ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ YẾN
VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG GIÁO DỤC
GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO THẾ HỆ TRẺ
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học Hà Nội - 2014
Phi Yến là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Nếu sai tôi xin hoàn toàn
chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 2 tháng 10 năm 2014
Học viên
Phạm Thị Yến
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Triết học,
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã
giảng dạy, trang bị cho tôi những kiến thức trong những năm học qua, giúp
tôi nắm vững những vấn đề lý luận và phương pháp luận để hoàn thành luận
văn này.
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Thị Phi Yến đã nhiệt
tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong thời gian hoàn thành đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 2 tháng 10 năm 2014
Học viên
Phạm Thị Yến 1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
2.1 Thực trạng phát huy vai trò của gia đình trong việc giáo dục giá
trị đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ hiện nay. 63
2.1.1 Thực trạng gia đình Việt Nam và thanh thiếu niên - đối tượng
giáo dục đạo đức truyền thống trong gia đình Việt Nam hiện nay. 63
2.1.2 Thực trạng nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức truyền
thống cho thế hệ trẻ trong gia đình Việt Nam hiện nay 70
2.1.3 Những vấn đề đặt ra và nguyên nhân của nó 93
2.2 Giải pháp nâng cao vai trò giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
của gia đình đối với thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay 103
Kết luận chƣơng 2 112
KẾT LUẬN 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
PHỤ LỤC 123 3
DANH MỤC BẢNG
Biểu 2.1: Nội dung gia đình giáo dục giá trị truyền thống cho thế hệ trẻ: 72
Biểu 2.2: Quan niệm về chữ Hiếu 73
Biểu 2.3: Mức độ ảnh hưởng đến con cái của các vấn đề xã hội 76
Biểu 2.4: Phương pháp giáo dục: 77
Biểu 2.5: Những biện pháp xử lí khi con cái mắc lỗi 79
Biểu 2.6: Tỷ lệ thanh thiếu niên từng bị người trong gia đình gây thương tích 81
Biểu 2.7: Thái độ của trẻ khi gặp bạo lực gia đình 84
Biểu 2.8: Những khó khăn gia đình gặp phải trong quá trình giáo dục đạo
đức truyền thống cho con cái 84
5
gia đình, những kinh nghiệm ứng xử, những giá trị đạo đức truyền thống
của ông bà, cha mẹ trở thành căn cứ, thành tấm gương định hướng trong
giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ. Hướng dẫn những hành vi đạo đức nên
làm, được làm hay những điều cấm kỵ không được phép trong ứng xử qua
cách làm của người lớn, qua những câu chuyện cổ tích mẹ kể con nghe, qua
những bài học kinh nghiệm của thế hệ đi trước ngấm dần một cách tự nhiên
vào mỗi đứa trẻ và trở thành hành trang của chúng khi trường thành, giúp
chúng hòa nhập vào quan hệ xã hội dễ dàng hơn. Trong những hành trang
đạo đức mà trẻ được trang bị, có cả những giá trị đạo đức truyền thống mà
thành viên nào trong xã hội cũng có thể có, có thể hiểu, vì thế mà dễ dàng
chấp nhận. Rõ ràng yếu tố đạo đức truyền thống của gia đình có vai trò
quan trọng trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ - những
chủ nhân tương lai của đất nước. Tạo ra những người chủ đất nước có đạo
đức XHCN để xây dựng CNXH, trong đó có những giá trị đạo đức truyền
thống cần được bảo tồn, phát huy và những giá trị đạo đức mới mang tính
thời đại trước hết và quan trọng nhất vẫn là gia đình.
Trong tác phẩm “Emile hay là về giáo dục” của Rutxo có nói về vai
trò của gia đình: “Đứa trẻ được một người cha có óc phán đoán đúng đắn
song kiến thức hạn chế giáo dục sẽ tốt hơn là được ông thầy giỏi giang nhất
thế giới giáo dục, bởi nhiệt tình hăng hái bù cho tài năng tốt hơn là tài năng
bù cho nhiệt tình hăng hái” [94, tr 48]. “Không có bức tranh nào dễ thương
hơn bức tranh gia đình nhưng chỉ một nét hỏng khiến mọi nét khác đều xấu
xí, biến dạng” [94, tr 49]. “Một người cha khi sinh thành và nuôi dưỡng
con cái, chỉ mới thực hiện một phần nhiệm vụ mà thôi. Người cha ấy mắc
nợ giống loài những con người, xã hội những con người có tính hợp quần,
mắc nợ quốc gia những công dân. Bất kì người nào có thể trả ba món nợ
này mà không thực hiện đều có tội và có lẽ mắc tội lớn hơn nếu chỉ trả nửa
xa rời đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đã có rất nhiều nhà nghiên
cứu bàn về giáo dục đạo đức trong gia đình: Macarenco (1971) với Nói
chuyện về giáo dục gia đình, NXB Kim Đồng. Nội dung tác phẩm bàn về
giáo dục gia đình, tập trung vào vấn đề giáo dục con cái trong gia đình Xô
Viết hiện thời. Ông cho rằng, đối với con cái cần phải giáo dục ngay từ khi
chúng còn nhỏ. Giáo dục đó không phải là quá khó như mọi người vẫn
nghĩ, tất cả các bậc cha mẹ đều có thể làm được, hơn nữa đó còn là một
công việc lí thú, mang lại niềm vui và hạnh phúc.
Nguyễn Đình Xuân (1997): Giáo dục đời sống gia đình, NXB đại
học Quốc gia Hà Nội. Tác phẩm là một tài liệu hữu ích trong quá trình
giảng dạy và học tập của các thầy cô giáo và học sinh trong nhà trường.
Đồng thời nó còn là tài liệu cần thiết cho các bậc cha mẹ, các bạn nam nữ
thanh niên đang chuẩn bị bước vào cuộc sống gia đình. Nội dung chủ yếu
của tác phẩm là đi sâu nghiên cứu mọi khía cạnh trong đời sống gia đình:
giáo dục gia đình trong mối quan hệ cha mẹ-con cái, vợ-chồng Vai trò
của cha mẹ trong giáo dục con cái, phương pháp và cách thức dạy con nên
người, hôn nhân gia đình, giáo dục giới tính
Đức Minh (chủ biên): Khoa học giáo dục con em trong gia đình của
Ủy ban Thiếu niên nhi đồng Trung ương, xuất bản năm 1979. Cuốn sách
này đã giới thiệu một số quan điểm về giáo dục xã hội chủ nghĩa, nhấn
mạnh vai trò, đặc điểm của giáo dục gia đình, cung cấp những cơ sở lí luận,
những nội dung và yêu cầu của giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ.
Ở nước ta, nhiều nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu giá trị đạo đức
truyền thống trong xây dựng đời sống văn hóa (trong đó có đời sống đạo
đức) và con người Việt Nam thời đại mới như: “Giá trị tinh thần truyền
thống của dân tộc Việt Nam” của G.S.Trần Văn Giàu (Nxb Khoa học xã
hội, 1980), “Quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và đạo đức
8
trong đổi mới tư duy” của GS.TS Nguyễn Ngọc Long (Tạp chí Nghiên cứu
tạp chí triết học, số 7, năm 2003), bài viết đã nêu nên thực trạng việc giáo
dục con cái ở các gia đình Việt Nam hiện nay so với truyền thống đã có gì
đổi mới, có những khó khăn, thuận lợi gì?
Các công trình trên đây đều đề cập ở những mức độ khác nhau đến
vai trò của gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ. Cho đến nay
hầu hết các tác giả đều thừa nhận, dù việc gìn giữ và phát huy đạo đức
truyền thống là rất quan trọng, xong việc giáo dục đạo đức truyền thống ấy
đã làm đến đâu và đạt được những gì thì việc làm đó mới chỉ là kết quả bước
đầu, mới chỉ là phát hiện những vấn đề, còn trên những khía cạnh cụ thể cũng
cần có sự đầu tư hơn nữa để nghiên cứu mộ cách tổng thể, khoa học.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở khảo sát thực trạng, những yếu tố tác động đến giáo dục
đạo đức truyền thống với thế hệ trẻ nhằm chỉ ra vai trò của gia đình trong
việc giáo dục đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm rõ gia đình và vai trò của gia điình trong việc giáo dục
thế hệ trẻ.
Thứ hai, làm rõ giá trị đạo đức truyền thống của Việt Nam
Thứ ba, phân tích và làm rõ việc phát huy vai trò của gia đình trong
việc giáo dục thế hệ trẻ là một tất yếu.
Thứ tư, phân tích thực trạng việc phát huy vai trò của gia đình trong
giáo dục đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay.
10
Thứ năm, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của
gia đình trong việc giáo dục đạo đức truyền thống cho thế hệ trẻ Việt Nam
hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương và 4 tiết.
12
CHƢƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH
TRONG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO
THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Gia đình và vai trò của gia đình trong giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ
1.1.1 Khái niệm, kết cấu, cấu trúc, chức năng của gia đình
1.1.1.1 Khái niệm, đặc trưng
Có nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình, tuỳ theo góc độ nhìn
nhận của mỗi môn khoa học xã hội và nhân văn. Trong tác phẩm "Hệ tư
tưởng Đức" (1845), khi luận chứng về những tiền đề, điều kiện cho sự tồn
tại của con người, C.Mác và Ph.Ăngghen đã coi gia đình là một trong ba
mối quan hệ của con người đã được hình thành trong lịch sử nhân loại:
Quan hệ thứ nhất là giữa con người với tự nhiên; Quan hệ thứ hai là giữa
con người với con người trong quá trình sản xuất; và Quan hệ thứ ba là gia
đình. C. Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Hằng ngày tái tạo ra đời sống của
bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác sinh sôi nảy nở -
đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình”[71, tr
41]. Với quan điểm này, khái niệm gia đình được nhìn nhận với một số nội
dung sau: Thứ nhất, gia đình ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại
của xã hội loài người; con người cùng với quá trình tái tạo ra chính bản
tiên và suốt đời của con người. Gia đình là nhóm nhỏ được liên kết hôn
nhân theo quy luật xã hội trước tiên, sau đó mới là quy luật tính dục tự
nhiên, gia đình chỉ có ở con người và xã hội loài người.
Để nhận biết một gia đình có rất nhiều đặc trưng cơ bản, một trong
những đặc trưng quan trọng của gia đình chính là: Trong gia đình giữa các
thành viên gắn bó với nhau trên cơ sở văn hoá - bố mẹ có nhiệm vụ giáo
14
dục con cái thông qua nếp sinh hoạt, phong tục, tập quán để tạo ra những
con người hữu ích cho xã hội, phù hợp với thời đại. Mỗi gia đình có một
điều kiện, hoàn cảnh khác nhau vì vậy nội dung và phương pháp giáo dục
con cái của mỗi gia đình cũng mỗi khác. Có rất nhiều loại hình gia đình
trong xã hội, người ta có thể dựa vào đặc điểm, tính chất của mỗi gia đình
mà phân chia cho phù hợp: căn cứ vào thế hệ cùng chung sống với nhau,
căn cứ vào số con trong gia đình, căn cứ vào cơ cấu, tính chất tiến bộ,
thành phần giai cấp, nghề nghiệp hay căn cứ vào mức sống và sinh hoạt
1.1.1.2 Kết cấu, cấu trúc của gia đình
Kết cấu gia đình: Các mối quan hệ bên trong của gia đình, bao gồm quan
hệ giữa vợ - chồng, quan hệ giữa cha mẹ - con cái, quan hệ giữa anh - chị - em
và quan hệ giữa ông bà - con cháu.
Quan hệ giữa vợ - chồng
Văn hóa gia đình Việt Nam xây dựng trên nền tảng đạo lí thủy chung, tình
nghĩa. Trong xã hội cổ truyền Việt Nam, dù có ảnh hưởng Nho giáo “tòng
phu”, nhưng văn hóa gia đình Việt Nam vẫn là hòa thuận, bình đẳng theo quan
điểm “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”.
Quan hệ giữa cha mẹ - con cái
Văn hóa gia đình Việt Nam lấy “đạo hiếu” làm trọng. Vì thế, trong gia
đình truyền thống Việt Nam, con cái đối với cha mẹ phải kính trọng, vâng lời,
tu dưỡng đạo đức, làm nên sự nghiệp để báo hiếu, đền đáp công ơn dưỡng dục,
sinh thành. Việc phụng dưỡng cha mẹ là đạo lý mà con cái phải thực hiện
+ Gia đình hạt nhân: Gia đình chỉ có hai thế hệ cùng chung sống: cha mẹ và
con cái. Trong thời hiện đại, loại gia đình này chiếm ưu thế
+ Gia đình mở rộng: là gia đình có từ ba thế hệ trở lên: ông bà, cha mẹ, con
cái, cũng có thể là cha- mẹ- con cái có thêm chú- cô
Căn cứ vào số con, người ta phân ra làm hai loại: Gia đình nhỏ, gia
đình lớn
16
Căn cứ vào cơ cấu, người ta chia gia đình thành hai loại: Gia đình
đầy đủ, gia đình không đầy đủ
Căn cứ vào tính chất tiến bộ, người ta chia gia đình thành hai loại:
Gia đình tiên tiến, gia đình lạc hậu.
Căn cứ vào thành phần giai cấp hoặc nghề nghiệp của đôi vợ chồng
có thể chia ra thành: Gia đình công nhân, gia đình nông dân, gia đình trí
thức, gia đình quân nhân, gia đình thương nhân, gia đình quan chức Công
việc của cha mẹ quyết định đến thu nhập, kinh tế của gia đình, đồng thời
cũng có một phần tác động đến việc giáo dục đạo đức cho con cái. Điều
quan trọng hơn hết là nhận thức của cha mẹ trong việc giáo dục đạo đức
cho con và nội dung phương pháp giáo dục con cho phù hợp.
Căn cứ vào mức sống và sinh hoạt thì ta có 3 loại: Gia đình thượng
lưu giàu có, gia đình trung lưu sống sung túc đầy đủ và ổn định, gia đình hạ
lưu nghèo không đủ ăn đủ tiêu, cuộc sống vất vả bấp bênh Dựa trên thực
tế của gia đình Việt Nam hiện nay, ta có thể thấy được tác động to lớn của
vấn đề thu nhập, kinh tế gia đình đến việc giáo dục con cái. Lẽ đương
nhiên, một gia đình sung túc đầy đủ sẽ có điều kiện chăm lo cho con cái
một cách toàn diện, có những phương pháp giáo dục con phong phú. Gia
đình khó khăn về kinh tế thì cha mẹ luôn luôn phải lo lắng về cơm áo gạo
tiền, ít có thời gian quan tâm đến con cái hơn. Tuy nhiên ta phải thấy rằng
trong xã hội Việt Nam hiện nay không ít trường hợp những gia đình giàu
có, con cái có đầy đủ về vật chất nhưng lại luôn thiếu thốn tình cảm của cha
Chức năng này vừa là bản năng nhằm mục đích duy trì nòi giống, cung cấp
những công dân mới, bảo đảm sự phát triển liên tục và trường tồn của loài
người, mặt khác là biểu hiện cao nhất về tình cảm rất tự nhiên của cá nhân,
về sinh đẻ con cái. Việc sinh đẻ diễn ra trong từng gia đình nhưng lại quyết
định mật độ dân cư của mỗi quốc gia và quốc tế - một yếu tố vật chất cấu
18
thành của tồn tại xã hội. Vì mỗi gia đình là một tế bào cấu thành nên xã
hội, do đó tăng hay giảm thành viên trong gia đình đương nhiên dẫn đến sự
tăng hay giảm dân số của quốc gia và thế giới. Với mỗi giai đoạn phát triển
của quốc gia hay dân tộc, vấn đề dân số lại có nhu cầu tăng hay giảm khác
nhau. Do vậy, việc sinh đẻ sẽ phụ thuộc vào đó mà được khuyến khích hay
hạn chế về số lượng.
Ngày nay, khoa học sinh sản phát triển cao nhưng sinh sản tự nhiên
trong gia đình vẫn là ưu thế bởi đó là điều kiện cơ bản để bảo vệ nòi giống
người, là cơ sở, nền tảng cho mỗi người tham gia vào đời sống xã hội vì sự
phát triển.
* Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục.
Gia đình là nơi dưỡng dục về thể chất, tinh thần, hình thành nhân
cách cho mỗi con người trong xã hội. Từ trường học đầu tiên này, mỗi cá
nhân được những người thầy thân yêu là cha mẹ, ông bà giáo dục kiến
thức, kỹ năng sống để có thể thích ứng, hòa nhập vào đời sống cộng đồng.
Nêu gương là cách giáo dục tốt nhất trong gia đình ( Cha mẹ thương yêu
chân thành, tôn trọng, giúp đỡ nhau; cha mẹ, ông bà vừa yêu quý vừa
nghiêm khắc và bao dung với con cháu ), giữa gia đình với họ hàng, với
láng giềng, với cộng đồng ( trọng nhân nghĩa, làm điều thiện, sống chan
hòa, ghét thói gian tham, điều giả dối ), qua đó giúp con cháu tiếp thu một
cách tự nhiên, nhẹ nhàng những bài học cuộc đời nhưng lại tác động mạnh
mẽ đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách.
Đặc điểm chức năng nuôi dưỡng, giáo dục của gia đình Việt Nam
hình gia đình, những nhà nghèo khó vẫn cố gắng cho con học đến nơi đến
chốn: Người Việt xưa nay có truyền thống hiếu học, biểu hiện của truyền
thống hiếu học là thái độ luôn coi trọng sự học, coi trọng người có học. Ở
20
nước ta, tư tưởng coi đọc sách là thanh cao là quan niệm rất phổ biến đối
với các nhà Nho. Dĩ nhiên nếu thái quá sẽ trở nên tiêu cực. Việc đề cao giá
trị của trí tuệ, thái độ trân trọng việc học hành cũng là điều được dân gian
hết sức quan tâm:
“Kho vàng không bằng một nang chữ” (nang là túi đựng)
“Người không học như ngọc không mài”.
Nhà văn hóa Nguyễn Trãi đã chỉ ra rằng, sự học là nguồn cội của tất
thẩy những thành công dù đó là nghề gì, dù người ấy là ai: trong “bảo kính
cảnh giới”, bài 46:
“Nên thợ nên thầy vì có học
Có ăn có mặc bởi hay làm” [103, tr141]
Người xưa có câu: Phi trí bất hưng (Không có trí tuệ thì không hưng
thịnh - không phát triển bền vững). Chính vì vậy mà dù cho là trong gia
đình Việt thời xưa hay gia đình Việt ngày nay, các bậc làm cha làm mẹ
cũng mong muốn cho con mình ăn học được đến nơi đến chốn, mong con
học hành giỏi giang.
Người cha thường giáo dục bằng sự nghiêm khắc, người mẹ thường
giáo dục bằng sự nhân từ, "thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi"
"con hư tại mẹ, cháu hư tại bà". Đây chính là do ảnh hưởng của nho giáo
đến gia đình truyền thống Việt Nam. Người xưa dùng Tình, Nghĩa, Lễ để
xây dựng gia đình. Một gia đình nề nếp đòi hỏi một người gia trưởng quan
tâm đến gia đình, có trách nhiệm, gương mẫu, công minh và uy tín. Cả nhà
phải tỏ lòng kính trọng uy quyền của người cha trong gia đình, nhất là
người mẹ không bao giờ cãi chồng trước mặt con cái. Trong việc giáo dục
con cái, người cha phải nghiêm, nói ít nhưng đúng, công bằng và dứt khoát,
tình thương, uy quyền với bao dung và tha thứ. Phạm vi của giáo dục