích tìm các cảm giác lạ, tìm các niềm vui mới trong xã hội vốn
đã đầy rẫy sự phức tạp với vô vàn các tác động xấu.
Hơn nữa, thời gian gần đây đã có nhiều gia đình, trong đó cha mẹ
không quan tâm đến việc giáo dục nhân cách cho trẻ em, mà phần lớn đều có
tâm lý chung là chuyển giao nghĩa vụ này cho nhà trường và các thầy cô giáo.
Nhưng nhà trường và các thầy cô giáo chỉ chú trọng đến việc giáo dục và
10

chăm lo đến sự phát triển về tri thức, vì thế việc giáo dục về nhân cách cho trẻ
em và thế hệ học sinh, sinh viên vẫn cần sự quan tâm chăm sóc, chia sẻ, động
viên, giúp đỡ giáo dục nhân cách từ bố mẹ, ông bà, người thân trong gia đình.
Trước tình hình đó đặt ra cho người nghiên cứu hàng loạt câu hỏi như:

nghị nhằm nâng cao vai trò của gia đình trong giáo dục văn hoá ứng xử cho
Vị thành niên
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Thao tác hóa khái niệm sử dụng trong nghiên cứu: Vị thành niên, gia
đình, ứng xử, văn hóa, văn hóa ứng xử.
Tìm hiểu thực trạng đạo đức trẻ Vị thành niên ở Hà Nội hiện nay.
Tìm hiểu thực trạng việc giáo dục văn hoá ứng xử cho trẻ em thông qua
nghiên cứu nhận thức, nội dung và phương pháp giáo dục của cha mẹ.
Phân tích các yếu tố tác động đến việc giáo dục văn hoá ứng xử cho trẻ
em trong gia đình.
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của gia đình trong giáo dục văn hóa ứng xử cho vị thành niên.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Các phụ huynh (ông, bà, cha, mẹ ) – những gia đình có trẻ VTN ở Hà
Nội hiện nay.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
12

Có nhiều nội dung về giáo dục văn hóa ứng xử như: ứng xử với bản
thân (cách ăn, mặc, đi lại, ngôn từ giao tiếp); ứng xử với môi trường; ứng xử
nơi công cộng; quan hệ ứng xử với bạn bè, đồng nghiệp; quan hệ ứng xử với
thầy, cô giáo; quan hệ ứng xử với người lớn tuổi; quan hệ ứng xử trong gia
đình (cha mẹ, con cái, anh chị em ). Mỗi nội dung có các chuẩn mực đạo
đức, chuẩn mực xã hội khác nhau quy định cách ứng xử của con người. Để
giáo dục văn hoá ứng xử cho trẻ em, cha mẹ cần có nhận thức về những
chuẩn mực đó và lựa chọn những nội dung, phương pháp phù hợp với từng
lứa tuổi. Trong giới hạn luận văn chúng tôi chưa thể phân tích đầy đủ các nội
dung của văn hoá ứng xử, vì vậy chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu của
đề tài như sau:

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi lựa chọn hai địa điểm này đại
diện cho những khu vực đã đôi thị hoá và những khu vực đang đô thị hoá ở
Hà Nội để làm rõ một số vấn đề nghiên cứu như: so sánh nhận thức của người
dân về một số giá trị đạo đức của dân tộc đó được đúc kết hàng ngàn năm có
thay đổi không? Họ có gặp những khó khăn gì trong quá trình giáo dục văn
hoá ứng xử cho trẻ em?
Thời gian nghiên cứu: Năm 2012
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định tính
Phân tích tài liệu: Trước khi tiến hành thực địa, áp dụng phương pháp
phân tích tài liệu để tìm hiểu về thực trạng đạo đức của trẻ em ở nước ta nói
chung và ở Hà Nội nói riêng. Kết quả phương pháp này là xác định được tổng
quan của vấn đề nghiên cứu. Mặt khác trên cơ sở phân tích tài liệu này sẽ giúp
14

cho việc nghiên cứu chính xác hơn.
Phỏng vấn sâu: Nhằm thu thập thông tin về vai trò của gia đình trong
giáo dục văn hoá ứng xử cho VTN ở Hà Nội. Từ các cuộc phỏng vấn sâu này
là cơ sở giải thích kết quả các mối quan hệ giữa các biến số thu được qua
nghiên cứu định lượng. Đối tượng phỏng vấn sâu 25 gia đình có con tuổi
VTN ở quận Ba Đình, huyện Từ Liêm.
Phương pháp nghiên cứu định lượng: Phương pháp này thu thập
những thông tin định lượng để đo lường thực trạng vai trò của gia đình trong
giáo dục văn hoá ứng xử cho VTN ở Hà Nội, cuộc khảo sát phát 200 phiếu
cho cha mẹ có con tuổi THCS tại quận Ba Đình và huyện Từ Liêm.
Với khách thể nghiên cứu là cha mẹ thì cơ cấu giới tính như sau:
45,6% là nam và 54,4% là nữ. Như vậy tỷ lệ giới tính trong mẫu khảo sát
phụ nữ nhiều hơn nam giới. Trong đó số gia đình có mức sống giàu có, khá
giả là 15,2%, số gia đình có mức sống trung bình là 75,3%, và số hộ nghèo
là 9,5%. Như vậy phần lớn các gia đình được khảo sát có mức sống trung

thị trường làm cho gia đình biến đổi nhanh về cơ cấu, quy mô, thu nhập, mức
sống…, xuất hiện sự không đồng nhất về giá trị chuẩn mực giữa cha mẹ và
con nên các bậc phụ huynh quan tâm tới giáo dục đạo đức cho con cái hơn
khu vực đang trong quá trình đô thị hoá.

16

Khung lý thuyết


Đạo đức của trẻ em
17

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Các khái niệm
Khái niệm văn hoá ứng xử
Ứng xử
Từ lâu vấn đề ứng xử của con người là một phạm trù được nhiều nhà
tâm lý học, xã hội học, sinh học quan tâm. Khẳng định vai trò của ứng xử,
nhà sư phạm người Nga Usinxki đã khẳng định: “sự khéo léo ứng xử về sư
phạm mà nếu không có nó thì các nhà giáo dục học dù giỏi tới mức nào cũng
không bao giờ trở thành nhà thực hành giáo dục tốt, về bản chất không phải
cái gì khác là sự khéo léo đối xử”[74; tr191].
Vấn đề ứng xử đã được nhiều người sử dụng khái niệm kép: giao tiếp -
ứng xử, trong các mối quan hệ xã hội giữa con người với tự nhiên, con người
với xã hội, con người với gia đình và con người với chính mình.
Dưới góc độ sinh học, các nhà khoa học cho rằng: Ứng xử là toàn thể
phản ứng thích nghi có thể quan sát khách quan mà một cơ chế có một hệ
thống thần kinh thực hiện để đáp trả lại những sự kích thích… Điều đáng chú
ý là những phản ứng ấy, những ứng xử, xử lý để đáp ứng cơ chế kích thích,
tác động “được diễn ra theo cách tương đối ổn định” [23; tr124].
Dưới góc độ tâm lý học: Ứng xử được khai thác dưới hình thức là
những phản ứng của con người trong quan hệ giao tiếp, bản chất của ứng xử
là những đặc điểm tính cách của cá nhân được thể hiện qua thái độ, hành vi,
cử chỉ và cách nói năng của cá nhân với những người xung quanh và yếu tố
bên ngoái tác động vào con người.[10; tr30].
18


cũng như hiện đại là tư tưởng tự do” (Alfred Weber).
“Văn hóa là hình thái toàn diện của hệ thống thể chế (chính trị, kinh
tế, gia đình, giáo dục, tín ngưỡng và giải trí,…) mà con người cũng có
chung trong xã hội” (J.H Fichter).
“Văn hóa là tổng thể những thích nghi của con người với các điều kiện
sống của nó” (W.Summer).
“Văn hóa là một hệ thống các khuôn mẫu và chuẩn mực được soạn
thảo về hành vi, hoạt động, giao tiếp và tương tác của con người. Nó có
chức năng điều tiết và khống chế trong tập thể lớn.” (T.M.Dridze).
“Văn hóa là cấu trúc có bề sâu, qui định hành vi, điều chỉnh hành động
của con người, Cuộc sống xã hội được phản ánh ở bề mặt, còn tầng dưới là
văn hóa thường tiềm ẩn vào vô thức. Tầng này có sự sắp xếp các qui tắc văn
hóa điều chỉnh bề mặt ở bên trên.” (J.Matser – Giáo sư Xã hội học Đức).
Có thể nhận thấy “văn hóa” dưới góc độ xã hội học có những điểm
cơ bản như sau:
Là một trong những mặt cơ bản của đời sống xã hội.
Là một hệ thống hình thái biểu thị giá trị của một xã hội, là cấu trúc
– chức năng xã hội, kỹ thuật, thể chế, các hệ tư tưởng, được hình thành
trong quá trình hoạt động sáng tạo của con người, được bảo tồn và truyền
lại cho các thế hệ sau.
Là khuôn mẫu chuẩn mực quy định các hành vi xã hội. Mỗi cá nhân
muốn trở thành con người xã hội phải tiếp thu, tuân thủ theo các chuẩn
mực đó (Về phương diện này có thể coi văn hóa của xã hội là mục tiêu
của quá trình xã hội hóa cá nhân).
20

Văn hoá ứng xử
Từ khái niệm về ứng xử và văn hoá chúng tôi cho rằng con đường để nắm
bắt nội dung và phạm vi của văn hóa ứng xử là tìm hiểu các hành động xã hội
(hành vi ứng xử), cách thức hình thành và định hình các khuôn mẫu ứng xử.

Tính chất định hướng cơ bản và xuyên suốt của khuôn mẫu ứng xử là
thái độ ứng xử. Thái độ ứng xử với việc lựa chọn, thực hiện khuôn mẫu
ứng xử; thái độ ứng xử trong môi trường thiên nhiên xã hội và văn hóa cụ
thể; thái độ với việc thể hiện thực hiện các kỹ năng ứng xử.
Tóm lại “văn hóa ứng xử là hệ thống các khuôn mẫu ứng xử được thực
hiện ở thái độ, kỹ năng ứng xử của cá nhân và cộng đồng người trong
mối quan hệ với môi trường thiên nhiên, xã hội và bản thân, trên cơ sở
những chuẩn mực văn hóa – xã hội nhất định, để bảo tồn, phát triển cuộc
sống của cá nhân và cộng đồng người nhằm làm cho cuộc sống của cá
nhân và cộng đồng giàu tính người hơn”(56,tr36)
Khái niệm vị thành niên
Thuật ngữ Adolescen được đưa ra vào năm 1904 theo đề xuất của nhà tâm
lý học G.Stanley, nhằm để chỉ một thời kỳ quá độ từ trẻ con chuyển sang người
lớn. Nó cũng được quan niệm đồng nghĩa với tuổi đang lớn hay trưởng thành.
Bộ luật Lao động Việt Nam qui định “người lao động vị thành niên”
(VTN) là người lao động chưa đến 18 tuổi (điều 119, khoản 1).
Năm 1998 trong một tuyên bố chung giữa tổ chức WHO, UNICEF,
UNFPA thống nhất phân loại nam nữ trẻ tuổi thành ba loại như sau: VTN
(adolescen) từ 10 – 19 tuổi; thanh niên (youth) từ 15 – 24 tuổi, người trẻ
22

(young pepole) từ 10 – 24 tuổi.
Một số tài liệu khác lại phân định tuổi VTN theo các nhóm sau: nhóm
VTN sớm (10-14 tuổi); nhóm VTN trung bình (15 – 17 tuổi), vị thành niên
muộn (18- 19 tuổi).
Năm 1996, vụ bảo vệ bà mẹ, trẻ em và kế hoạch hoá gia đình thuộc bộ
Y tế Việt Nam đã đưa ra đề nghị xếp tuổi VTN thành hai nhóm tuổi: nhóm 1
từ 10 – 14 tuổi, nhóm 2 từ 15 – 19 tuổi.
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm VTN, nhưng
đều có điểm chung là xác định VTN là những người chưa trưởng thành và cần

Luật hôn và gia đình Việt nam (2000) thừa nhận: “Gia đình là tập hợp
những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống, hoặc quan
hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh những nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau”
[39, tr 9].
Mặc dù các nhận thức và lý giải chung về khái niệm gia đình có khác
nhau, song phần lớn mọi người vẫn có thể hiểu một cách thông thường rằng gia
đình là một thiết chế xã hội liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiện việc
duy trì nòi giống và chăm sóc con cái. Trong các mối quan hệ, gia đình còn
được coi là của hai người dựa trên cơ sở huyết thống, hôn nhân và nuôi dưỡng
để thực hiện các chức năng sinh học, kinh tế, văn hoá, xã hội, tín ngưỡng ; các
thành viên quan hệ với nhau trên cơ sở định ước, quy định rõ ràng về sự được
phép cấm đoán; có mối liên hệ với nhau về tình cảm, quyền lợi, trách nhiệm và
có những ràng buộc pháp lý được nhà nước thừa nhận, bảo vệ.
Với những đặc trưng cơ bản như vậy, rõ ràng gia đình có vị trí, vai trò
24

đặc biệt quan trọng không chỉ với bản thân mỗi con người mà còn cả với quốc
gia và toàn xã hội.
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng khái niệm gia đình theo quan
niệm của xã hội học: “Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã
hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi mối quan hệ hôn nhân,
quan hệ thuyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt,
trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của các
thành viên cũng như để thực hiện tính chất tất yếu của xã hội về tái sản xuất
con người” [21, tr310].
1.1.2. Lý thuyết tiếp cận
Một lý thuyết không thể cung cấp cho chúng ta đủ cơ sở để phân tích các
vấn đề xã hội vì vậy việc áp dụng nhiều lý thuyết, quan điểm khác nhau cho phù
hợp với tình hình nghiên cứu là điều rất cần thiết. Trong đề tài này tôi sử dụng lý
thuyết xã hội hoá, lý thuyết vai trò xã hội, lý thuyết lựa chọn hợp lý.

mực của nhóm tâm lý gia đình tạo ra thành mô hình hoạt động và tiêu chuẩn
hành vi trong gia đình.
Thứ ba, giúp cho cá nhân tiếp thu các chuẩn mực ngoài xã hội. Qua lăng
kính gia đình, một hệ giá trị được tiếp nhận để hình thành một tiểu văn hoá gia
đình. Vấn đề ở đây là cần phải đạt được sự thích nghi và điều chỉnh sao cho cá
nhân ra ngoài xã hội không bị bỡ ngỡ, lạc hậu.
Thứ tư, xã hội hoá giúp các cá nhân chuẩn bị đảm nhiệm vai trò xã hội.
Bằng việc đảm nhiệm các vai trò trong gia đình (người con, người cháu, người
em…). Cá nhân dần dần làm quen và đảm nhận tốt các vai trò khi thâm nhập vào
đời sống xã hội (vai trò người bạn, người học sinh, sinh viên, vai trò công dân…)
26

Tóm lại, xã hội hoá là một chức năng then chốt của gia đình, có vai trò
không thể thay thế trong việc biến một cá nhân từ một thực thể tự nhiên thành
con người xã hội. Nó góp phần quan trọng trong việc hình thành, phát triển và
hoàn thiện nhân cách của con người.
Xã hội hoá trẻ em được thực hiện bằng cách nào? khó có thể đưa ra
được câu trả lời một cách toàn diện giúp giải thích bản chất của quá trình này.
sự phân tích bốn yếu tố tâm lý: sự bắt chước, sự đồng nhất, lòng biết lỗi và lòng
xấu hổ giúp nhận diện quá trình xã hội hoá trẻ em rõ nét hơn.
Bắt chước là sự làm theo một cách có nhận thức của đứa trẻ. Trẻ sao
chép lại mẫu hành vi nhất định của bố mẹ và những người xung quanh.
Sự đồng nhất là phương pháp lĩnh hội hành vi cha mẹ của trẻ em,
những mục đích, giá trị như là của riêng mình. Trẻ em tiếp nhận những đặc
điểm nhân cách của bố mẹ và những người mà chúng gắn bóthân thiết.
Sự xấu hổ xảy ra khi trẻ có hành vi sai lệch bị mọi người bắt gặp và trẻ
có cảm giác việc làm của mình là sai trái
Lòng biết lỗi gắn liền với những dằn vặt nhưng ở đây nói về sự tự trừng
phạt về hành vi sai lệch của chính bản thân mình, không phụ thuộc vào người
khác. Cũng như sự bắt chước và sự đồng nhất, cảm giác xấu hổ và sự ăn năn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status