BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
TRƯƠNG NGUYỄN KHANG VY
MÔ HÌNH QUỸ BẢO LÃNH TÍN DỤNG CHO DOANH
NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THEO BÀI HỌC KINH NGHIỆM THẾ GIỚI LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện. Tất cả những ý tưởng không
phải của tôi và những số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn với độ chính xác
cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi.
Luận văn này không nhất thiết phản ảnh quan điểm của Trường Đại Học Kinh Tế Thành
phố Hồ Chí Minh hoặc Chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright.
Tác giả luận văn Trương Nguyễn Khang Vy
ii
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến TS. Trần Thị Quế Giang, người
trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn này. Cô Giang đã có những góp
ý quý giá cho tôi để hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tập thể Giảng viên, nhân viên của Chương trình giảng dạy
kinh tế Fulbright đã nhiệt tình hướng dẫn, giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại
trường. Đặc biệt là các bạn học viên trong khóa học MPP5, cảm ơn các bạn đã cùng đồng
hành với tôi trong suốt quá trình học tập trong hai năm qua.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến với gia đình tôi, đặc biệt là người
chồng và đứa con thân yêu sắp chào đời, chính họ đã luôn bên cạnh cổ vũ và động viên tôi
để hoàn thành khóa học và luận văn thạc sĩ này.
Trân trọng cảm ơn
chọn được những phương án kinh doanh tốt, tránh hình thức bảo lãnh chỉ định từ đó có thể
giảm tỷ lệ thanh toán sau bảo lãnh cho các ngân hàng.
Từ khóa: Doanh nghiệp nhỏ và vừa, DNNVV, Quỹ bảo lãnh tín dụng
iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH vii
CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH 1
1.1. Bối cảnh chính sách 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3. Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.2.1. Cơ cấu tổ chức và quy mô hoạt động của HCGF 22
3.2.2. Vận hành hệ thống của HCGF 24
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 31
4.1. Kết luận 31
4.2. Khuyến nghị chính sách 32
4.3. Hạn chế của đề tài 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35 vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tên tiếng Việt
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
DN Doanh nghiệp
HCGF Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP.HCM
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
QBLTD Quỹ bảo lãnh tín dụng
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
TCTD Tổ chức tín dụng
UBND Ủy ban Nhân dân
Nam chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp (DN) trong cả nước, hằng năm tạo ra 45% đến
50% khối lượng hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, đóng góp 20% cho ngân sách nhà
nước, thu hút 56% số lao động
2
. TP.HCM là một trong những trung tâm kinh tế lớn của
Việt Nam và có số lượng DNNVV khá cao. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng
Tổng cục thống kê tính đến hết 31/12/2011 thì TP.HCM có 104.299 DN đang hoạt động
(trong tổng số 324.691 DN trên cả nước, chiếm tỷ lệ 32%) trong đó có 99.509 DNNVV
chiếm hơn 95% số lượng DN trên toàn địa bàn thành phố
3
. Cũng dựa trên số liệu theo điều
tra sơ bộ của Tổng cục thống kê tính đến 31/12/2012 cả nước có 377.128 DN đang hoạt
động, tỷ lệ DN của TP.HCM chiếm 32% với con số khoảng hơn 120.000 DN, trong đó
chiếm tỷ phần cao nhất vẫn là các DNNVV.
Số lượng nhiều và giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế nhưng đa số các DNNVV hiện
đang gặp phải nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mà cản trở lớn nhất
đến từ việc tiếp cận vốn vay chính thức từ các Tổ chức tín dụng (TCTD). Theo báo cáo
“Đặc điểm môi trường kinh doanh Việt Nam – Điều tra DNNVV 2011”
4
qua khảo sát
2.500 DN thì có 752 DN (31% số DN được khảo sát) gặp khó khăn tín dụng.
Nguyên nhân tại sao các TCTD, đặc biệt là các ngân hàng thương mại quan ngại trong việc
cấp tín dụng cho các DNNVV thường thấy gồm: không có hệ thống kế toán chi tiết rõ ràng
dẫn đến khó chứng minh được tình trạng tài chính thực của DN, không có kế hoạch cũng
như phương án kinh doanh hợp lý chứng minh nguồn tài chính trả nợ, năng lực điều hành
của chủ DN chưa thật sự chuyên nghiệp, chưa có phương án sản xuất kinh doanh khả thi và
hợp lý, thiếu tài sản thế chấp cho ngân hàng… Theo nghiên cứu của Green A (2003) các
ngân hàng thường từ chối cho các DNNVV vay vốn vì những lý do như sau:
Xét về mặt lý thuyết thì sự ra đời của QBLTD có thể giúp cho các DNNVV có thêm một
kênh tiếp cận với vốn vay từ phía các TCTD, nhất là các ngân hàng thương mại. Như mô tả
của bảng 1.1, tại TP.HCM, có thể thấy rằng tuy số bảo lãnh so với tổng nhu cầu vốn tín
dụng của các DNNVV khá khiêm tốn nhưng các DNNVV tại TP.HCM thông qua QBLTD
có thêm kênh tiếp cận vốn vay.
3
Bảng 1.1 Số bảo lãnh so với nhu cầu vốn tín dụng của các DNNVV
(Đơn vị: tỷ đồng)
2008
2009
2010
2011
2012
2013
(0) Tổng nhu cầu vốn
vay DNNVV của
TP.HCM
5
275,402 357,629 413,201 482,014
6
.
Điều này đặt ra vấn đề, trong khi tỷ lệ nợ quá hạn tại các ngân hàng phải được quy định ở
mức dưới 3% so với tổng hạn mức cấp tín dụng cho tất cả các khách hàng thì tỷ lệ nợ quá
hạn phát sinh từ các hợp đồng bảo lãnh hiện hữu tại QBLTD cho các DNNVV TP.HCM
(HCGF) đang ở mức quá cao với gần 20% so với tổng số dư bảo lãnh (tỷ lệ nợ quá hạn/ số
dư bảo lãnh). Nếu không có biện pháp quản lý rủi ro thích hợp và biện pháp xử lý nợ xấu
kịp thời thì ngân sách Nhà nước sẽ bị thất thoát để thanh toán cho những khoản nợ xấu
phát sinh từ các hợp đồng bảo lãnh tín dụng đã ký kết. 5
Võ Đức Toàn (2012)
6
Số liệu tính toán đến cuối năm 2013
4
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Những nguyên nhân nào làm cho con số nợ quá hạn của HCGF đang ở mức cao như vậy,
phải chăng nguyên nhân đến từ khó khăn chung của nền kinh tế làm cho các DNNVV
không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn hay nguyên nhân xảy ra do mô hình
QBLTD chưa có kinh nghiệm trong thẩm định trước khi ra quyết định bảo lãnh cũng như
quản lý các khoản cấp bảo lãnh sau khi đã giải ngân cho khách hàng, hay nguyên nhân đến
từ hệ thống tổ chức điều hành quản trị….
Thông qua việc tìm hiểu và so sánh mô hình bảo lãnh tín dụng hiện tại mà TP.HCM đang
vận hành với các mô hình QBLTD trên thế giới, luận văn mong muốn đưa đến những bài
học hữu ích cho việc xây dựng và quản lý mô hình QBLTD TP.HCM trong tương lai sao
cho vừa thực hiện được mục tiêu giúp cho các DNNVV tiếp cận vốn tín dụng vừa duy trì
được hoạt động hiệu quả không làm thất thoát vốn ngân sách Nhà nước.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
của QBLTD TP.HCM theo các tiêu chí, tổng kết mô hình của thế giới. Cuối cùng, Chương
4 đưa đến kết luận đồng thời đưa ra những giải pháp chính sách dựa trên những phân tích
tại Chương 3.
6
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
VỀ CÁC MÔ HÌNH QUỸ BẢO LÃNH TÍN DỤNG TRÊN THẾ GIỚI –
NHỮNG THÀNH CÔNG, THẤT BẠI CỦA MÔ HÌNH
2.1. Tổng quan các mô hình QBLTD trên thế giới
2.1.1. Sự ra đời của mô hình QBLTD
Theo tổng kết từ nghiên cứu vào năm 2013 của OECD thì mô hình bảo lãnh tín dụng ra đời
từ những năm đầu thế kỷ 20 nhưng chỉ phát triển mạnh mẽ trong vài thập niên gần đây tại
những quốc gia OECD và cả trong những quốc gia không thuộc OECD. Mô hình này được
tổ chức dưới hình thức Quỹ - Fund hoặc Công ty – Corporation/ Company…, nhìn chung
các mô hình này được những nhà hoạch định chính sách sử dụng làm công cụ để giúp các
DNNVV tiếp cận tín dụng và xa hơn là mở rộng thị trường tín dụng, phát triển thị trường
tài chính. Vì thế, các mô hình bảo lãnh cũng sẽ thực hiện chức năng làm cầu nối trung gian
thông qua hình thức bảo lãnh để khách hàng được vay vốn tại ngân hàng.
Nghiên cứu của Đại học kinh doanh Copenhagen đã đưa ra những bằng chứng được tổng
hợp từ nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới, cho thấy sự cần thiết ra đời của mô hình
bảo lãnh tín dụng dưới góc nhìn của kinh tế học. Stiglitz và Weiss (1981) đưa ra khung lý
thuyết chứng minh được hạn chế tín dụng là hệ quả của lựa chọn ngược và rủi ro đạo đức.
Một số tác giả khác (Mankiw, 1986; Gittell and Kaen, 2003; Craig et al., 2008; European
Commission, 2006) chỉ ra rằng Bất cân xứng thông tin là nguyên nhân cho sự hạn chế tín
dụng từ phía các ngân hàng. Một nghiên cứu khác của Huỳnh Thế Du, Nguyễn Minh Kiều,
Nguyễn Trọng Hoài (2005) cũng cho rằng bất cân xứng thông tin trong cấp tín dụng là vấn
đề mà các ngân hàng và nền kinh tế cần quan tâm xử lý nhằm tránh các ảnh hưởng tiêu cực
đến toàn bộ nền kinh tế.
Theo lý thuyết của kinh tế vi mô, Nhà nước sẽ can thiệp khi xảy ra thất bại thị trường.
giới được giám sát trực tiếp bởi Ngân hàng trung ương hoặc cơ quan chính phủ hoặc Bộ
trưởng bộ tài chính, sau đó mô hình này sẽ được tổ chức “từ trên xuống dưới”, từ Trung
ương đến địa phương theo cơ cấu quản lý chung bao gồm nhiều chi nhánh ở nhiều vùng
khác nhau trên khắp cả nước. Tùy thuộc vào đặc điểm môi trường kinh doanh ở địa
phương mà quy mô tổ chức của chi nhánh lớn hay nhỏ, số nhân viên nhiều hay ít, quy mô
tối ưu cho hoạt động của một QBLTD được xem xét trong khoảng 15 người bao gồm cả
ban lãnh đạo.
8
Theo báo cáo tổng kết của OECD nghiên cứu về các mô hình bảo lãnh tín dụng trên thế
giới
7
để một QBLTD có thể được vận hành tốt và duy trì ổn định cần hội tụ bảy yếu tố:
(1) Chia sẻ được rủi ro cho các bên: Mối quan hệ trong bảo lãnh tín dụng được phát
sinh khi có sự tham gia của ba bên chính, bên nhận bảo lãnh (các TCTD, thông
thường là các ngân hàng) – bên được bảo lãnh (các DNNVV) – Bên bảo lãnh
(QBLTD). Mô hình bảo lãnh tín dụng tốt cần được thiết kế để hạn chế và giảm
thiểu được rủi ro đạo đức trong quá trình cấp bảo lãnh. Theo tính toán và nghiên
cứu nhiều năm về bảo lãnh tín dụng của Levitsky (1997), tỷ lệ bao phủ cho việc
chia sẻ rủi ro nên được duy trì trong khoản 60% - 80% thì mới thuyết phục được
ngân hàng trong việc cho vay các DNNVV thông qua sử dụng hình thức bảo lãnh
tín dụng. Nếu tỷ lệ bao phủ cho khoản vay nhỏ hơn 50% sẽ làm giảm khả năng hợp
tác từ phía các ngân hàng trong quan hệ bảo lãnh vì lúc này ngân hàng cần phải gia
tăng chi phí giám sát khoản vay.
(2) Lệ phí bảo lãnh: lệ phí phải đủ để trang trải chi phí hoạt động của Quỹ nhưng đồng
thời không quá cao trở thành gánh nặng chi phí cho các DNNVV. Trên thực tế có
nhiều cách tính phí khác nhau như mà mỗi quốc gia dùng để tính phí khi phát hành
hạn mức bảo lãnh cho DN: căn cứ trên hạn mức tín dụng, căn cứ trên hạn mức cấp
bảo lãnh, căn cứ trên rủi ro khoản vay… Tỷ lệ tối ưu mà OECD đưa ra là trong
khoản 1% – 2%/năm trên giá trị khoản vay.
vay… nhằm mục đích đa dạng hóa rủi ro các khoản cấp bảo lãnh. Tuy nhiên muốn
sử dụng những công cụ kể trên thì đòi hỏi quốc gia phải có thị trường tài chính phát
triển khá mạnh và nguồn ngân sách dồi dào.
(6) Sự tham gia của khu vực công, khu vực tư nhân: Vai trò chính của khu vực nhà
nước trong việc thúc đẩy các chương trình bảo lãnh tín dụng là tạo ra môi trường
pháp lý phù hợp. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng vai trò của chính phủ nên được
giới hạn việc thiết lập các môi trường pháp lý phù hợp và góp phần hỗ trợ kỹ thuật
trong khoảng thời gian ngắn hạn, sau đó nên để cho mô hình bảo lãnh tín dụng hoạt
động một cách độc lập, mang tính “tự cung tự cấp”. Sự tham gia của khu vực tư
nhân, tiêu biểu là các TCTD vào mô hình bảo lãnh tín dụng làm tăng tính giám sát
và tăng mức độ trách nhiệm giữa bên nhận bảo lãnh và bên bảo lãnh, chia sẽ được
rủi ro cho bên bảo lãnh.
(7)
Khuôn khổ pháp lý và thể chế: để xây dựng nền tảng cho mô hình bảo lãnh tín dụng
thì cần được hỗ trợ từ phía khung pháp lý vững mạnh, thể chế chính trị minh bạch
hướng đến lợi ích toàn quốc gia, hệ thống ngân hàng, TCTD mang tính cạnh tranh
lành mạnh rõ ràng trong các hoạt động cấp tín dụng thì các mô hình bảo lãnh tín
dụng mới có thể phát triển và duy trì hoạt động mang tính bền vững. Một thế chế
10
minh bạch, môi trường mở, cạnh tranh lành mạnh, ngân hàng mang tính độc lập
cao, khuôn khổ pháp lý rõ ràng sẽ hỗ trợ cho các DNNVV sáng tạo và tăng trưởng,
từ đó hồ sơ cấp tín dụng từ phía ngân hàng cũng như bảo lãnh tín dụng từ phía
QBLTD cũng trở nên đáng tin cậy hơn, giảm chi phí giám sát, giảm rủi ro đạo đức.
b) Tiêu chí phân loại QBLTD
QBLTD được phân loại chủ yếu theo hình thức sở hữu, phổ biến nhất là hình thức Nhà
nước sở hữu hoàn toàn (sở hữu công). Hình thức này được tổ chức trực thuộc cơ quan
Chính phủ hoặc thuộc chính quyền Trung ương/ địa phương theo mô hình Nhà nước phân
cấp như tại hầu hết quốc gia Châu Á. Nếu như tại Malaysia, Ngân hàng Nhà nước chịu
tác đ
a) Môi trường kinh
Chính trị và kinh tế
có m
là động lực cho kinh tế
tăng trư
sẽ ảnh hưởng quan trọ
ng cho s
bảo lãnh thì cần có sự
liên k
hàng thương mại
, khi ngân hàng thúc đ
nhu cầu bả
o lãnh cho các DNNVV
QBLTD
do chính sách đi
kinh tế vĩ mô ổn đị
nh, tăng trư
được mở rộng dẫn đế
n các ho
khi nền kinh tế
rơi vào l
dụng, hoạt động của
QBLTD
quốc gia cần hiể
u rõ vai trò
trọng đến tín dụ
ng cho các DNNVV thì mô hình b
hoạt động trong việc th
tế chính trị
có m
ối quan hệ mật thiết với nhau, chính trị ổ
n đ
tăng trư
ởng phát triển và ngược lại. Thể chế
ng cho s
ự hình thành các chính sách kinh tế.
Đ
liên k
ết với các TCTD khác trong thị trườ
ng, đ
, khi ngân hàng thúc đ
ẩy hoạt động tăng trưở
ng tín d
o lãnh cho các DNNVV
. Các ngân hàng quố
c doanh thì s
do chính sách đi
ều hành nền kinh tế của Chính phủ. Bên c
ạ
nh, tăng trư
ởng kinh tế nhanh chóng thì hoạ
t đ
n các ho
ạt động bảo lãnh tín dụng cũng sẽ m
ở
rơi vào l
100% 100% 96% 67% 64% 60% 21%
ế
giới
ụ
ng
QBLTD
TD
u trúc cho QBLTD
, luận văn
n đ
ịnh sẽ là nền tảng và
và đường lối chính trị
Đ
ể thực hiện hoạt động
ng, đ
ặc biệt là các ngân
ng tín d
ụng thì mới phát sinh
c doanh thì s
ẽ dễ hợp tác hơn với
ạ
nh đó khi môi trường
t đ
ộng tín dụng cũng sẽ
ở
rộng theo. Ngược lại
n vi
ệc cấp bảo lãnh tín
DN, bao nhiêu phần trăm trong nguồn vốn là vốn tự có sẽ cho thấy khả năng tài chính của
DN đó, bên cạnh đó các chỉ số liên quan đến khả năng thanh toán nợ, tính thanh khoản của
các tài sản, khối lượng vốn lưu động đang lưu thông trong DN, ngoài ra DN cần có hệ
thống tài chính kế toán tốt rõ ràng đáng tin cậy… Năng lực sản xuất kinh doanh thể hiện
qua quá trình tạo nên sản phẩm hoặc thông qua phương án đầu tư, quy mô hoạt động, lĩnh
vực hoạt động, khả năng chịu ảnh hưởng từ môi trường của ngành nghề kinh doanh, khả
năng tạo ra lợi nhuận so với các ngành nghề khác, tiềm lực thị trường trong tương lai.
Năng lực quản lý của chủ DN là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nên thành
công trong kinh doanh của DN đó, trình độ quản lý của chủ DN là nhân tố cần thiết khi
thẩm định khoản vay thể hiện qua hệ thống tài chính rõ ràng, phương án đầu tư kinh doanh
mang tính khả thi cao. Khi năng lực của bản thân DNNVV tốt thì quá trình thẩm định hồ
sơ vay, hồ sơ bảo lãnh tín dụng cũng trở nên nhanh chóng thuận lợi hơn cho các TCTD
cũng như QBLTD. Khả năng chứng minh năng lực của DN tốt làm cho hồ sơ tín dụng của
DN trở nên uy tín hơn, giảm thiểu rủi ro cho hoạt động cấp bảo lãnh.
e) Năng lực của bản thân các ngân hàng, TCTD trong cho vay
13
Quan hệ bảo lãnh tín dụng thông qua QBLTD chỉ phát sinh khi có sự tham gia cấp vốn vay
từ phía các ngân hàng hay các TCTD, vì thế sự phát triển của các ngân hàng cũng ảnh
hưởng rất lớn đến hoạt động của QBLTD. Khi năng lực tài chính của ngân hàng đảm bảo
được khả năng cấp tín dụng cho khách hàng thì hoạt động của QBLTD mới được mở rộng
và phát huy vai trò bảo lãnh. Song song đó ngân hàng còn phải vững vàng trong thẩm định
hồ sơ vay của khách hàng nhằm loại bỏ những hồ sơ xấu và cấp tín dụng cho những hồ sơ
tốt, thực sự cần vốn sản xuất kinh doanh. Điều này đòi hỏi nhân viên ngân hàng phải có
kinh nghiệm trong việc ra quyết định vay vốn cho các DNNVV, khả năng giám sát quản lý
rủi ro sau giải ngân. Thủ tục vay vốn tại các ngân hàng cũng nên tinh giảm, gọn nhẹ không
làm tốn thời gian và chi phí giao dịch cho khách hàng. Quan trọng hơn là quy trình phối
hợp với QBLTD cần minh bạch, tuân thủ theo hợp đồng chung, phối hợp thường xuyên
trong giám sát thông tin khách hàng nhằm tránh thiệt hại cho cả hai bên, đặc biệt gây thiệt
hại cho bên bảo lãnh.
thức dưới đây:
Tổng số dư bảo lãnh
GDP
b) Vai trò của QBLTD đối với DN được nhận hạn mức bảo lãnh
10
Gia tăng tác động tài chính - Financial additionality: mô hình bảo lãnh tín dụng khi cấp hạn
mức bảo lãnh phải có tác động trong gia tăng vốn cho các DNNVV. Điều này có nghĩa là
khi DN tiếp cận được thêm nguồn tín dụng thông qua hình thức bảo lãnh tín dụng sẽ dùng
nguồn vốn đó mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. DN ngày càng mở rộng nguồn vốn
kinh doanh thì chứng tỏ mô hình bảo lãnh tín dụng đã phát huy được hiệu quả và thực hiện
đúng chức năng làm cầu nối trung gian trong hoạt động cấp tín dụng giữa TCTD và DN.
Gia tăng tác động kinh tế - Economic additionality: nhân tố thứ ba này cũng tương tự như
nhân tố tác động tài chính, gia tăng tác động kinh tế đến cho DN nói chung được xem xét
thông qua việc tăng doanh thu bán hàng, tăng khối lượng hàng hóa sản xuất, tăng số lao
động trong DN kể từ khi sau khi nhận được nguồn tín dụng được cấp bảo lãnh.
c) Khả năng tự duy trì và kiểm soát các hoạt động của QBLTD
Cơ cấu nguồn vốn hình thành nên QBLTD đóng vai trò quan trọng cho các hoạt động của
Quỹ, nguồn vốn vững chắc mới đảm bảo cho sự hoạt động liên tục của QBLTD. Cơ cấu
nguồn vốn có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau tùy vào hình thức sở hữu của Quỹ như đã
phân tích ở trên nhưng vững mạnh nhất và đảm bảo nhất vẫn là cơ cấu vốn được đóng góp
từ Chính phủ (khu vực công) nhằm thực hiện mục tiêu chung của QBLTD là gia tăng cơ
hội tiếp cận vốn tín dụng cho các DNNVV thực sự cần vốn để mở rộng sản xuất kinh
doanh. Tuy nhiên muốn đạt được mục tiêu đề ra thì bản thân QBLTD cần xây dựng hệ
thống kiểm soát, giám sát chặt chẽ, mang tính linh động phù hợp với tình hình thực tế.
Đầu tiên, bản thân QBLTD phải trang trải được các chi phí phát sinh trong nội bộ thể hiện
qua tính vững bền tài chính - Financial sustainability
11
: QBLTD tự bản thân trang trải được
hình thực tế như cách mà Công ty bảo lãnh tín dụng Malaysia đã làm trong thời gian qua:
thu phí dựa trên rủi ro của khách hàng thông qua phương pháp định giá điều chỉnh rủi ro.
Rủi ro của khách hàng lúc này được lượng giá trở thành chi phí. DN có rủi ro thấp sẽ có
nhiều điều kiện ưu đãi trong phê duyệt hồ sơ tín dụng cũng như thu phí bảo lãnh hơn so với
DN có rủi ro cao. 11
Cowling (2010)
16
2.2.2. Những thất bại và hạn chế của QBLTD
Nhóm tác giả Meyer và Nagarajan (1996) chỉ ra rằng mô hình bảo lãnh tín dụng không có
sự đóng góp vào sự phát triển quốc gia, Adams và Llisterri (1997) cung cấp thêm thông tin
rằng mô hình này tốn kém ngân sách hoạt động do tỷ lệ thanh toán duy trì ở mức cao
12
.
Theo công trình nghiên cứu của Bank for International Settlements (BIS), thất bại và hạn
chế của QBLTD đến từ những lý do:
a) Quản lý rủi ro nội bộ
Yếu tố quản lý rủi ro trong nội bộ QBLTD được xem là thất bại đầu tiên khi hệ thống vận
hành, nhất là đối với các Quỹ mới trong giai đoạn đầu thành lập đi vào hoạt động. Thất bại
này được xem xét dưới khía cạnh khi Quỹ chưa có hệ thống quản lý rủi ro tín dụng cũng
như xếp hạn tín dụng riêng cho các DN nhận hạn mức cấp bảo lãnh nên hồ sơ trước và sau
giải ngân chưa được kiểm soát chặt chẽ và chưa sàng lọc được DN mang tính rủi ro cao để
theo dõi, dẫn đến DN không thanh toán được các khoản nợ đến hạn cho ngân hàng và
QBLTD phải trích nguồn vốn chi trả cho các khoản nợ xấu kể trên. Rủi ro nội bộ còn đến
từ cơ cấu nguồn vốn chưa thực sự bền vững làm cho Quỹ mất khả năng thanh toán các
khoản nợ đến hạn thay cho DN.
Minh họa cho phân tích trên là trường hợp của Công ty bảo lãnh tín dụng Asia, vì mới